Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ
     Các chuyên mục 

Tin tức - Sự kiện
» Tin quốc tế
» Tin Việt Nam
» Cộng đồng VN hải ngoại
» Cộng đồng VN tại Canada
» Khu phố VN Montréal
» Kinh tế Tài chánh
» Y Khoa, Sinh lý, Dinh Dưỡng
» Canh nông
» Thể thao - Võ thuật
» Rao vặt - Việc làm

Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca
» Cần mời nhiều thương gia VN từ khắp hoàn cầu để phát triễn khu phố VN Montréal

Bản sắc Việt
» Lịch sử - Văn hóa
» Kết bạn, tìm người
» Phụ Nữ, Thẩm Mỹ, Gia Chánh
» Cải thiện dân tộc
» Phong trào Thịnh Vượng, Kinh Doanh
» Du Lịch, Thắng Cảnh
» Du học, Di trú Canada,USA...
» Cứu trợ nhân đạo
» Gỡ rối tơ lòng
» Chat

Văn hóa - Giải trí
» Thơ & Ngâm Thơ
» Nhạc
» Truyện ngắn
» Học Anh Văn phương pháp mới Tân Văn
» TV VN và thế giới
» Tự học khiêu vũ bằng video
» Giáo dục

Khoa học kỹ thuật
» Website VN trên thế giói

Góc thư giãn
» Chuyện vui
» Chuyện lạ bốn phương
» Tử vi - Huyền Bí

Web links

Vietnam News in English
» Tự điển Dictionary
» OREC- Tố Chức Các Quốc Gia Xuất Cảng Gạo

Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng

Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP



     Xem bài theo ngày 
Tháng Sáu 2026
T2T3T4T5T6T7CN
1 2 3 4 5 6 7
8 9 10 11 12 13 14
15 16 17 18 19 20 21
22 23 24 25 26 27 28
29 30          
   

     Thống kê website 
 Trực tuyến: 8
 Lượt truy cập: 29446981

 
Khoa học kỹ thuật 29.06.2026 16:09
Tội ác CSVN và CS Quốc Tế
17.04.2015 01:09

Làm gì để hóa giải hận thù ngày 30/04?

Gửi tới BBC từ Quebec, Canada

Ngày 30-4, ngày nếu có một triệu người vui, cũng là ngày có một triệu người buồn.

Câu nói trong quá khứ của ông Võ Văn Kiệt, nguyên Thủ tướng chủ trương chính sách Đổi Mới, được lập đi nhắc lại nhưng liệu có còn chính xác với tình thế hiện tại của đất nước?

Ông Võ Văn Kiệt (bìa phải) đã có những phát biểu gây xúc động về ngày 30/04


Ngày nay, kinh tế tụt hậu, hàng xuất là lao động giá bèo, cái đinh vít cũng không làm được mà nhập hàng ngoại tuốt tuột, nợ chồng chất. Rồi tham nhũng lên đỉnh cao, đạo đức xã hội xuống cấp, bạo hành từ nơi công quyền đến lề đường xó chợ, dân oan mất nhà mất đất vẫn chỉ biết kêu thất thanh trên khắp ba miền, và nhất là hiểm họa mất biển mất đất vào tay những 'đồng chí đàn anh' phương Bắc ngày một trầm trọng.

Nên nếu có một triệu người vui, số người buồn chí ít cũng phải vài chục triệu. Thế nhưng guồng máy quyền bính đương thời đang chuẩn bị các loại lễ hội, xây dựng một lô tượng đài, chắc hẳn những từ ngữ như chiến thắng, giải phóng...sẽ lại phô trương đến bị bào mòn để lẩn vào vô thức một dân tộc mà sự phân hóa có khả năng trở thành phân liệt chia rẽ dài hạn.

Trong trường hợp này, người Việt chúng ta không tập hợp được nội lực dân tộc lẽ ra phải có, đất nước tụt hậu dài dài, chủ quyền bị gậm nhấm rồi và chẳng thế nào tránh được thân phận nô thuộc ngoại bang.

Ngày 30-04-1975 là ngày kết thúc một cuộc chiến tranh, có người gọi là chiến tranh giải phóng, người cho là chiến tranh ủy nhiệm của hai khối Tư Bản và Cộng Sản đối đầu trong thời Chiến Tranh lạnh...

Dù gì, khí giới là khí giới Nga, Tàu, Mỹ...và xác người, xác Việt Nam mà con số tử trận và thương vong lên đến cả chục triệu. Năm nay, năm 2015.

Sau 40 năm hò reo chiến thắng và vinh quang, lẽ ra những người đang nắm quyền lực phải nghĩ, dẫu muộn, đến vấn đề hóa giải hận thù trong lòng người Việt Nam trong nước cũng như ở hải ngoại.

Ngược dòng lịch sử nước ta, ngay sau khi chiến thắng quân Nguyên xâm lăng hơn 600 năm trước, Vua Trần Nhân Tông, một minh quân kiệt xuất, đã đốt hết thư tịch làm bằng chứng tố cáo đám người theo giặc, tránh trả thù , không truy bức để yên lòng dân.

Trong cuộc nội chiến Nam-Bắc ở Mỹ, điều kiện đầu hàng mà tướng Grant phía Bắc- quân (UNI0N) viết cho tướng Lee phía Nam-quân (Confederate) ghi rõ chỉ tịch thu khí giới, cho phép binh lính Nam-quân về làm ăn sinh sống bình thường trong đời sống dân sự.

Nhưng năm 75, chính quyền gọi là chính quyền Cách Mạng, tiếp tục dùng chữ ngụy-quân, ngụy-quyền để chỉ những người thua trận, và sau đưa ra chính sách học tập cải tạo mà mục đích là cầm tù hành hạ họ, ra oai để yên dân bằng sự sợ.

Chính sợ hãi là yếu tố khiến hàng trăm ngàn thuyền nhân liều mạng phiêu lưu trên biển cả, đánh cược mạng sống của mình và gia đình, hậu quả là số bỏ mạng lên tới trên dưới 500 ngàn người.

Đào sâu, đục rộng sự phân hóa nhưng leo lẻo chuyện hoà hợp hòa giải dân tộc chỉ là mảnh vải thưa, làm sao che mắt ai trong thời buổi thông tin bừng nở của thiên niên kỷ này.

Hóa giải hận thù, điều kiện cần

Trong hầu hết mọi tôn giáo - ở nước ta chủ yếu là Phật Giáo và Thiên Chúa Giáo - hận thù là cái phải cởi, không nên buộc. Hoá giải hận thù là điều kiện cần khiến hòa giải mới có khả năng thành hiện thực.

Hòa giải giữa nạn nhân và những kẻ tác nghiệp chỉ khả thi khi những bên đối tác cùng có tâm thế nhân ái bao dung, đồng thời tôn trọng sự thật, công lý, và cố gắng xua đi những bồng bột cảm tính.

Nếu hai bên có tinh thần đối thoại, lắng nghe và tìm hiểu lý lẽ chứ không khăng khăng xác quyết chân lý của riêng mình, sự tháo gỡ hoặc giảm thiểu tính đối đầu ăn thua có khả năng hiện thực, và từ đó một lộ trình hòa giải mới có thể thành hình.

Sau ngày một phía gọi là ngày mất nước, phía bên kia gọi là ngày Giải phóng, chính sách Học tập Cải tạo (HTCT) đã đưa vào cảnh tù tội khổ sai cả trăm nghìn người.

Nạn nhân là người trong guồng máy chính quyền Việt Nam Cộng hòa, các quân nhân, trí thức văn nghệ sĩ... bị tập trung và giam giữ trung bình từ 2,3 cho đến 12, 13 năm.

Những nạn nhân đó có quyền đặt một số vấn đề, chẳng hạn Học tập Cải tạo do đâu nếu không đơn thuần là trả thù; thời hạn giam giữ dài ngắn là vì sao, có hợp lý hợp tình không; và những hậu quả liên quan đến bản thân (bệnh tật) và gia đình họ (chia ly, phân tán...) phải được bù đắp bồi hoàn thế nào?

Về phía tác nghiệp, lẽ tất nhiên họ phải nhận trách nhiệm và trả đáp những câu hỏi trên. Trách nhiệm cao nhất là trách nhiệm chính trị thuộc về những người làm ra chính sách, sau mới đến trách nhiệm những người điều hành ở các cấp trung, cao.

Kèm vào tác động khủng bố tâm lý của chính sách Học tập Cải tạo, chiến tranh với Campuchia và sau là chiến tranh biên giới với Trung Quốc, kẻ 'dạy Việt Nam một bài học', sự hoảng sợ lan rộng trong nhiều tầng lớp nhân dân, nhất là ở thành thị ngày một ngột ngạt vì không còn được sinh hoạt tự do như trước đây.

Đồng thời, phong trào đánh tư sản mại bản và hai lần đổi tiền khiến nhiều người mất hết cơ nghiệp. Dẫu biết đầy bất trắc hiểm nguy đến tính mạng, họ đánh liều vượt biển nhân dịp người gốc Hoa 'được' ra đi chính thức hoặc bán chính thức.

Thảm kịch thuyền nhân, với những con thuyền đuôi tôm hai blốc đầy ắp người lênh đênh tìm đường sang Phi, Mã Lai, Thái Lan, Nam Dương...chết chìm trong lòng Thái Bình Dương là một vết nhơ cho chính quyền đã không giữ nổi con dân trên xứ sở của mình mà lại còn xua đuổi và nhân cơ hội cướp trắng.

Ban đầu, giá chính thức cho một đầu người là 16 cây vàng. Sau, vàng cạn, giá tuột xuống 12, rồi 8, 6 và cho đến giữa thập niên 80 thì chỉ còn 2 cây, số cây tỉ lệ nghịch với độ rủi ro phải chấp nhận. Theo những ước lượng của Liên Hiệp Quốc, số người chết trên biển khoàng bốn trăm ngàn đến năm trăm ngàn người.

Đã thế, khi những người tị nạn - nay là người gốc Việt sinh sống ờ hải ngoại - dựng tượng tưởng niệm nạn nhân vượt biển trên những hòn đảo ở Mã Lai, Nam Dương... những kẻ nắm quyền ở Việt Nam làm áp lực lên chính quyền các nước ASEAN nói trên yêu cầu triệt hạ những bức tượng đó.

Đồng thời, họ leo lẻo 'Việt kiều là khúc ruột ngàn dặm', và mới đây vài năm ra Nghị quyết 36 kêu gọi lòng yêu nước, hô hào góp tay xây dựng quê hương qua điều vốn đầu tư, và cả, dĩ nhiên, qua cả cách gửi tiền về giúp bà con, hiện lượng tiền gửi về nay trên dưới 10 tỷ USD mỗi năm.

Nạn nhân của chính sách 'thu vàng đuổi người' nếu đã chôn thây dưới đáy biển thì vẫn còn những người thân trong gia đình họ. Như chứng nhân, hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp, họ có quyền hỏi đâu là công lý, tại sao có cái chính sách đó, và toàn thể nhân dân có lý do thắc mắc số vàng thu được đi đâu, vào tay ai, được xử dụng như thế nào cho đất nước.

Công khai bạch hóa những vấn đề này là một bước không nhỏ góp phần vào triển vọng ổn định lòng người.

Biểu hiện tinh thần hóa giải hận thù nhân ngày 30-04 lần thứ 40:

Nếu thực sự chính quyền đương nhiệm không chỉ đề cập đến bốn chữ Hòa Hợp Hòa Giải như một chiêu bài 'đánh bùn sang ao', ồn ào rỗng tuếch, thì hy vọng họ sẽ gọi ngày 30-4 là Ngày Hóa Giải Hận Thù.

Và trong tương lai họ cần cho dựng ở những địa phương từ Bắc chí Nam :

1- Tượng đài Thương Tiếc những người lính hy sinh trong chiến tranh, không phân biệt Bắc - Nam, Quốc- Cộng.

2- Tượng đài Ghi Ơn mẹ Việt Nam, không cần thêm chữ anh hùng, chữ được hiểu là mẹ những người hy sinh cho chế độ độc trị hiện hành.

3- Đàn Giải Oan cho những nạn nhân bỏ mạng trên biển cũng như đất liền ở mọi nơi.

Đề nghị thế, nhưng trước mặt chúng ta chẳng hy vọng gì vào chính quyền đương nhiệm.

Theo thiển ý, 22 tổ chức Xã hội dân sự độc lập hiện đang hoạt động trong nước có thể cổ vũ ý kiến nêu trên, thậm chí dựng tượng đài một cách tượng trưng, không cần 'hoành tráng', cái chính là trong lòng dân.

Mặt khác, vào ngày 30-4, chúng ta có thể vận động người ra đường với áo kẻ chữ hai chữ Hóa Giải, hoặc Ghi ơn Mẹ Việt Nam, hoặc Thương Tiếc Các Anh, như thông điệp gửi đến toàn thể đồng bào.

Hội Đồng Hòa Giải Dân Tộc

Trên thế giới, sau những cuộc đổi đời trong những quốc gia từng có những bất công, bạo hành, và những vi phạm quyền con người...thì nhiều nước đã thành lập những Hội đồng hòa giải dân tộc (Commission for National Reconciliation, hoặc Commission for Truth and Reconciliation).

Có thể kể Nam Phi khi Mandela lên nắm chính quyền, Pakistan dưới thời Musharraf, rồi Palestine, Liberia, Algeria...và ở Á châu có Đông Timor sau khi ly khai khỏi Indonesia.

Mỗi quốc gia, vấn đề một khác. Nơi thì chủ yếu khác biệt sắc tộc, nơi khác biệt tôn giáo... đã là nguồn gốc của hận thù và sự phân liệt cần được hóa giải.

Theo tinh thần chủ đạo là Hòa Giải dân tộc nên, như một hệ luận, phương thức tiến hành của Hội Đồng tóm gọn là:

1/ Tìm hiểu sự thật lịch sử, xác minh ai tác nghiệp (gọi là tác nhân), và dựa trên sự xâm phạm quyền con người, ai là nạn nhân, ai là chứng nhân. Hội Đồng có trách vụ tạo điều kiện cho họ đối thoại, giải trình, biện minh và đả thông mọi mâu thuẫn, vướng mắc...

2/ Yêu cầu nói trên phải thực hiện với tiêu chuẩn thông tin công khai, minh bạch của mọi tác nhân, nạn nhân, và chứng nhân trước công luận.

3/Hội đồng có ý kiến về vấn đề qui trách nhiệm cho những tác nhân. Cần phân biệt a- Trách nhiệm chính trị (là trách nhiệm hoạch định chính sách); b- Trách nhiệm điều hành chính sách cấp cao và trung; và c- Trách nhiệm dân sự.

Chỉ một Hội Đồng Hòa Giải ở cấp quốc gia mới thực sự hoàn thành công cuộc hóa giải oán thù

4/Trong một số quốc gia, Hội Đồng có thẩm quyền điều tra những lũng đoạn kinh tế, thất thoát kinh tế, tham nhũng, hối lộ cửa quyền... và đề đạt lên cơ quan có thẩm quyền thuộc ngành Tư Pháp những mức độ xử lý, từ ân xá đến yêu cầu truy tố, và tùy trường hợp cụ thể, qua Toà án quốc gia hay Tòa án quốc tế.

và từng bước đi đến mục tiêu hòa giải dân tộc.

Con đường không ngắn, nhưng cũng không buộc là dài. Và trong bất cứ trường hợp dài ngắn thế nào đi chăng nữa, chúng ta rồi thì cũng sẽ đối mặt với nhiệm vụ này như một nhiệm vụ lịch sử.

Hy vọng từ đó chúng ta sẽ không dẵm lên những lối mòn đầy tai ương, để thẳng tiến trên con đường đến tương lai mà không bị xảo ngôn của những lý thuyết huyễn hão sập bẫy như từ bao nhiêu năm nay.

Để tạm kết, xin chép lại bốn câu thơ của Cao Tần:

Nếu mai mốt có đổi đời phen nữa

Ta đi về ta cứu lấy quê hương

Ta sẽ mở ra nghìn lò cải tạo

Lùa cả nước vào học tập yêu thương.

Và thành tâm mong sao các vị 'lo trước cái lo của thiên hạ', các chuyên gia, trí thức trong những ngành như Triết, Sử, Luật...và tất cả những Tổ chức Dân Sự Độc Lập góp tay vào sửa soạn nhằm thực hiện những đề đạt trình bày trong bài viết này.

Tất cả, vì con em, và cho con em chúng ta. Có thế, ta mới 'vui sau cái vui của thiên hạ' được.

TRƯỜNG XUÂN - TRƯỜNG XUÂN


Giao Chỉ - San Jose
 
(Lời mời: Xin nhắc quý bạn tại Miền Nam California tới dự chương trình ra mắt sách của chúng tôi tại Việt Báo. Nên tới sớm từ 12 giờ trưa để anh em uống rượu và nhận sách trước 12 giờ trưa Thứ Bảy 18-4-2015 ở hội trường Việt Báo. Chúng tôi xin đón chào các bạn. Giao Chỉ San Jose) 
***
Tàu Trường Xuân.

Tháng 4 năm 1975-Saigon / “ Một con tàu ngơ ngác ra khơi ” (Nam Lộc) / Một thuyền trưởng tuyệt vọng / Gần 4 ngàn hành khách của định mệnh / Cuộc hành trình không bờ bến / Vỏn vẹn 3 ngày hải hành trôi nổi / Hai người tự tử thủy táng / Hai đứa trẻ ra đời / Con tàu kéo Song An, cứu tinh số 1 / Thương thuyền nhân đạo Đan Mạch, cứu tinh số 2 / Sau cùng, tàu Trường Xuân không chìm được kéo về Hồng Kông với thi hài của người khách cuối cùng: Đại tá Wong A Sáng, sư đoàn 5 bộ binh / Câu chuyện 40 năm trước được kể lại vào dịp ghi dấu 40 năm sau (1975-2015 ). / Và giới thiệu người con gái của biển Đông: Chiêu Anh. (Shining Light).Chuyện này tôi kể đi kể lại. 10 năm trước. 5 năm trước và bây giờ. Trăm năm sau biết ai còn kể lại...
* * *
Có con tầu nằm trên bến đỗ...
Ngày xưa tại Việt Nam gần như chỉ có 1 hãng thương thuyền hàng hải lớn nhất là Vishipcoline của chủ nhân Trần đình Trường. Ông Trường là nhà tư bản có nhiều tài sản và hotel tại Nữu Ước. Ông qua đời và dường như sắp giỗ lần thứ ba...

Thuyền trưởng Phạm Ngọc Lũy.


Một trong các thương thuyền của hãng là tàu Trường Xuân, vị thuyền trưởng lúc đó là ông Phạm Ngọc Lũy. Ông Lũy sinh quán tại Nam Định, ra đời năm 1919. Vào tháng 5-1975 thuyền trưởng Phạm Ngọc Lũy đã có 30 năm kinh nghiệm hàng hải.
Ngày 26 tháng 4 năm 1975, Trường Xuân đã xuống hàng hoàn tất chuẩn bị chở sắt vụn đi Manila. Một chuyến đi vô thưởng vô phạt. Thuyền trưởng Phạm Ngọc Lũy lúc đó 56 tuổi, Bắc kỳ di cư, quyết không ở lại sống với cộng sản. Ông tìm đường ra đi bằng mọi giá. Ông ước mong dùng được Trường Xuân chở đồng bào tỵ nạn. Trên đống sắt vụn của Trường Xuân lần này phải là sinh mệnh của những con người. Ông cần có thủy thủ đoàn và ông cần cả hành khách. Trải qua bao nhiêu là gian nan phức tạp vào tuần lễ cuối cùng của cái tháng 4 đen oan nghiệt. Sau cùng tới 29 tháng 4-1975 thuyền trưởng Phạm Ngọc Lũy viết lên tàu hàng chữ định mệnh. Tàu Trường Xuân khởi hành 12 giờ trưa 30/4/75.
Thông thường thủy thủ đoàn gần 30 người nhưng ông chỉ có vỏn vẹn 5 người. Có lẽ ông cần chừng 300 hay 400 hành khách, nhưng chưa có người nào. Con tàu Trường Xuân ngủ yên trên bến Saigon giữa đêm 29 rạng ngày 30 tháng 4-1975.

Saigon hấp hối
Tại Saigon mặt trận Long Khánh đã tan vỡ, tất cả 3 quân khu đều nằm trong tay giặc. Chỉ còn miền tây vẫn yên tĩnh. Sáu sư đoàn cộng quân 3 mặt tiến về Saigon. Các đơn vị pháo của Bắc quân đã chuẩn bị trận địa pháo vào thủ đô. Các tiền sát viên chỉ điểm cộng sản đã có mặt tại các vị trí quân sự.
Phi cơ trực thăng Hoa Kỳ đang bay di tản những phi vụ cuối cùng. Nội các mới của Việt Nam Cộng Hòa họp bàn về việc bỏ súng và bàn giao. Đài phát thanh Saigon chuẩn bị đọc những lời tuyên bố đau thương của tổng thống Dương văn Minh gửi người anh em phía bên kia, xin mời vào nói chuyện. Thủ tướng Vũ văn Mẫu kêu gọi người anh em đồng minh Hoa Kỳ phía bên này, xin vui lòng ra đi.
Giữa mùa hè chói chang, radio của quân đội Hoa Kỳ chơi bài Tuyết Trắng, một ám hiệu kêu gọi ra đi lúc trái gió trở trời. Đài quân đội Việt Nam Cộng Hòa hát nhạc quân hành trong tuyệt vọng. Đó là Saigon của đêm 29 rạng ngày 30 tháng 4-1975. Con tầu Trường Xuân bụng đầy sắt vụn vẫn nằm ngủ yên trên bến sông Khánh Hội. Lửa bắt đầu bốc cháy bên kho đạn Thành Tuy Hạ.

Cô gái thuyền nhân trong bụng mẹ
Cũng vào cái tuần lễ sau cùng của tháng 4 nghiệt ngã đó, có bà sản phụ vào nhà thương ngày 27/4/1975 để chuẩn bị sanh đứa con thứ hai. Bà dược sĩ trẻ tuổi có mang 9 tháng 10 ngày. Đứa bé sẽ ra đời bất cứ lúc nào. Bây giờ tính sao đây. Xin mổ để sanh sớm rồi chạy, hay là tìm đường chạy rồi muốn ra sao thì ra. Chợt có được giấy phép di tản bèn bỏ nhà thương vào tòa đại sứ Mỹ. Nhưng rồi máy bay chuyến cuối cùng không trở lại. Cộng sản vào đến cửa ngõ Saigon. Gia đình bà tìm đường xuống Khánh Hội. Tìm ghe chạy ra tàu Trường Xuân sáng 30 tháng 4-75. Bà bầu cùng gia đình, mẹ già, con trai nhỏ 2 tuổi leo giây lên Trường Xuân.

Gia đình bà dược sĩ Saigon, mới ra trường năm 1972 đã thành những người khách không mời của chuyến hải hành vô định trên tàu Trường Xuân, ra đi xế chiều 30 tháng 4-1975.


Đứa bé gái hoài thai từ Saigon tự do, nhưng gan lì nằm trong bụng mẹ hay sợ súng đạn nên không chịu chào đời. Cho đến khi Trường Xuân ra đến hải phận quốc tế. Đứa bé mới chịu ra đời. Đó là câu chuyện 40 năm trước viết lại cho ngày kỷ niệm 40 năm sau.                                        Trở lại với Trường Xuân
Vào chiều 30 tháng 4-1975, con tàu Trường Xuân sau khi đã thành lập xong 1 thủy thủ đoàn tình nguyện và có gần 4,000 hành khách ngẫu nhiên đã lên đường hết sức vất vả trong điều kiện kỹ thuật tồi tệ và bị phá hoại mọi bề. Hành khách không vé của Trường Xuân gồm đủ tất cả hai ba thế hệ Việt Nam Cộng Hòa, mọi thành phần, mọi giai cấp, mọi hoàn cảnh. Đủ cả ba ngành lập, hành và tư pháp. Có mặt sĩ nông công thương binh. Không hề thiếu nam phụ lão ấu. Các nghệ sĩ sáng tác và nghệ sĩ trình diễn. Chuyến hải hành vào chân trời vô định với một ông thuyền trưởng nhân đạo và hết sức kiên định. Những tay phụ tá tình nguyện rất xuất sắc và sau cùng định mệnh đã đưa 3,628 con người đi tìm tự do đến được bến tự do. Thuyền trưởng Phạm Ngọc Lũy đã nói rằng Trường Xuân sẽ không thoát được nếu không có Song An. Song An là ai ? Đây chỉ là tên con tàu kéo nhỏ bé đang trên đường từ Vũng Tàu về cảng Saigon. Anh già Trường Xuân đang mắc cạn bèn túm lấy đứa bé Song An đòi nó kéo. Vậy mà nó kéo được. Ra đến hải phận, cho đến lúc anh già Trường Xuân tự chạy được bác cháu mới chia tay. Lẽ dĩ nhiên câu chuyện hải hành của đêm dài 30 tháng 4-75 không giản dị như thế ! Với lửa cháy ngập trời Thành Tuy Hạ và tiếng súng đuổi theo trên sông Lòng Tào, đêm hôm đó là đêm dài nhất của cuộc đời Trường Xuân. Khi anh già Trường Xuân từ giã cậu bé Song An trên đại dương, khách Trường Xuân góp tiền cho Song An trở về Saigon. Hai, ba bị tiền hàng chục triệu đồng Việt Nam đưa qua. Lái tàu Song An nói 1 câu kỳ diệu “ Thôi ! tiền nhiều quá, đủ rồi. Đừng đưa nữa “.Trong đời chúng ta hiếm khi nào nghe được những lời nói đó. Với tâm tình như vậy, tàu kéo Song An từ giã Trường Xuân. Tiếng còi tạm biệt trên trùng khơi nghe những nghẹn ngào. Có vài hành khách bỏ Trường Xuân nhẩy theo Song An trở về Saigon. Trên 3,600 khách Trường Xuân ngó theo Song An nhỏ dần trên đường trở lại quê hương. Khóe miệng chợt thấy vị mặn. Đây là nước biển sóng đánh bên thành tàu hay là nước mắt biệt ly. Rồi con tàu Trường Xuân chạy 1 mình. Gần 4,000 hành khách. Không đủ nước, không có thức ăn. Máy móc trục trặc. Nước tràn vào khoang tàu. Sắt vụn vô tri dưới hầm tầu. Con người tuyệt vọng ở trên boong.Hai người tự tử được thủy táng. Việt cộng phá hoại chỗ này. Máy tàu hư hỏng chỗ kia. Con tàu vô định có thể sẽ là quan tài nổi. Một hỏa diệm sơn chưa nổ. Các tin tức bi quan được lệnh của thuyền trưởng phải dấu kín. Trường Xuân nín thở, ỳ ạch tiếp tục chạy. Chợt có tiếng kêu : “Có người rớt xuống biển.”. Ông thuyền trưởng Nam Định đứng im trên đài chỉ huy lặng người bất động. Nửa giờ trôi qua như 1 thế kỷ. Captain Phạm ngọc Lũy sau cùng ra lệnh quay tàu lại vớt người. Một quyết định vô vọng. Hành khách nói. Một quyết định sai lầm. Hành khách nói. Hy sinh 4,000 người để cứu 1 người là nhầm lẫn. Hành khách nói. Captain điên rồi. Tại sao ? Thuyền trưởng sau này trả lời. Tìm vớt 1 người để cứu 4,000 người. Như vậy có thể hiểu rằng con tàu Trường Xuân đang là một hỏa diệm sơn sẵn sàng phun lửa nổi loạn. Hành động bình tĩnh quay tầu lại tìm 1 người là bài học nhân đạo cho mọi người và giữ cho được sự bình an của toàn thể con tàu. Có thể Thượng Đế trên cao đã nhìn thấy chuyện vớt người giửa biển của Trường Xuân nên đã đem lại vị cứu tinh số hai. Đó là con tàu Đan Mạch. Tiếng Trường Xuân kêu cứu vọng trên đại dương. Tàu Đan Mạch trên đường viễn du hỏi rằng thế đã kêu hạm đội Mỹ chưa? Trả lời : “Có số đâu mà kêu.” Đan Mạch thở dài. “Thôi chờ đó, chúng tôi sẽ đến tiếp tế và rước chừng 1,500 đàn bà trẻ con.”
Ra đời giữa trời biển mênh mông
Trước đó vài giờ đồng hồ, sáng ngày 2/5/75, bà dược sĩ họ Bùi đau đẻ. Gần 4,000 con người phải chừa ra 1 chỗ trống cho sản phụ. Đứa bé gái ra đời khoảng 2 giờ sáng. Con bé gốc Saigon Việt Nam, nằm trong bụng mẹ trên Trường Xuân, được kéo đi bởi Song An. Sanh ra giữa biển Đông, Thái bình dương. Không sữa, không nước, không cơm, không cháo. Một người dúi vào tay sản phụ miếng cam thảo. Bà nhai ra rồi lấy nước miếng bôi vào miệng con gái. Tiếng khóc chào đời vang trên biển rộng mênh mông. Một thanh niên nhấc bổng đứa bé đưa qua tàu Đan Mạch. Bà mẹ nhìn theo bóng con vươn lên trời xanh, nước mắt một lần nữa lại như vị mặn của biển khơi. Khai sanh của cháu đề ngày 2/5/1975 trên tàu Đan Mạch, tên cháu là Chiêu Anh.
Trường Xuân: Ôi, Trường Xuân !
Như vậy là tổng cộng ba ngàn sáu trăm hai mươi tám người đến bến tự do, bây giờ định cư ở bốn phương trời. Một thế hệ Trường Xuân ra đời và nối tiếp.Thoạt tiên tất cả được đưa về tạm trú ở Hồng Kông. Nhà chức trách Hương Cảng hứa hẹn sẽ không trả về Việt Nam.Trước khi rời con tàu, thuyền trưởng Phạm Ngọc Lũy đi thanh sát một vòng. Hình ảnh cảm động sau cùng là một người đàn ông mệt mỏi cúi xuống cõng bà mẹ già tê liệt. Trên khoang tàu mênh mông hiện chỉ còn là bãi rác. Một người đàn ông ạch đụi cõng mẹ qua tàu Đan Mạch, quả thực là hình ảnh hết sức ngậm ngùi. Đó là ông thiếu tá nhẩy dù Phan Huy Hoàng, sau này đưa mẹ về định cư tại Texas. Khi vị thuyền trưởng rời tàu Trường Xuân thì nước đã tràn vào khoang máy. Vẫn còn dưới hầm, thân xác 1 ông già sẽ thủy táng theo con tàu. Nhưng sau này được biết, khi người lên hết tàu Đan Mạch, Trường Xuân ngập nước nhưng không chìm. Hai tháng sau được kéo về Hồng Kông, đi theo hành khách của nó. Con rể của ông già nằm trên Trường Xuân đã nhận xác cha. Di hài vị dân biểu gốc Nùng của Việt Nam Cộng Hòa: Đại tá Wong A Sáng của sư đoàn 5 bộ binh, một thời đồn trú tại Sông Mao. Con người và con tàu, cả hai đều làm xong nhiệm vụ cuối cùng cho hai chữ tự do.

Một thế hệ tương lai 
Bà dược sĩ trẻ tuổi họ Bùi bây giờ định cư tại Montreal, Canada và học lại nghề cũ từ 1977. Pharmacie BUI tại Gia nã Đại có từ ngày đó. Đứa bé gái Chiêu Anh ra đời giữa Thái Bình Dương tháng 5-75, hai mươi tư năm sau vẽ 1 bức tranh họa cảnh tàu Trường Xuân nộp cho trường đại học Parkson school of Design, New York. Cô được nhận vào học và tốt nghiệp danh dự với huy chương vàng về ngành sáng tạo y phục thời trang. Hiện Chiêu Anh còn độc thân và làm việc tại San Francisco Hoa Kỳ. Trong một bản văn tự thuật bằng Anh ngữ, Chiêu Anh kể chuyện mình như sau: “Con là Trường Xuân Baby. Từ biển cả, con là một thuyền nhân sống xót. Khi Sài Gòn thất thủ, cha mẹ chạy xuống tầu Trường Xuân của thuyền trưởng Phạm Ngọc Lũy. Trong cái đêm dài sâu thẳm, vào lúc 2 giờ sáng 2 tháng 5-75 con sanh ra đời. Đó là giây phút của hãi hùng và hy vọng. Đời con khởi sự vất vả. Mắt hài nhi không mở. Xương quai bị gẫy, vai bị cụp. Mẹ đói không có sữa cho con. Vị cam thảo ngọt bôi vào miệng sơ sinh vẫn còn ghi nhận cho đến ngày nay. Tầu Danish của thuyền trưởng Đan Mạch Anton Martin Olsen đã cứu gia đình con và đưa vào nhà thương Anh Quốc tại Hồng Kông. Khai sanh của con với chứng chỉ công dân Denmark trên tầu MS Clara Maersk. Vì những giấy tờ này, tòa đại sứ Đan Mạch lo cho cả gia đình định cư tại Canada trong 21 ngày. Con đã tiếp tục sống trong những ngày thơ ấu khó khăn vất vả như những gia đình tỵ nạn khác. Cùng với người anh hơn con 2 tuổi, chúng con cố sức học hành để xây dựng tương lai. Con xin được học bổng để theo ngành sáng tạo thời trang và tốt nghiệp 1998 với bằng danh dự tại đại học hàng đầu New York. Con bắt đầu làm việc cho các hãng thời trang nổi tiếng tại Paris, New York và San Francisco. Con đã có dịp đi đến tất cả các đô thị lớn nhỏ từ Âu châu, Á châu, Mỹ châu trong thế giới của ngành sáng tạo thời trang. Nhưng con luôn luôn nhớ rằng mãi mãi vẫn là một thuyền nhân sống xót, một Trường Xuân Baby.”

40 năm nhìn lại
Kể từ tháng 4-75 cho đến tháng 4-2015 chúng ta có 40 năm nhìn lại. Nhưng 5 năm trước  chúng tôi đã chọn nhiều nhân vật hay sự kiện để giới thiệu. Trên sân khấu CPA của San Jose tháng 5-2010, người đầu tiên được giới thiệu sẽ là cô Chiêu Anh, Shining Light.
Cô sẽ hiện diện với thân mẫu từ Canada, với bác thuyền trưởng Phạm ngọc Lũy 91 tuổi, với hình ảnh của Trường Xuân, của Song An, và của con tàu Đan Mạch.
Khởi đầu từ năm 75 trở đi, qua 76, 77 cho đến 2009 và 2010. Lịch sử giở lại từng trang. Bi thảm, hào hùng, tuyệt vọng và hy vọng. Nhưng mở đầu vẫn là chuyến hải hành ngắn ngủi nhưng hết sức đặc thù. Bây giờ lại nhắc lại. Mãi mãi không quên

Chuyến đi của Trường Xuân
Trường Xuân, ơi Trường Xuân, Saigon tháng 4 đen. Bốn ngàn người vượt biển, Bỏ đất nước điêu linh. Trên con tàu vô định. Trường Xuân, ơi Trường Xuân. 40 năm nhìn lại. Xem ai còn ai mất, Lệ tuôn khắp dặm trường. Bốn phương trời thế giới. Trường Xuân, ơi Trường Xuân. Gần bốn ngàn người sống.Với ba mạng tử vong. 2 đứa bé lọt lòng. Giữa mênh mông trời biển. Trường Xuân, ơi Trường Xuân. Một thế kỷ vừa qua...Tương lai rồi sáng chói. Chuyện này cần kể lại...Trường Xuân, ơi Trường Xuân, Ngàn năm còn nhớ mãi...
Nhân dịp 40 năm, tôi viết chuyện Trường Xuân. Phần tiếp theo là cụ Lũy kể lại.
**************************************************
Phạm Ngọc Lũy 

blank
Tháng 11/1974, tàu Trường Xuân ra Hòn Khói lấy muối để chở đi Singapore. Gió Đông Bắc thổi mạnh, lùa từng cơn gió giật vào vịnh, khiến những ghe nhỏ không thể cặp vào tầu để vợi muối. Số muối dự định chở sang Singapore phải bỏ lại đến 1 phần 3.
Tàu Trường Xuân rời Việt Nam đang lúc tình hình chiến sự nghiêm trọng. Giao kèo chuyên chở hàng hóa trong vùng Đông Nam Á đến hết tháng 6/75 mới có thể trở về Việt Nam. Tôi thật sự lo lắng miền Nam không thể đứng vững, vì đồng minh đã bỏ chạy, còn Bắc quân có cả một hậu phương rộng lớn: Trung Cộng và các nước trong khối Liên Xô. 

Trường Xuân đến Singapore, ghé Bangkok, rồi đi Phi Luật Tân... Hết Cebu đến Manila, qua Ternate Nam Dương rồi đến Balik Papan thuộc Borneo. Trong khi đó coi trên TV thấy tình hình đất nước ngày một khẩn trương. Qua đài BBC, VOA, hết Quảng Trị, Đà Nẵng, Qui Nhơn, đến Nha Trang, miền Cao Nguyên Trung Phần rơi vào tay Cộng Sản. Quân đội miền Nam tiếp tục di tản, cảnh dân chạy loạn thật hỗn loạn, bi thảm. Những sà lan, những ghe thuyền chở đồng bào tị nạn từ miền Trung trôi dạt ngoài biển, không lương thực, không nước uống. 
Hình ảnh những bao rác đựng xác trẻ con đem từ các sà lan xếp thành hàng dài ngoài bãi biển Vũng Tàu cùng những hình ảnh bầy trẻ lạc cha mẹ trong các trại tị nạn đã gây nhiều bàng hoàng và xúc động mãnh liêt. 
Tôi không phải là một sĩ quan trong quân đội cầm súng chống quân thù. Tôi là một nhà hàng hải, có thể giúp được gì cho Quê Hương, cho đồng bào trong cảnh khói lửa điêu linh này? Tôi rất muốn được giúp đồng bào tôi, được cùng chia xẻ với đồng bào trong giờ phút đau thương này. Ngồi trên con tàu cách xa quê hương ngàn dặm mà lòng tôi bồn chồn như lửa đốt... 

Tôi cố hồi tưởng và viết lại những sự kiện đã giúp cho 3628 đồng bào chúng tôi bất chấp hiểm nguy, cùng nhau vượt biển khơi để tránh khỏi rơi vào tay Cộng Sản và đi tìm Tự Do. Sau đây là diễn tiến của nhiều việc đã đưa đến chuyến đi định mệnh của tàu Trường Xuân. Những sự kiện mà sau này lúc ngẫm nghĩ lại thì tôi thấy dường như đã được sắp đặt một cách huyền diệu để đưa tàu Trường Xuân ra khơi, để thử thách mọi người trên tàu phải phấn đấu để đạt được niềm ước vọng quí giá là hai chữ Tự Do. 
blank
                                 Bến Kho 5, Khánh Hội, Saigon, 30/4/1975

Tàu Trường Xuân rời bến Kho Năm, Khánh Hội, Saigon hồi 1 giờ 25 phút trưa ngày 30/4/1975 sau khi Tướng Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, và quân Cộng sản tiến chiếm Saigon hồi 10 giờ sáng...Diễn tiến lịch trình của Trường Xuân như sau.

(1) Ngày 3/4/75, đài phát thanh Úc loan tin: “Quân đội Cộng sản còn cách Thủ đô Saigòn 60 cây số và đang tiến về Thủ đô không gặp sự kháng cự nào.” Tàu cặp bến Pare Pare, tôi loan tin trên cho thủy thủ đoàn. Tất cả đều muốn về với gia đình. Tàu Trường Xuân quyết định chỉ ghé Singapore lấy hàng rồi quay trở về Saigon. 
(2) Lúc ghé Singapore, Cơ khí trưởng tàu Trường Xuân đi phố chơi, ăn nhậu say, khi về đến cổng thương cảng thì bị vấp ngã, bị thương ở đầu bất tỉnh nhân sự. Cảnh sát phải chở đi nhà thương điều trị. Tàu Trường Xuân về đến Saigon, Cơ khí trưởng xin tạm nghỉ việc để điều trị vết thương. Vị Cơ khí trưởng này thường phát biểu ý tưởng có nhiều thiện cảm với phe bên kia cho nên tôi nghĩ rằng nếu anh ta không gặp tai nạn thì đến ngày 30/4 chưa chắc anh ta đã chịu xuống tàu để di tản và đến giờ phút cuối cùng thì không dễ gì tìm được một người Cơ khí trưởng. 
(3) Tàu Trường Xuân về đến Saigon ngày 17/4/75, cặp bến Thương cảng Khánh Hội gặp nước ròng nên tàu cặp bến quay lái (phía sau tàu) ra biển. Tàu đã đến hạn lên ụ để tu sửa đại kỳ hàng năm. Vì công xưởng hải quân bận việc nên tàu chỉ tu sửa những bộ phận cần thiết ngay tại bến thay vì nằm ụ cả tháng trời. Tàu lấy hàng 300 tấn sắt vụn, lấy 80 tấn dầu, 100 tấn nước ngọt và 10 bao gạo để chuẩn bị đi Manila. Tàu có thể khởi hành ngày 24/4/75 nhưng tôi nấn ná chưa khởi hành vì tình hình đất nước mỗi ngày một nghiêm trọng... 
(4) Tôi xin Công Ty Vishipco tuyển dụng Cơ khí trưởng Lê Hồng Phi. Mãi đến sáng ngày 29/4/75 Công Ty mới chấp thuận cho Cơ khí trưởng Phi nhận việc. 
(5) 5 giờ chiều ngày 29/4/75, tôi xuống tàu không gặp Cơ khí trưởng Phi, và sĩ quan phụ tá cho biết là Phi đã về nhà đưa gia đình ra bến thương cảng để cùng di tản. Tôi dùng phấn viết lệnh rời bến lên bảng đen cho thủy thủ đoàn: “Tàu rời bến ngày 30/4/75 hồi 11:30 sáng.” 
(6) 6 giờ sáng 30/4/75, Trần Khắc Thuyên chở tôi ra tàu cùng với Phạm Trúc Lâm. Đường sang thương cảng Khánh Hội bị chắn nhiều khu phố. Sau khi quan sát tàu, Thuyên đưa tôi về nhà để hướng dẫn hai xe GMC chở khoảng 200 người gồm gia đình, thân nhân và bà con lối xóm, ra thương cảng... 
(7) Bình thường trước khi tàu khởi hành, sĩ quan phụ tá phải cho thử tay lái trên đài chỉ huy để bảo đảm chạy tốt, và chính tôi cũng thân hành tự kiểm soát lại. Tuy nhiên sáng 30/4/75, tôi nhớ là đã tự nhủ phải đi kiểm soát lại tay lái xem có gì trục trặc không, nhưng tôi lại quyết định không thử tay lái vì bụng bảo dạ: “Giờ này mà còn đi lo những việc nhỏ... Cộng quân đã tiến vào Saigon rồi... Việc thử tay lái đã có sĩ quan phụ tá lo...” Rồi tôi lại tự trách sao lại đi lo những chuyện không đáng lo. Và thực ra không hiểu vì sao chính sĩ quan phụ tá lần đó cũng quên thử tay lái trước khi nhổ neo, vì nếu được biết trước tay lái đã bị hỏng hay bị phá hoại thì tôi đã không dám cho tàu rời bến. 

(8) 9 giờ sáng 30/4/75, Sĩ quan Vô tuyến điện Nguyễn Văn Diệt yêu cầu tôi ra cổng thương cảng để can thiệp với nhân viên cảnh sát gác cổng cho gia đình anh vào trong lên tàu để di tản. Ra đến cổng thì thấy đồng bào chạy nhớn nhác như một đại nạn đang ập đến. Không thấy gia đình, Diệt xin nghỉ ở lại tìm gia đình... Một thủy thủ đoàn tối thiểu phải có Thuyền Trưởng, Cơ khí trưởng và Sĩ quan Vô tuyến, nhưng bây giờ Sĩ quan Vô tuyến đã xin ở lại. Tôi đành phải chấp thuận vì biết dù có ra lệnh buộc anh phải đi cũng chẳng được... (Ba năm sau anh Diệt di tản bằng thuyền, định cư ở vùng Virginia. Sau bị tai nạn xe cộ đã mất.) 
Tôi buồn bã trở về tàu, trong lòng hoang mang lo ngại vì không biết tìm đâu ra một Sĩ quan Vô tuyến điện trong giờ phút này. Vừa về đến tàu thì gặp anh Nguyễn Ngọc Thanh, Sĩ quan Vô tuyến điện của một tàu khác đến xin nhận việc. Tôi mừng rỡ nhận lời ngay và thầm cảm ơn Trời Phật sao đã khéo léo xếp đặt. (Anh Nguyễn Ngọc Thanh đã mất tại Pháp quốc.) 
(9) Khoảng 12 giờ trưa 30/4/75 , dân cũng như quân ào ào đổ xuống tàu. Cầu thang để leo lên tàu đã bị gãy. Cơ khí trưởng Phi báo tin tàu có thể khởi hành và tôi ra lệnh khởi hành. Vừa mở giây buộc cho tàu tiến nhẹ, bẻ nhẹ tay lái sang phải, tàu chạy thẳng. Tay lái không ăn! Tàu ngừng chạy, cặp lại bến. Tôi mới nhận ra là tay lái đã bị hỏng. Hệ thống tay lái dùng dầu ép để điều khiển bánh lái, nhưng sau được biết hệ thống điều khiển bánh lái đã bị kẻ nào phá hoại trút dầu ra và cho nước vào. Thật là một sự kiện kinh hoàng đến choáng óc. Tôi đã thoáng nghĩ đến việc hủy bỏ chuyến đi... Cơ khí trưởng sau khi xem xét lại hệ thống lái, cho biết tay lái phòng hờ còn xử dụng được. Trong suốt cuộc đời làm Thuyền trưởng tôi chưa bao giờ phải xử dụng tay lái phòng hờ, mà bây giờ lại không có lấy được một người thủy thủ biết lái. Chưa biết đối phó với tình huống nan giải thì một người đứng gần đó tự nguyện nhận điều khiển tay lái phụ...
(10) Khoảng 13 giờ, (1 giờ chiều 30 tháng tư-75) nước bắt đầu lớn - thủy triều lên. Tôi cho mở giây ở phía lái tàu để tàu tự động xoay 180 độ trên sông, hướng mũi ra khơi... Ngay lúc tàu vừa rời bến, một cơn gió nhẹ thổi từ bờ đẩy tầu ra giữa sông. 13 giờ 25 tàu khởi hành. Từ đài chỉ huy, tôi ra lệnh lái tàu qua một ống loa dài chừng 20 thước dẫn đến người bẻ bánh lái ngồi trong một cái chòi ở phía sau tàu. Lúc đầu tôi ra lệnh sang phải 10 độ thì tàu lại hướng sang phía trái. Tôi chợt nhận ra ngay là núm điều khiển tay lái phụ chỉ ngược chiều với hướng tàu chạy. Bắt đầu từ đó, muốn tàu sang bên phải thì tôi lại ra lệnh ngược lại. Cứ thế mà đi trên sông. 
(11) Đến khúc sông rộng, tàu đang chạy ngon trớn, bỗng Cơ khí trưởng hét lên qua ống loa: “Thuyền trưởng cho bỏ neo ngay! Phải ngừng máy đèn!” Ai bỏ neo bây giờ? Bỏ neo rồi làm sao kéo neo lên? Máy tàu ngưng, tàu vẫn chạy ngon trớn. 
Đầu óc rối như tơ vò! Nhưng lúc này cần phải bình tĩnh, không thể làm một quyết định sai lầm. Tôi biết rằng không thể bỏ neo ngay lúc này khi máy trên tàu bị hỏng và sẽ không dùng máy để kéo neo lên được. Cũng không thể để tàu chết máy nằm dọc bờ sông vì khi nước triều xuống thì tàu sẽ mắc cạn và tầu sẽ lật nghiêng. Cách còn lại duy nhất mà tàu có thể tự cứu vãn là tìm cách cho tàu lên cạn, mũi ghếch lên bờ, chân vịt chìm dưới nước. Chờ máy sửa xong thì tàu sẽ tự rút ra được. Chiều xuống, tàu vẫn đâm mũi vào bờ chờ sửa máy. Hỏa châu của Cộng sản mừng thắng trận nổ vang rền, sáng rực khu Rừng Sát. Tàu không thể rút ra được vì không còn hơi ép cho nổ máy. Cái nguy căn bản nhất là không còn hơi ép để cho chạy máy đèn. Máy đèn chạy mới có thể có hơi ép làm nổ máy cái. Cơ khí trưởng Phi cho biết nhân viên châm dầu đã tự ý khóa hệ thống làm nguội máy đèn... Đây có thể là một hành động vô ý thức hay là phá hoại, nhưng tôi nghĩ bây giờ không phải là lúc xét xử và điều tra mà phải làm sao cứu vãn được con tàu. 
blank

Tàu Trường Xuân chờ Tàu kéo Song An, Saigon, 30/4/1975

Tàu ở tình trạng hiểm nghèo. Tôi đã phải tự trấn an: “Cần bình tĩnh! Nếu tàu nằm mắc cạn ở đây chắc chắn Cộng sản sẽ bắt hết mọi người. Cùng lắm chúng xử bắn mình là cùng...” Tự nhủ như thế để tâm trí không bị rối loạn vì nếu làm những điều sai lầm trong giờ phút này là mất hết. Tàu kéo Song An từ Vũng Tàu về đi ngang vào đúng lúc này. Nhiều người lên tiếng kêu cầu cứu nhưng Song An vẫn chạy thẳng. Trong lúc đó có một chiếc tàu Hải quân nhỏ chạy từ hướng Saigon đến. Tàu Hải quân thấy vậy bèn nổ một phát súng thị uy. Tiếng nổ ầm vang chấn dội lồng ngực, Song An phải quay trở lại. Sau nhiều lần cố gắng kéo tàu Trường Xuân giây kéo đều bị đứt. Đến gần tối thì nước lớn, Song An mới kéo được tàu Trường Xuân ra sông, rồi tiếp tục kéo cho mãi đến 8 giờ ngày 1/5/75 mới tới Vũng Tàu. 
(12) Rút kinh nghiệm di tản từ miền Trung đã có bạo động trên những xà lan, cho nên tàu vừa rời bến Saigon, tôi đã kêu gọi thành lập Ban Trật tự và Ban Cứu thương. Nhờ sự tận tâm của Ban Trật tự nên không xảy ra bạo động. Nhờ Ban Cứu thương, đã có em bé sinh ra trên tàu, giữa biển cả, được mẹ tròn con vuông. 
(13) Vừa tới hải phận quốc tế, (ngày 1 tháng 5-75) lệnh hạ khí giới được triệt để tôn trọng. 
Tàu khởi hành ra khơi mà tám cần trục kéo hàng vẫn chưa được hạ xuống. Thật là may mắn khi chúng ta gặp biển lặng và sóng êm. Nếu biển động những dây buộc cần trục sẽ bị đứt. Cần trục nặng cả tấn sẽ rớt xuống tàu và nhiều người có thể bị thương hay bị thiệt mạng vì tai nạn khủng khiếp này. 
(14) Một người rớt xuống biển. Gần tối ngày 1/5/75, sau khi vớt được anh Vũ Văn Thụ, tôi cảm thấy yên tâm hơn. Tôi tin tưởng đồng bào đều chứng kiến việc làm đầy thiện chí, lo lắng cho sự an nguy của một nhân mạng, mà mọi người cũng sẽ từ bỏ lòng vị kỷ và nghĩ đến những người đồng cảnh ngộ với mình. 
blank


Tàu Clara Maersk và Trường Xuân

(15) Nhờ có Sĩ quan Vô tuyến gửi đi
 những tiếng kêu cầu cứu nên con tàu thiên thần Clara Maersk (Đan Mạch) đã đến cứu và đưa chúng ta đến bến bờ Tự Do. 
(16) Ngày 2/5/75, khi tất cả mọi người đã được chuyển sang tàu Clara Maersk an toàn thì một người từ phòng máy đi lên, thấy tôi vẫn đứng một mình trên đài chỉ huy. 
Lòng tôi vẫn luyến tiếc con tàu đã cứu bao nhiêu đồng bào và gia đình mặc dù họ đã phải trải qua những hoàn cảnh cực kỳ nguy hiểm. Thân hữu này nhìn tôi với cặp mắt thật buồn rồi nói: “Tôi vừa ở phòng máy lên, phòng máy đã ngập nước. Thuyền trưởng phải rời tàu ngay.” Nói xong anh lặng lẽ bước sang tàu Clara Maersk. Tôi đã đi nhiều nơi và gặp nhiều thân hữu Trường Xuân, có để ý tìm gặp vị thân hữu này nhưng vẫn chưa tìm ra. 
 

(17) Hội Ngộ Trường Xuân 30 năm
 ở Houston vào đúng ngày 30/4/2005, tôi đã gặp Đại Úy Cơ khí trưởng Nguyễn Thế Phiệt, người đã tự nguyện xử dụng tay lái phụ. 
(18)Ngày 12/6/2006,  tôi được gặp lại Trưởng Ban Lực Lượng Đặc Biệt Bùi Đăng Sự đi trên chiếc tàu Hải Quân nhỏ từ Saigon chạy ra. Anh đã bắn phát súng thị uy bằng súng phóng lựu M79, nên tàu Song An đã quay lại đưa 3628 người chúng ta ra khơi. Anh Sự và một số người trên tàu Hải quân đã lên tàu Trường Xuân trong lúc tàu Song An buộc dây kéo tàu Trường Xuân ra khỏi cạn. 
(19) 40 năm đã trôi qua mà hình ảnh và diễn tiến chuyến đi định mệnh của tàu Trường Xuân vẫn còn in rõ trong tâm trí tôi. Những sự kiện dường như đã được tiền định để cho tất cả chúng ta cùng gặp nhau trên con tàu để phải cùng phấn đấu và cùng đến được bến Tự Do. 
Phạm Ngọc Lũy
 

CHỨNG TÍCH ĐỂ ĐỜI:

ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN 

VI ANH

Tượng Đài Chiến sĩ Việt Mỹ ở TP Westminter là hình ảnh biểu tượng, tượng trưng  quân nhân Việt Nam Cộng Hòa và đồng minh Hoa kỳ trong Chiến tranh Việt. Tượng đài Nạn Nhân CS cũng chỉ là hình ảnh biểu tượng, trượng trưng cho hăm mấy sắc dân nạn nhân của chủ nghĩa CS trên thế giới. Những nơi này trở thành danh lam thắng cảnh nổi tiếng nhưng không phải là chứng tích lịch sử như Bia Đá Đen ở Washington DC có khắc ghi ghi họ tên của quân nhân Mỹ tử trận ở VN, như những bia mồ mà người Việt hải ngoại đã trùng tu trên các hải đảo của Nam Dương và Mã Lai.

Còn Đài Tưởng Niệm Thuyền Nhân VN (Viêtnamese Boat People Meomrial) mà tượng đồng đúc ở ngoài nước Mỹ đã đưa về Little Saigon (Quận Cam). Đài Tưởng Niệm Thuyền Nhân ngoài  việc có  thể  trở thành một danh lam thắng cảnh mới cho Little Saigon, chắc chắn sẽ là một chứng tích lịch sử như Bia Đá Đen ở Washington, như bia mộ của những người vượt biên đã chết trên đường tìm tự do, trên các hải đảo. Bia mộ ở đảo CS Hà nội có thể áp lực hai nước Nam Dương và Mã Lai phá dẹp bỏ, nhưng ở Little Saigon của Mỹ thì không vì có người Mỹ gốc Việt của một cộng đồng người Việt hải ngoại đông nhứt thế giới bảo vệ.

Theo thông báo của Ủy Ban Thực hiện Đài Tưởng niệm Thuyền nhân VN mới đây, nhờ truyền thông đại chúng phổ biến sâu rộng, Ủy Ban "đang tiếp tục xúc tiến khắc tên thuyền nhân, bộ nhân, đã tử nạn lên tấm bia đá hoa cương chung quanh Đài Tưởng niệm Thuyền nhân. Chúng tôi trân trọng thông bào quý đồng hương khắp nơi trên thế giới gởi danh sách những thuyền nhân, bộ nhân để chúng tôi tiếp tục đưa vào danh sách. Chúng tôi không nhận bất cứ một chi phiếu nào đính kèm. Đây là một nghĩa cử tâm linh hoàn toàn bất vụ lợi mà Ủy Ban chúng tôi đã tâm nguyện thực hiện trong thời gian gần mưới năm qua. Xin vui lòng gởi về địa chỉ duy nhứt: Ủy Ban Thực hiện Đài Tưởng niệm Thuyền nhân VN, 9234 E. Valley Bld., Rosemead, CA 91770. ĐT (626) 288-2696. Fax: (626) 288-2033. Email: sgtimes@aol.com . Website:www.saigontimesusa.com . Thái Tú Hạp và Việt Dzũng."

Giải thích thông báo này theo nghĩa chặt che của văn từ, thì Ủy Ban đang khắc một số tên những người chết trên đường tìm tự do, và Ủy Ban mong muốn và lên tiếng kêu gọi gọi thân nhân hay những người biết ai đã tử nạn thì gởi về để Ủy Ban có càng đầy đủ càng tốt. Ủy Ban khẳng định không nhận tiền bạc gì từ những người gởi danh sách nạn nhân về để đề phòng bà con cô bác người Việt có  thói quen hay gởi tiền khi nhờ làm một cái gì để coi cho được, ngại tôn kém nên không làm và Ủy Ban bị bớt đi những  chứng tích lịch sử.

Điều đó cho thấy mục đích của Ủy Ban là thu thập càng đủ càng tốt chứng tích lịch sử, dữ kiện lịch sử về con người trong cuộc di tản vô tiền khoáng hậu của lịch sử VN sau ngày 30 tháng tư năm 1975. Mà chứng tích lịch sử, sự kiện lịch sử không có gì đánh động nhà viết sử, người khảo sử, có giá trị lịch sử bằng số người chết với danh tánh hẳn hòi vì một người là một tiểu vũ trụ, một sinh linh duy nhứt, một nhân vi, một mạng sống hơn một đống vàng.

Dù cuộc vượt biên bằng đường bộ băng rừng vượt núi, lội sông; dù cuộc vượt biên bằng thuyển nan vượt đại dương với sóng to gió lớn của Thái bình Dương với hải tặc Thái lan ở vùng biển Đông Nam Á, với sự vô tình của tàu bè quốc tế vì các quốc gia tàu cặp bên không nhận người được vớt, lương tâm Loài người bị đánh động. Dù Liên hiệp Quốc tổ chức cuộc định cư có trên 80 quốc gia dang tay ra cứu giúp, cho đến bây giờ cũng chưa cơ quan nào của Liên hiệp Quốc, của các siêu cường thế giới như Mỹ, Uc, Canada hay của các tổ chức phi chánh phủ dám chắc số người Việt nam tỵ nạn CS chết bao nhiêu trên đường tìm tư do. Có người ước đoán nếu đến bến bờ tự do được một triệu thì chết cũng phân nửa số đó.  Nửa triệu - cứ 2 người vượt biên thì có 1 người chết đại đa số là trên biển.

Theo sự hiểu biết hạn hẹp về vấn đề vượt biên của người viết bài này vì mới đến Mỹ năm 1996,  thì việc chết sống, chết biển, chết bị du kích, biên phòng, tuần duyên VC rượt bắn chết bỏ xác, hải tặc cướp sạch của cải và trinh tiết rồi vứt xuống sông để phi tang, việc chết bịnh trên đảo chờ định cư (tương đối có đủ tài liệu qua nhiều tổ chức và nhân chứng ghi nhận) là rất nhiều, là vấn đề thiết tha của nhiều người, nhiều gia đình Việt ở Mỹ. Lơ mơ, chân ướt chân ráo như người viết bài này lúc còn phải xách cập đến trường đại học "học đại" để kiến tiền Finacial Aid, việc đầu không thể không làm  được ở Mỹ là phải đỡ đầu một đứa cháu ngoại của một đồng đạo lớn tuổi, không rành trường ốc học hành để giúp cho cháu mà cha mẹ đi vượt biên mất tích hay chết cả hai. Nhiều nhà báo bạn như Nguyên Huy giúp loan báo nhiều lần không kết quả. Coi như ba má cháu ấy đã chết trên đường vượt biên. Tới bây giờ cháu ấy đã ra trường, đi làm, mỗi lần gặp lại đều thủ thỉ, "Ong Tám à, cháu thường nằm chiêm bao thấy ba má cháu lám; làm sao mình tìm được, o­ng Tám?" Quá đau lòng sót dạ với một thanh niên ở Mỹ giàu phương tiện nhưng bất lực để biết cha mẹ mình còn hay mất!

Có lẽ cũng với nỗi đau lòng sót dạ như vậy, mà Ủy Ban mới viết trong thông báo, "Đây là một nghĩa cử tâm linh hoàn toàn bất vụ lợi mà Ủy Ban chúng tôi đã tâm nguyện thực hiện trong thời gian gần mưới năm qua." Và hơn một lần trên truyền hình SBTN, chị Ai Cầm, anh Thái Tú Hạp của báo Saigon Times nói chuyện nhắc đến vượt biên, là Chị không cầm được nước mắt, nhớ người nhà, người bạn đồng thuyền chết trên đường vượt biên, nên người viết bài này dẫn chương trình Câu Chuyện Cuối Tuần phải lựa lời chuyển hướng câu hỏi.

Có thể tin nghĩa vụ tâm linh, tình liên đới của người sống sót trên đường vượt biên đối với người đã chết trên đường tìm tự do. Thần giao cách cảm của người ở hai thế giới nhưng đồng hội đồng thuyên, đòng mục tiêu nhưng khác vận rủi may. Ý chí muốn để lại một chứng tích cho thế hệ đi sau biết  thế hệ đi trước, thế hệ thuyền nhân gian nguy, khổ ải, sống chết mong manh như thế nào  để biết vì sao các thế hệ trẻ được vô vàn cơ may khi sống ở đất nước tư do, dân chủ. Tin rằng ngần ấy chắc chắn sẽ  thúc đẩy người Việt tỵ nạn CS ở khắp thế giới biến Đài Tưởng niệm Thuyền nhân VN ở Little Saigon trở thành một chứng tích lịch sử của cuộc vượt biên vô tiền khoáng hậu gian nguy trong lịch sử VN. Làm một việc ý nghĩa tình người đạo lý cao sâu, giá trị lịch sử lớn lao mà chỉ bằng một hàng động dễ dàng không tôn kém tiền bạc gì cả: đó là cung cấp danh sách người chết trên đường tìm tư do cho Ủy Ban Thực hiện Đài Tưởng niệm Thuyền nhân VN.

Câu chuyện Việt - Mỹ: Cựu thù đến đối tác


-Sự gắn kết các lợi ích chiến lược giữa Mỹ và Việt Nam khiến cho mối quan hệ hợp tác an ninh song phương được cải thiện nhanh chóng.

Quan hệ Mỹ-Việt đã trải qua một chặng đường dài. Những năm 80 của thế kỷ trước, Việt Nam từng e ngại Mỹ là "một yếu tố đe dọa hòa bình thế giới, và đặc biệt là đe dọa nghiêm trọng an ninh và ổn định ở châu Á”. Ngày nay, Việt Nam hiện coi Mỹ là một yếu tố có ý nghĩa tới sự ổn định trong khu vực châu Á Thái Bình Dương.

Tại Đối thoại Shangri-La ngày 31/5/2013 tại Singapore, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã phát biểu, hoan nghênh sự tham gia chiến lược của Mỹ như một cường quốc tại khu vực, và dự kiến ​​rằng, cùng với Trung Quốc, nước Mỹ sẽ đóng “một vai trò lớn và có trách nhiệm đối với khu vực và trên thế giới".

Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng gặp Tổng thống Mỹ Obama bên lề Hội nghị EAS ngày 13/11/2014
Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng gặp Tổng thống Mỹ Obama bên lề Hội nghị EAS ngày 13/11/2014


Hai yếu tố này đã thúc đẩy những thay đổi cốt lõi: sự cần thiết phải cải cách mạnh mẽ để tránh suy thoái kinh tế vào những năm 1980, và những thách thức nhằm bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Trong bối cảnh này, Mỹ có vai trò quan trọng đáp ứng nhu cầu của Việt Nam.

Những nỗ lực để vượt qua sự thiếu tin cậy đã dẫn tới việc bình thường hóa quan hệ ngoại giao giữa hai “cựu thù” vào năm 1995. Các động thái của Trung Quốc ở Biển Đông và sự gắn kết lợi ích chiến lược giữa Mỹ và Việt Nam khiến cho mối quan hệ hợp tác an ninh song phương được cải thiện nhanh chóng.

Các tiến bộ trên mặt trận ngoại giao được thể hiện bằng các chuyến thăm của các nhà lãnh đạo Việt Nam sang Hoa Kỳ và ngược lại. Bill Clinton là Tổng thống Mỹ đầu tiên, và William Cohen là Bộ trưởng Quốc phòng đầu tiên đến thăm Việt Nam vào năm 2000. Ông Phan Văn Khải là Thủ tướng đầu tiên của nước Việt Nam thống nhất đến thăm Mỹ vào tháng 6/ 2005, tiếp theo là chuyến thăm Mỹ của Nguyên Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết năm 2007. Dự kiến Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng sẽ thăm Mỹ trong năm 2015, ông sẽ là Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam đầu tiên đến thăm Hoa Kỳ.

Việc dỡ bỏ các lệnh cấm vận thương mại của Mỹ đối với Việt Nam vào năm 1994 đã mở ra một kỷ nguyên mới trong hợp tác kinh tế, dẫn đến một thỏa thuận hợp tác thương mại song phương toàn diện vào năm 2000, bình thường hóa quan hệ thương mại vào năm 2006, và Việt Nam gia nhập WTO vào tháng 1/ 2007. Kết quả là, thương mại song phương Hoa Kỳ-Việt Nam đã tăng từ 451 triệu USD trong năm 1995 lên gần 35 tỷ USD trong năm 2014. Đầu tư trực tiếp của Mỹ tại Việt Nam đã tăng từ 126 triệu USD trong năm 2000 lên 11 tỷ USD vào năm 2013.

Các cuộc đàm phán để Việt Nam tham gia Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) vẫn còn dang dở. Đối với Việt Nam, TPP có thể sẽ có những rủi ro nhất định, nhưng bù vào đó, Việt Nam sẽ có nhiều lợi ích chiến lược về kinh tế, chính trị, trong đó bao gồm cả việc công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường. Đối với Mỹ, TPP cung cấp một cơ sở kinh tế vững chắc cho chiến lược “xoay trục” sang châu Á. Nhưng việc Quốc hội Mỹ hiện chưa thông qua dự luật Quyền Xúc tiến thương mại vẫn là một trở ngại chính.

Quan hệ hợp tác quân sự giữa 2 nước bắt đầu tăng tốc kể từ năm 2009 khi Mỹ và Việt Nam có sự gắn kết các lợi ích an ninh. Trong năm 2009, Trung Quốc đã đưa ra yêu sách Đường 9 đoạn, tuyên bố chủ quyền chiếm tới 80% Biển Đông, sau đó lại hạ đặt trái phép Giàn khoan Hải Dương- 981 vào Vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam trong năm 2014.

Gần đây, Trung Quốc đã bắt tay vào dự án cải tạo quy mô lớn, biến các bãi đá chìm thành đảo, nhằm phục vụ cho các mục đích quân sự. Mặc dù không có tranh chấp chủ quyền trong khu vực, Mỹ đã coi các hành động và tuyên bố của Trung Quốc là phi pháp và lên tiếng phản đối việc sử dụng vũ lực để ép buộc hoặc thay đổi hiện trạng các khu vực tranh chấp.

Mỹ cũng đã cam kết giúp Việt Nam nâng cao khả năng phòng thủ, bằng việc dỡ bỏ một phần lệnh cấm bán vũ khí sát thương và cung cấp 18 triệu USD nhằm tăng cường năng lực cho lực lượng bảo vệ bờ biển Việt Nam. Mỹ và Việt Nam cũng đồng ý nâng cấp quan hệ đối tác toàn diện và hợp tác tại các diễn đàn đa phương.

Trong khi đã có nhiều tiến bộ, hai bên vẫn còn những khác biệt về các quyền tự do tôn giáo, ngôn luận, an ninh mạng. Những nỗ lực của Việt Nam nhằm cải cách hệ thống luật để bảo vệ quyền tự do cá nhân có thể chưa đáp ứng được kỳ vọng của Mỹ.

Trong nhiều năm qua, quan hệ giữa Việt Nam và Mỹ chưa đạt được sự tin cậy lẫn nhau. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã kêu gọi xây dựng "lòng tin chiến lược" giữa hai nước. Giai đoạn gây dựng được “lòng tin chiến lược” giờ đây đã gần đạt tới.

Ngoài những cam kết "tôn trọng hệ thống chính trị của nhau”, sự hợp tác trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo là chìa khóa để xây dựng lòng tin này. Trong số 16.000 sinh viên Việt Nam tại Mỹ, nhiều người là con của các nhà lãnh đạo Việt Nam. Sinh viên tốt nghiệp từ các trường đại học Mỹ không còn bị nghi ngờ, mà đã được đặt ở những vị trí quan trọng.

Một yếu tố không kém phần quan trọng là việc tăng tần suất các chuyến thăm của các nhà lãnh đạo cao cấp Việt Nam đến Mỹ để thiết lập mối quan hệ với những người đồng cáp, trong đó có có các chuyến công du của các bộ trưởng và lãnh đạo các tỉnh, thành phố đến Trường Đại học danh tiếng Havard để tham dự các cuộc hội thảo ngắn.

Trong khi các lợi ích chiến lược được gắn kết có thể nhắc một quan hệ đối tác giữa Mỹ và Việt Nam, là việc trao đổi giáo viên và sinh viên trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo có thể dẫn đến những giá trị và lợi ích chung hơn. Đó là cơ sở của sự hiểu biết, tin tưởng và hợp tác chặt chẽ với nhau, nhằm tạo cơ sở cho một mối quan hệ vững chắc hơn và lâu dài./.

Theo Nguyễn Hùng/Trường Đại học George Mason
VOV.VN

'Hòa giải Mỹ - Việt dễ hơn với nội bộ VN'


Chính quyền Việt Nam chuẩn bị đánh dấu 40 năm ngày 'Giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước' trong tháng Tư này.

Hòa giải Mỹ - Việt sau 40 năm ngày 30/4 'dễ dàng' hơn là giữa nội bộ người Việt trong và ngoài nước, theo ý kiến của khách mời Bàn tròn Thứ năm của BBC Việt ngữ hôm 16/4/2015.

Trong khi đó, cũng có ý kiến nói việc hòa giải dân tộc giữa người Việt với nhau 'khác với' hòa hợp giữa một bộ phận của người dân Việt Nam với chính quyền và đảng cộng sản hiện nay, một quan điểm chia sẻ với cuộc Tọa đàm với chủ đề "30/4, quá khứ và tương lai", của BBC Việt ngữ.

Trước câu hỏi liệu việc hòa giải Việt - Mỹ có 'dễ hơn' so với hòa giải nội bộ Việt Nam hay không, bà Thảo Griffiths, Trưởng đại diện của Quỹ Cựu chiến binh Hoa Kỳ tại Việt Nam (VVAF) nói với Tọa đàm:

"Tôi đồng ý. Việc hòa giải giữa hai quốc gia Việt Nam và Hoa Kỳ, chúng ta đã làm được rất nhiều, có thể nói là chúng ta đã làm xong, gần xong, và chúng ta đang xây dựng quan hệ chiến lược toàn diện với nhau.

"Nhưng việc khó khăn nhất là việc hòa giải giữa người Việt trong nước và người Việt ở nước ngoài.

"Chứ còn người Việt trong nước giữa miền Bắc và miền Nam, tôi nghĩ là vấn đề không có nặng nề," bà Thảo Griffiths nói với BBC từ Hà Nội.

'Hòa giải chỉ một chiều'

Nhà báo Trần Nhật Phong từ California, Hoa Kỳ nêu quan điểm:

"Mọi người có vẻ lầm lẫn giữa hòa hợp và hòa giải. Hòa hợp và hòa giải không phải là hòa hợp, hòa giải dân tộc, mà là với chính quyền bên đó.

"Chứ thực sự, cá nhân gia đình tôi, hay là bạn bè tôi ở đây vẫn có những người sinh sống ngoài Bắc trong thời gian chiến tranh hoặc sau đó.

"Chúng tôi hoàn toàn không có gì thù hận nhau cả, cho nên không có chữ hòa hợp hay là hòa giải dân tộc ở đây, mà sự hòa giải giữa chính quyền với những người ở bên kia chiến tuyến mà thôi, chứ không phải là dân tộc. Chúng ta phải rõ khái niệm đó...

"Thực sự nếu mà nói chữ hòa hợp và hòa giải, thì nó phải đòi hỏi hòa hợp, hòa giải hai chiều. Tức là có chiều bên kia và có chiều bên đây.

Nhiều thương hiệu của Mỹ từng hiện diện ở miền Nam Việt Nam trước đây đã trở lại đất nước này sau mấy thập niên hậu chiến.

"Xưa nay về chính sách thì phía Việt Nam có đưa ra, nhưng chính sách đó hoàn toàn không có tâm và nỗ lực thực sự, mà nó chỉ là ngôn ngữ bề ngoài mà thôi.

"Tại vì nếu anh đã nói ngôn ngữ hòa hợp, hòa giải, tức là chấp nhận sự khác biệt của đôi bên để tiến tới gần nhau, nhưng ở bên trong đó có bao giờ chấp nhận lá cờ vàng ba sọc đỏ chưa?

"Chưa bao giờ! Chính quyền chưa bao giờ thừa nhận và những ai cầm lá cờ đó lên đều bị đối xử một cách rất khắc nghiệt; như vậy chữ hòa hợp, hòa giải đó, tôi nghĩ không phải là điều mà phía chính quyền bên đó muốn."

Nhà báo Trần Nhật Phong còn trích dẫn ý kiến của một học giả bên Hoa Kỳ cho rằng chính quyền Việt Nam "chỉ muốn hòa hợp, chứ không muốn hòa giải."

"Tức là chỉ muốn người ta chấp nhận họ, chứ họ không muốn chấp nhận người khác," nhà báo giải thích thêm quan điểm này.

'Một vài thế hệ nữa?'

Từ San Jose, California, Hoa Kỳ, cựu Đại úy Hoàng Sơn Long, sỹ quan bộ binh quân lực Việt Nam Cộng hòa nêu quan điểm về việc hòa giải, hòa hợp dân tộc dễ hay khó.

Ông nói:

"Theo tôi nghĩ là phải một vài thế hệ nữa, phải là 20 năm hoặc 30 năm nữa, mới có thể hòa giải dân tộc được.

"Ngay bây giờ, hiện tại bây giờ, tôi nghĩ rằng rất là khó hòa giải, hòa hợp dân tộc.

"Thứ nhất là đối với chính quyền Việt Nam hiện tại, họ không có thành tâm, không có thiện ý.

"Ngay cá nhân tôi có thể quên đi quá khứ, về Việt Nam làm việc.

"Nhưng với môi trường hiện tại, thì những người Việt ở hải ngoại không thể nào về Việt Nam làm một chuyện hòa hợp, hòa giải dân tộc được.

"Cái đó là thực tế. Nhiều bạn bè tôi đã bỏ tiền, đã quên đi quá khứ để về Việt Nam xây dựng.

Cuộc chiến Việt Nam kéo dài 20 năm khép lại vào ngày 30/4/1975.

"Nhưng rốt cuộc họ phải trở về Mỹ sống, họ không thể làm được," ông Hoàng Sơn Long nói.

Ngày của sám hối?

Từ Paris, ông Võ Văn Ái, nhà vận động cho tự do tôn giáo, nêu quan điểm cần ứng xử với ngày 30/4 và sử dụng dịp tròn bốn mươi năm sự kiện này ra sao.

"Điều kiện tiên quyết là Đảng Cộng sản có thể mang lại một tương lai tốt đẹp cho dân chúng Việt Nam là phải có một cuộc sám hối và lấy ngày 30/4 làm ngày sám hối với toàn dân của Đảng cộng sản.

"Đấy là điều tôi thấy là một sự kiện hết sức cụ thể, có thể làm được, nếu Đảng Cộng sản muốn mình là người Việt Nam, muốn xây dựng cho đất nước Việt Nam," ông Võ Văn Ái nói với BBC từ Pháp.

Bình luận lại ý kiến này, nhà báo Trần Nhật Phong từ California nói:

"Tôi đồng ý với ông Võ Văn Ái là cơ chế trong nước cần phải thay đổi để đưa đất nước, dân tộc đến một con đường tốt hơn.

"Con đường hiện nay chưa được tốt.

"Con đường hiện nay vẫn đưa dân tộc vào bế tắc.

"Và vấn đề lòng người của hai phía sẽ không bao giờ được thống nhất, nếu như dân tộc tiếp tục lâm vào bế tắc," nhà báo Trần Nhật Phong nói.

Kỳ vọng cho tương lai

Bốn thập niên đã qua kể từ ngày 30/4/1975 vốn khép lại cuộc chiến Việt Nam kéo dài hai mươi năm vốn được coi là một trong các cuộc chiến 'khốc liệt nhất" trong lịch sử thế kỷ XX mà tới nay vẫn ít nhiều mang tính tranh cãi.

Nhân dịp này, các khách mời chia sẻ với Bàn tròn của BBC những kỳ vọng, viễn kiến của họ cho Việt Nam trong tương lai.

Đất nước Việt Nam 'đang tốt lên' và thế hệ trẻ sẽ có nhiều việc phải làm, theo ý kiến của khách mời của BBC.

Kỹ sư Đoàn Xuân Tuyến, một người sinh ở Đà Nẵng và đã theo gia đình di tản chiến tranh vào Sài Gòn ngay khi thành phố duyên Hải Nam Trung Bộ bị bộ đội Bắc Việt tấn công trong cuộc Tổng tiến công vào mùa Xuân 1975, nói với Bàn tròn:

"Hướng về tương lai thì tôi và thế hệ của tôi, tôi nghĩ rất hy vọng sẽ có đa nguyên, đa đảng trong nước Việt Nam.

"Vì còn rất nhiều đất nước vẫn còn bất đồng với chế độ và nghĩ rằng chế độ sẽ không đem đất nước tiến lên được sau mấy chục năm qua và có nguy cơ thụt lùi nữa so với những nước láng giềng.

"Tôi nghĩ có đa nguyên, đa đảng sẽ có nhiều sự đóng góp của nhiều thành phần của xã hội, hiện tại có nhiều người nằm ở ngoài lề của xã hội, với thể chế hiện tại," Kỹ sư Đoàn Xuân Tuyến chia sẻ.

Còn Trưởng Đại diện Quỹ Cựu chiến binh Hoa Kỳ tại Việt Nam, bà Thảo Griffiths thì nói:

"Phần lớn người dân Việt Nam đều sinh ra sau năm 1975, mặc dù gia đình tôi sinh sống ở bang Victoria của Úc, nhưng tôi chọn trở lại Việt Nam và sử dụng phần lớn thời gian của mình làm việc tại Việt Nam.

"Bởi vì tôi muốn được cùng với mọi người vô cùng bận rộn và vui mừng để được xây dựng giấc mơ Việt Nam của mình, như là nhà báo Trần Nhật Phong có nói rằng nếu đất nước tốt lên, thì lòng người sẽ ấm lên. Tôi thấy rằng đất nước của chúng ta đang tốt lên.

"Vậy thì tôi cũng rất kỳ vọng rằng lòng người sẽ ấm lên và chúng ta có rất nhiều việc cần phải làm, đặc biệt là những người trẻ như thế hệ của tôi và kỹ sư Tuyến," bà Thảo Griffiths chia sẻ với BBC.

Chính quyền VN đã thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam nhằm thay thế Giáo hội Phật giáo VN thống nhất tồn tại từ trước 1975 ở miền Nam, theo tác giả.

Cho đến hôm nay, đầu tôi vẫn còn vang dội đài hiệu của đài Truyền hình Pháp TF1, thông báo tin tức Bộ đội Bắc Việt từng bước tiến chiếm Sài Gòn.

Lúc ấy tôi vừa trở lại Paris sau chuyến thuyết trình dài qua nhiều nước Âu - Mỹ trình bày quan điểm Hoà bình của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN).

Là chi bộ hải ngoại của Giáo hội, chúng tôi đại diện Viện Hoá Đạo ở nước ngoài để thông tin và bày tỏ lập trường của Giáo hội trong cuộc chiến tranh huynh đệ thừa sai.

Bắc Việt cưỡng chiếm miền Nam bằng quân sự là điều kinh sợ. Chúng tôi không thấy quy định bạo lực nào trong Hiệp định Paris năm 1973.

Một miền Nam trung lập, với chính phủ ba thành phần, và chủ trương hoà hợp, hoà giải dân tộc tan tành theo mây khói dưới xích chiến xa ủi sập Dinh Độc lập ở Sài Gòn.

Ước mộng trở về quê hương của tôi thành giấc mộng hờ, khi tôi nghe tin tức trong nước dồn dập đưa ra những chuyện chẳng lành, như chế độ tập trung cải tạo, kinh tế mới… Từ tháng 8 tháng 9-1975 trở đi, nhiều tượng Phật lộ thiên, hay trong các chùa viện ở các tỉnh Quảng Ngãi, Pleiku, Sóc Trăng, Phan Thiết, v.v… bị đập phá.

'Chết vinh, sống nhục'

Ngày 2-11-1975, dưới băng rôn “Thà chết vinh hơn sống nhục”, 12 Tăng Ni ở Thiền viện Dược Sư, Cần Thơ, tự thiêu tập thể phản đối chính quyền Cách Mạng với 7 yêu sách đòi hỏi nhân quyền, tự do tôn giáo, chấm dứt đàn áp GHPGVNTN.

Cuộc biểu dương phản đối trên đây mở đầu cuộc đối kháng chính sách đàn áp tôn giáo và tiêu diệt Phật giáo của Hà Nội, mà Giáo hội kiên trì tới 40 năm sau. Chủ trương đã được ông Trần Xuân Bách thiết kế thông qua Chỉ thị số 20 của Đảng và được ông Lê Duẩn ký từ năm 1960, khiến Phật giáo miền Bắc tiêu vong. Nay đem áp dụng tại Miền Nam.

Chưa có triều đại nào trong lịch sử Việt Nam, mà khối lượng chư Tăng, Phật tử bị tù đày, vào trại Cải tạo hay quản chế tại gia đông đảo như dưới triều đại Hồ Chí Minh.

Giới Tăng lữ bị bắt hoàn tục, hay đưa sang chiến trường Kampuchia. Hàng giáo phẩm Viện Hoá Đạo bị bắt, như các Hoà thượng Huyền Quang, Quảng Độ, Thiện Minh... Do áp lực quốc tế, hai ngài Huyền Quang, Quảng Độ bị xử 2 năm tù cuối năm 1977. Cố Hoà thượng Thích Thiện Minh bị tra tấn đến chết ở Trại thẩm vấn X4, đường Nguyễn Trãi, Sài Gòn.

Sau đợt khủng bố, đàn áp thẳng tay trong vòng 5 năm, vẫn không thể tiêu diệt Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, mà mạng lưới tổ chức của Giáo hội lan rộng từ thành thị đến nông thôn, với khối lượng đông đảo Phật tử hậu thuẫn. Ông Xuân Thuỷ, Bí thư Trung ương Đảng kiêm Trưởng ban Dân vận, giao cho ông Đỗ Trung Hiếu nhiệm vụ thống nhất Phật giáo. Ông nhận định rằng :

«Quan trọng là Đảng không bao giờ lãnh đạo được Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, mà ngược lại Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất trở thành một tổ chức tôn giáo rộng lớn có đông đảo quần chúng, là một tổ chức có áp lực chính trị thường trực với Đảng và chính phủ Việt Nam”.

Đây là đầu mối cho “Hội Phật giáo Việt Nam” ra đời tại chùa Quán Sứ, Hà Nội ngày 4-11-1981, mà chủ yếu tập họp các hội Phật giáo yêu nước của Đảng, chứ không là một giáo hội của Tăng Ni, Phật tử hình thành. Hội là công cụ chính trị cho Đảng, làm công tác tuyên truyền đối ngoại cho chế độ.

'Tổ chức bù nhìn'

Hòa thượng Thích Quảng Độ
Hòa thượng Thích Quảng Độ, Tăng Thống của Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất, tiếp tục bị quản chế tới nay, theo tác giả.

Ông Đỗ Trung Hiếu, kiến trúc sư của tổ chức Phật giáo nhà nước này, đã phản tỉnh 13 năm sau, khi ông hồi ký công trình Đảng tóm thu Phật giáo. Trong tập sách “Thống Nhất Phật giáo”, ông Hiếu tiết lộ :

«Cuộc thống nhất Phật giáo lần này, bên ngoài do các Hòa thượng gánh vác, nhưng bên trong bàn tay Đảng Cộng sản Việt Nam xuyên suốt quá trình thống nhất để nắm và biến Phật giáo Việt Nam trở thành một tổ chức bù nhìn của Đảng. (…) Nội dung hoạt động là do cúng bái chùa chiền, không có hoạt động gì liên quan tới quần chúng và xã hội. Hội Phật Giáo Việt Nam ở trong Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, tuân thủ luật pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam».

Liền sau cuộc thống nhất nói trên, hai Hoà thượng Huyền Quang, Quảng Độ bị giải về quê quán lưu đày ở tỉnh Quảng Ngãi và tỉnh Thái Bình đầu năm 1982 do Quyết định của Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh chứ không qua toà án xét xử.

Một nhân chứng đáng tin cậy về giai đoạn khủng bố Phật giáo này là Đức cố Đệ Tam Tăng Thống Thích Đôn Hậu. Năm Mậu thân, 1968, ngài bị cưỡng bức gánh lên rừng, rồi đưa ra Hà Nội như con tin của nhà nước, và được sử dụng như con bài tuyên truyền đối ngoại.

Ngài trở lại miền Nam với chức vụ đại biểu Quốc hội, Uỷ viên Mặt trận Tổ quốc. Thế nhưng ngài đã viết đơn từ nhiệm mọi chức vụ, lại còn tố cáo chế độ đàn áp Phật giáo và thảm sát Hoà thượng Thích Thiện Minh. Trong băng thu âm, mà tạp chí Quê Mẹ phát hành tại Paris đăng tải, Ngài phơi bày cái gọi là “cách mạng giải phóng” miền Nam như sau:

“Tình đoàn kết, thương yêu, kính trọng trước kia, chỉ được 10 ngày! Sau 10 ngày đó: tình đoàn kết xưa nay bây giờ rã hết! Lòng yêu thương đổi thành ghét cay ghét đắng! Sự kính trọng bây giờ người dân trở lại khinh đáo để!”

Lý do chống đối

Lý do nào mà Phật tử Việt Nam chống đối nhà cầm quyền Cộng sản? Bản Thông bạch của Hoà thượng Huyền Quang phát hành năm 1994 cho biết :

“Phật giáo chúng ta đang trong cơn Pháp nạn II. Nhà nước Việt Nam đã đàn áp Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất chúng ta kể từ sau ngày 30-4-1975

"Chỉ vì lập trường của Giáo hội không chấp nhận làm công cụ cho bất cứ một thế lực chính trị nào, và Giáo hội chỉ yêu cầu để Phật giáo được sinh hoạt độc lập trong khuôn khổ tôn giáo và pháp luật”.

Không muốn làm công cụ cho chế độ, vì lịch sử Hai Nghìn năm Phật giáo, đạo Phật luôn đồng hành cùng dân tộc, vui buồn theo vận nước, sát cánh cùng nhân dân chống xâm lăng, bảo vệ chủ quyền.

Nhiều Sư Bà, Nữ tướng Phật tử đã tham gia với Hai Bà Trưng trong cuộc kháng chiến vệ quốc đầu tiên của nước ta và nhiều bậc sư sãi, thiền sư khác cũng đã đóng góp cho các triều đại Việt Nam trong các thời đại dựng nước và giữ nước.

Cũng vì thế, mà Đức Đương kim Đệ Ngũ Tăng Thống Thích Quảng Độ, sống trong cảnh quản chế, vẫn không ngừng lên tiếng đưa ra Giải pháp dân chủ hoá Việt Nam từ tháng 2/2001 để cứu nguy tình thế.

Ngài đã tố cáo nạn Bô-xít Tây nguyên như tung đội thứ Năm của Bắc Kinh, tố cáo sự xâm lấn biển đảo của Trung quốc, mà biến cố dàn khoan Hải Dương 981 xảy ra năm ngoái là một trong các minh chứng.

Tiếp tục phát triển

Nhiều hoạt động thiện nguyện đang được cộng đồng Phật giáo Việt Nam ở trong nước tiến hành hỗ trợ người dân.

Hiện nay, Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống nhất chỉ tồn tại trong thực tế, chứ Nhà nước không công nhận. Tuy nhiên Giáo hội vẫn tiếp tục cuộc vận động đòi hỏi phục hồi quyền sinh hoạt pháp lý, và tranh đấu cho tự do tôn giáo, nhân quyền, dân chủ.

Hiện Giáo hội có 20 Ban Đại diện trong các tỉnh thành. Nhưng mọi sinh hoạt văn hoá, giáo dục, tín ngưỡng đều bị sách nhiễu và cấm đoán.

Vậy tương lai của Giáo hội sẽ ra sao? Vẫn là tương lai của Phật giáo nói chung trên thế giới, đạo Phật tiếp tục truyền thừa và phát huy rực rỡ, hiện đang phát triển mạnh tại các nước Âu Mỹ sau gần ba nghìn năm khai đạo.

Trong khi ấy, các chế độ gian ác, độc tài đến đâu cũng chỉ có một thời.

Tương lai Phật giáo Việt Nam tuỳ thuộc một là Đảng Cộng sản chấp nhận tiến trình dân chủ hoá để hình thành thể chế dân chủ đa nguyên, hoặc một biến cố do nhân dân tự đứng lên thực hiện dân chủ.

Người xưa nói, chở thuyền là nước, lật thuyền cũng là nước. Nước là nhân dân.


Giáo hội Công giáo VN sau biến cố 30/4

30/4/1975 là sự kiện có hàng triệu người vui, nhưng cũng có hàng triệu người buồn, theo cố Thủ tướng Việt Nam Võ Văn Kiệt.

Biến cố 30/04/1975 – như cố Thủ tướng Việt Nam Võ Văn Kiệt đã từng nói với BBC – là một sự kiện mà khi nhắc đến có hàng triệu người vui nhưng cũng có hàng triệu người buồn.

Triệu người buồn vì ngày ‘miền Nam giải phóng’ hay sau khi ‘đất nước thống nhất’ cũng là lúc họ phải bỏ nước ra đi hoặc bị bắt bớ, tù giam, phải đi cải tạo, mất tài sản hay chịu những thua thiệt, ngược đãi khác.

Giáo hội Công giáo cũng phải đối diện với khá nhiều mất mát, giới hạn sau ngày 30/04/1975.

Giám mục bị giam

Một ví dụ điển hình cho những mất mát, đau thương ấy là trường hợp Đức cố Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận.

Sáu ngày trước sự kiện 30/04/1975, Đức cha Nguyễn Văn Thuận – lúc đó là Giám mục Giáo phận Nha Trang – được Đức Giáo hoàng Phaolô VI bổ nhiệm làm Tổng Giám mục phó Tổng Giáo phận Sài Gòn với quyền kế vị.

Ngày 08/05/1975, ngài rời Nha Trang vào Sài Gòn để nhận nhiệm sở mới. Nhưng Sài Gòn vừa mới được ‘giải phóng’ không còn dễ dàng, đơn giản như trước. Vì vậy, thay vì được tự do, trọn vẹn thi hành sứ vụ mới của mình tại đây, ngài buộc phải trải qua 13 năm gian khổ, cùng cực tại nhiều trại tù khác nhau ở Việt Nam.

Bị bắt ngày 15/08/1975, ngài bị giải về lại Nha Trang và bị quản thúc tại Cây Vông, Diên Khánh, Khánh Hòa. Sau đó, ngài bị đưa vào giam ở Phú Khánh, Nha Trang rồi Thủ Đức.

Ngày 01/12/1976, cùng với nhiều tù nhân chính trị khác đang bị giam ở miền Nam, ngài bị đưa ra miền Bắc và những năm sau đó bị tù giam tại nhiều nhà lao khác nhau, trong đó có chín năm biệt lập – dù không một bản án, không một lần xét xử.

Có thể nói, dù chỉ là một người tu hành, ngài cũng phải chịu cảnh tù giam cơ cực, đau khổ như bao sỹ quan, quan chức của chế độ cũ khác sau biến cố 30/04.

Nếu nỗi đau lớn nhất của những sỹ quan, quan chức của Việt Nam Cộng hòa là phải sống xa gia đình, người thân, điều khiến ngài đau khổ nhất là không được gần con chiên, không được thi hành sứ vụ của mình.

Cố Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận và cố Giáo hoàng John Paul II tại Vatican.

Nhưng là một mục tử luôn sống tâm tình phó thác, tin tưởng, ngài đã đón nhận tất cả, cố gắng sống trọn vẹn ‘giây phút hiện tại’ và luôn lạc quan, hy vọng dù đó là những lúc cô đơn, đau khổ, cùng cực nhất.

‘Đường Hy Vọng’ – một trong những cuốn sách góp nhặt lại những suy nghĩ, cảm nghiệm của ngài về cuộc sống nói chung và đời sống đức tin nói riêng và nay đã được dịch ra nhiều thứ tiếng khác nhau – được viết trong những năm tháng lao tù cùng cực ấy.

Vì cảm nghiệm và sống tâm tình đó ngài đã vượt qua được những năm tháng tù giam cơ cực, đen tối, cảm hóa được bao người ngài tiếp xúc và đặc biệt không trách móc, oán hận ai dù bị ngược đãi.

Đức cha Nguyễn Văn Thuận được thả ngày 23/11/1988 và ba năm sau đó sang Rôma chữa bệnh. Vì không phép trở lại Việt Nam, ngài buộc phải ở lại Ý.

Nhưng nếu ở Việt Nam ngài bị chính quyền Cộng sản khinh thường, tìm cách cô lập, loại bỏ thì tại Rôma ngài được Tòa Thánh quý mến, trọng dụng, tôn vinh.

Năm 1994, ngài được bổ nhiệm làm Phó Chủ tịch Hội đồng Tòa Thánh Công lý và Hòa bình và bốn năm sau đó được chọn làm Chủ tịch Hội đồng này. Năm 2001, ngài được thăng lên bậc Hồng y. Chỉ ít năm sau khi ngài qua đời, Giáo hội đã chính thức mở án phong Chân phước cho ngài.

Tài sản bị mất

Cũng như Giáo hội Công giáo tại miền Bắc sau 1954, người Công giáo ở miền Nam sau 1975, phải đối diện với vô số khó khăn và chịu nhiều mất mát về tinh thần, vật chất.

Nhiều sinh hoạt, hoạt động của Giáo hội – từ những sinh hoạt đức tin, tu trì thuần túy đến các hoạt động về giáo dục, y tế, bác ái – bị giới hạn, cấm đoán.

Rất nhiều cơ sở của Giáo hội – như trường học, bệnh viện, trung tâm bác ái – bị tịch thu.

Nhiều hạn chế vẫn được chính quyền áp dụng đối với cộng đồng Công giáo ở Việt Nam, theo tác giả.

Vào năm 2009, khi đánh giá tình hình Giáo hội tại Việt Nam, Đức Hồng y Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn, khi ấy là Tổng Giám mục Sài Gòn, nhận định rằng việc thay đổi chính trị tại Việt Nam vào năm 1975 đã ‘làm tan rã khung nếp văn hoá xã hội kinh tế chính trị cũ, lôi kéo theo nhiều mất mát và giới hạn cho Giáo hội’.

Theo ngài, vì biến cố đó và với hơn 10 năm Đất nước đóng cửa, mối liên hệ giữa người Công giáo Việt Nam với thế giới bên ngoài và mối hiệp thông với Giáo hội toàn cầu hầu như bị cắt đứt.

Riêng Tổng Giáo phận Sài Gòn phải đổi tên thành Tổng Giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh, với nhiều tổn thất lớn. Cụ thể, về nhân sự: số linh mục đã giảm từ 414 xuống 226, số giáo dân từ 516.000 xuống 387.184. Về cơ sở giáo dục, y tế, từ thiện nhân đạo, Tổng Giáo phận đã mất gần 400 cơ sở.

Vì vậy, Giáo hội không còn trường học để dạy giáo lý, giáo dục đức tin cho giới trẻ; không còn bệnh viện để chữa trị, chăm sóc bệnh nhân; không còn những trung tâm từ thiện nhân đạo, những tổ chức, hoạt động bác ái xã hội để giúp người nghèo, cô thế, thiếu may mắn.

Nhưng những giới hạn, mất mát ấy không làm giảm niềm tin nơi người Công giáo. Bị loại khỏi đời sống xã hội, họ cố gắng sống niềm tin ngay tại giáo xứ, dòng tu hay trong môi trường mới của mình.

Và như Đức Hồng y Mẫn nhận định chính sự khiêm tốn sống niềm tin ấy đã dần dần đổi thay lối nhìn của nhiều người trong xã hội về Giáo hội.

Vẫn bị giới hạn

Trước sự cởi mở của chính quyền Việt Nam từ những năm cuối thập niên 1980, cũng như những người dân Việt Nam khác, người Công giáo Việt Nam được tự do, thoải mái, dễ dàng hơn trong sinh hoạt, hoạt động của mình.

Chẳng hạn, các các chủng viện bị đóng cửa sau 1975 – như chủng viện Sao Biển, ở Nha trang hay Xuân Lộc – được mở cửa trở lại để đào tạo linh mục. Các giáo xứ cũng được phép sửa chữa hay xây dựng các cơ sở thờ phượng.

Hạn chế số lượng cơ sở tôn giáo, văn hóa, giáo dục và từ thiện của công giáo gây ảnh hưởng tới chính phát triển cộng đồng ở Việt Nam, theo tác giả.

Nhưng đến giờ, dù quan hệ giữa chính quyền Việt Nam và Giáo hội Công giáo đã được cải thiện nhiều và bốn vị lãnh đạo cao nhất – Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Thủ tướng và Chủ tịch Quốc hội – của Việt Nam đã được Đức Giáo hoàng Benedict và sau đó Đức Giáo hoàng Francis tiếp đón, người Công giáo Việt Nam ít nhiều vẫn bị phân biệt đối xử. Quyền lợi cũng như đóng góp của họ vẫn chưa được ghi nhận, tôn trọng đúng mức.

Chẳng hạn, một số cơ sở của Giáo hội – như Giáo hoàng Học viện tại Đà Lạt, nơi đến nay đã có tới 10 Giám mục Việt Nam từng theo học – vẫn chưa được trả lại cho Giáo hội.

Giáo Hội vẫn chưa có chỗ đứng trong hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội – đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục, y tế, từ thiện, nhân đạo. Đây là những nơi mà Giáo hội luôn được mời gọi dấn thân phục vụ và cũng là những lĩnh vực mà Giáo hội có nhiều tiềm năng, thế mạnh và Việt Nam đang có nhiều bất cập.

Trong bản ‘Nhận định về một số tình hình tại Việt Nam hiện nay’ năm 2012, Ủy ban Công lý và Hòa bình của Hội đồng Giám mục Việt Nam đã nêu ra một số vấn đề đáng quan ngại ở Việt Nam – trong đó những bất cập về giáo dục, y tế. Bản Nhận định này cũng nhắc lại rằng nếu đã kêu gọi ‘xã hội hóa’ giáo dục và y tế, chính quyền Việt Nam ‘nên tạo điều kiện để các tôn giáo trong nước được tham gia trực tiếp vào hai lĩnh vực này’.

Nhắc lại một vài mất mát, giới hạn mà người Công giáo – cũng giống như bao nhiều người Việt khác – phải chịu trong 40 năm qua không nhằm gây hiềm khích, nghi kị, chia rẽ. Vì luôn được mời gọi sống yêu thương, hòa giải và tha thứ – và đặc biệt trong bối cảnh vẫn có hàng triệu người Việt buồn dù đất nước đã thống nhất 40 năm – Giáo hội càng cảm thấy cần sống trọn tâm tình hòa giải, bao dung đó.

Nhưng nhắc lại những điểm đó để nói lên rằng xã hội Việt Nam sẽ tốt đẹp hơn, đất nước sẽ giàu mạnh hơn nếu không ai bị bất công đối xử vì chính kiến và cũng không ai tự độc quyền yêu nước hay – như lời của cố Thủ tướng Việt Nam ông Võ Văn Kiệt – coi Tổ quốc là của riêng mình.

30/4 Quê hương xa mờ dần

  • 19 tháng 4 2015
Một góc Bến Bạch Đằng ở Sài Gòn trong những ngày cuối tháng 4/1975.

Với kinh nghiệm cuả ba tôi, một nhà cách mạng quá cố, đã từng chống Pháp và Việt Minh, vào những ngày đầu tháng Tư năm 1975, anh cả tôi đã nói với tất cả các anh em đều là quân nhân quân đội Cộng Hoà, ai có tàu bè, có máy bay cứ tư do quyết định đi đâu thì đi.

Thế nhưng với tinh thần quốc gia khí phách, đã từng đi Mỹ và hoạt động chung với người Mỹ, anh tôi vẫn tỏ ra không thân thiện với họ.

Những ngày cuối cuả tháng tư năm 1975. Mọi việc thay đổi hẳn, thái độ hận người Mỹ đã bỏ rơi miền Nam, thêm vào đó bà cụ thân sinh chúng tôi không muốn đi Mỹ; và anh tôi cũng e ngại sang xứ sở xa lạ làm gì để sống; và anh tôi quan niệm rằng người Việt cộng sản đối xử với người Nam Việt sau chiến tranh cũng không đến nỗi nào, sướng cùng sướng, khổ cùng khổ.

Hình ảnh những người di tản bị người Mỹ đấm đạp không cho lên máy bay trực thăng, qua Guam bị xịt thuốc sát trùng DDT, đã khiến ông trở nên quyết liệt, không muốn ra đi kéo theo một loạt 5 anh em cùng ở lại.

Các Hạm Trưởng đàn em của ông đem xuồng đến tận nhà đón cả gia đình, ông đều từ chối.

Anh kế cuả tôi, một thiếu tá không quân đã mang vợ con vào phi trường Tân Sơn Nhất để chờ máy bay di tản, nhưng phi trường bị pháo kích dữ dội và bị một cú hải pháo công kích cuả ông anh ruột:

"Mày tính đưa vợ con mày sang Mỹ để làm đĩ hả?"

Ông anh kế của tôi rất bực bội, đành cuốn khăn gói đem vợ và 4 đứa con còn nhỏ dại trở về nhà.

Em kế tôi mới vừa mới tốt nghiệp dược khoa, thừa sống, thiếu chết trở về Sài Gòn từ Đà Nẵng giữa cảnh hãm hiếp, cướp bóc trên các con phà lênh đênh trên biển đã khiến những bức tranh vẽ về các vụ di tản trở nên thật tồi tệ.

Ở lại và đi tù

Nhiều người dân chạy nạn tại khu vực Xuân Lộc, cửa ngõ Sài Gòn, những ngày giữa tháng 4/1975.

Không có một quân đội nào trên thế giới can đảm và có kỷ luật như binh lính miền Nam khi các máy bay chở những người chỉ huy cuả họ chạy sang đảo Guam, các hàng không mẫu hạm Mỹ cuả Đệ Thất Hạm Đội chờ sẵn ngoài khơi để đón các đoàn người di tản; trong khi viện trợ quân sự và nhất là viện trợ kinh tế bị Quốc Hội Hoa Kỳ cắt tàn nhẫn.

Những người lính chiến biết chắc họ sẽ không được lãnh lương, vợ con sẽ nheo nhóc vừa phần thiếu thốn vũ khí đạn dược, nhưng họ vẫn ghì tay súng tại mặt trận Xuân Lộc cho đến khi Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng.

Sau 30/4 1975. Cả năm anh em đều lần lượt, người mang theo 10 ngày ăn, người 15 ngày rủ nhau tình nguyện đi trình diện học tập cải tạo để sớm về "lao động" kiếm tiền nuôi mẹ, nuôi vợ, nuôi con.

Khi chúng tôi làm bản tự khai sơ yếu lý lịch, thì chúng tôi phải điền và mục ngày bị bắt là ngày đi trình diện học tập cải tạo.

Mẹ chúng tôi trở nên hao mòn, người choắt lại như đưá trẻ khi vào thăm nuôi tôi lần đầu tiên tại trại cải tạo Hóc Môn.

Trông thấy tôi, bà cụ oà khóc, viên quản giáo to tiếng:

"Bà không động viên con bà mà còn khóc lóc cái gì?"

Mẹ tôi trả lời: "Tôi thương con tôi, tôi khóc, anh cấm cả khóc à?"

Năm anh em đều đi tù cải tạo, người ra Bắc, kẻ trong Nam. Người 3 năm, người 6 năm, người 12 năm. Các bà chị ruột , chị dâu đầu tắt, mặt tối buôn thúng bán mẹ, chạy chợ trời lam lũ để nuôi con, nuôi chồng.

Sau hơn 6 năm tù tội, có lúc tuyệt vọng muốn kết liễu đời mình trong lúc bệnh hoạn thập tử nhất sinh khi nghe tiếng trống báo thức giuã núi rừng Kà Tum âm u, chướng khí. Khi tôi được nghe lệnh thả, bèn ba chân, bốn cẳng đi vội càng xa cánh cửa nhà tù càng tốt bấy nhiêu.

Lần lượt vượt biên

Bà cụ tôi mặt mũi xanh xao vừa mở cửa nhà đón tôi vào nhà đã ôm tôi khóc và báo cho tôi biết là anh cả và em út đã bị bắt trên đường vượt biên, mặt đất dưới chân tôi dường như bị sụp đổ.

Làn sóng tị nạn Việt Nam đã bùng nổ mạnh mẽ từ 4/1975 và phát triển thành cao trào thuyền nhân trong các năm thập niên 1970, 1980.

Trong thời gian bị quản chế tôi phải trình diện công an khu vực và họp tổ dân phố mỗi tuần, ban ngày ngược xuôi đạp xe bán mối thượng vàng, hạ cám kiếm tiền nuôi thân.

Bà cụ tôi vẫn muối dưa cà gánh gồng đưa ra chợ bán.

Sau nhiều lần vượt biên thất bại, một lần bị bắt, tôi đã bứt dây trói trốn thoát, chạy trối chết dưới hàng loạt đạn AK 47 nã đuổi theo sau lưng.

Theo dõi sinh hoạt hơi thất thường cuả tôi, công an khu vực gọi tôi lên chỉ vào mặt:

"Anh coi chừng!"

Ngay ngày hôm sau, đúng ngày Quốc Khánh Mỹ 4/7/1984, tôi đi vượt biên lại thất bại phải trở về vì không tìm được chiếc ghe lớn.

Sau đó 4 ngày, gặp đúng chuyến, tôi đã lái ghe chở 67 người vượt thoát đến dàn khoan Udang Natuna ngoài khơi Nam Dương (Indonesia) an toàn.

Sang Mỹ, tôi đổi nghề lái tàu, sang nghề đóng máy bay cho Boeing, Airbus, tháng 6 năm nay sẽ lãnh tiền Social Security (chế độ hưu bổng) vừa tròn đúng 70 tuổi.

Mong mỏi tương lai

Nhìn lại dấu mốc 40 năm, tôi tiếc thương cho ngưới anh cả giỏi giang, khí khái đã mất tích trên biển trên đường vượt biên năm 1987.

Đó là một người anh đã hy sinh, tận tụy cho gia đình, yêu thương văn hoá, yêu nước và dân tộc Việt Nam, một người có học từng tốt nghiệp trường Albert Sarraut tại Hà Nội.

Tôi rất thương tiếc những thanh niên tuấn tú cả hai miền đã bỏ mình trên chiến trường vì chủ nghĩa, ý thức hệ ngoại lai, vì những dối trá, lường gạt cuả một nhóm lãnh tụ hoạt đầu đầy tham vọng.

Tác giả mong sớm có một đất nước Việt Nam dân chủ, tự do, thịnh vượng sau 40 năm cuộc chiến Việt Nam khép lại.

Binh sĩ hai miền đã dùng võ khí cuả ngoại bang chém giết lẫn nhau gây hận thù chia rẽ dân tộc không biết bao giờ mới chấm dứt.

Nếu không có cuộc chiến tranh phi lý Quốc, Cộng, đất nước được thống nhất trong hoà bình, với tinh thần đoàn kết cả hai miền, dân Việt sẽ dư sức dốc tâm kiến tạo một nước Việt Nam cường thịnh không khó khăn gì.

Thiển nghĩ, với những người lính đã cầm súng chiến đấu ở hai bên chiến tuyến và đồng bào trong và ngoài nước việc cảm thông, nối vòng tay Việt không là một trở ngại lớn.

Nhưng việc hoà hợp, hoà giải giữa đồng bào Hải Ngoại, những người bất đồng chính kiến trong nước với nhà cầm quyền cộng sản Hà Nội hiện tại mới chính là vấn đề thực nan giải.

Từ quê hương thứ hai, qua Thái Bình Dương bao la, xanh ngát, nhìn về cố quốc, mong sớm có một đất nước Việt Nam dân chủ, tự do, thịnh vượng.


'Ngày Ðại Họa' 



Lê Tuấn
(Bài viết cho mục Hồi Ức 30 Tháng Tư và Ðời Tị Nạn)

Trước năm 1975, tôi là sĩ quan bộ binh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Từ ngày ra trường đến ngày mất nước, 30 Tháng Tư 1975, biên cương là nhà và ít khi tôi có dịp về thăm cha mẹ. Mỗi lần tôi được vài ngày phép về, mẹ tôi mừng mừng tủi tủi và nói: “Con lớn rồi sao không lập gia đình, ưng cô nào cha mẹ cưới cho, có cháu nội cha mẹ vui.”


Trong tù cải tạo. Cảnh trong phim Vượt Sóng của đạo diễn Hàm Trần. (Hình: Internet)

Tôi chỉ cười hề hề và nói: “Từ từ mẹ ạ,” và tôi giải thích cho mẹ tôi hiểu: “Con bây giờ ở nơi tiền tuyến, từng giây, từng phút đối diện với quân thù không biết việc gì xảy ra cho con, độc thân thì quá dễ chẳng liên lụy với ai cả, nếu có vợ có con thì thật là phiền phức, cảnh vợ góa, con côi tội lắm, hơn nữa con và vợ con chỉ gần nhau vài ngày một năm thì đâu có hạnh phúc, chỉ gây thêm cảnh kẻ nhớ người mong, mẹ ạ.” Nghe tôi giải thích, mẹ tôi lặng thinh.

Thế rồi ngày 30 Tháng Tư năm 1975 ập đến đem tang tóc cho cả miền Nam Việt Nam. Ðơn vị tôi lúc đó chạy về Thủ Ðức, sau khi nghe lệnh đầu hàng, tôi rất bàng hoàng và buồn bã trước cái cảnh chia tay giữa đồng đội đã từng sống chết bên nhau, chia nhau từng mẩu thuốc, bây giờ mỗi người tự lo liệu lấy. Khi mọi người đi hết còn lại một mình tôi đứng ngoài hàng hiên một ngôi nhà ngói cũ xưa.

Tôi rút khẩu colt 45 định kết liễu đời mình cho xong thì nghe tiếng gọi: “Anh Tuấn vào đây thay quần áo kẻo nguy hiểm lắm.” Tôi quay lại thấy một thiếu nữ đứng bên cửa, không hiểu sao cô lại biết tên tôi, thì ra tôi còn mặc bộ quân phục, cấp bậc và bảng tên còn nguyên vẹn. Cô đưa cho tôi bộ thường phục và đôi dép. Tôi thay quân phục và cô đem khẩu colt 45 ném xuống giếng bên cạnh nhà. Tôi cảm ơn cô và vội vàng hòa với dòng người di tản về Saigon, về đến nhà mới hay mình mặc áo đàn ông nhưng quần đàn bà.

Nghe tin phải trình diện cải tạo vào sáng mai, chiều hôm đó tôi gấp bộ đồ và đôi dép, đạp xe lên Thủ Ðức để trả lại và cám ơn cô vào khoảng 4 giờ chiều. Cô mời tôi vào nhà và nói: “Cha mẹ em đi Biên Hòa thăm người bà con mới chết, có một mình em ở nhà thôi.”

Tôi và cô nói chuyện đến 6 giờ chiều vẫn chưa thấy cha mẹ cô về, chúng tôi hỏi thăm nhau gia cảnh và đủ thứ chuyện, cô rất lo lắng cho số phận của các sĩ quan đi trình diện cải tạo ngày mai, cô cho tôi địa chỉ và tên họ “Tô Mỹ Phương” cái tên sao mà đẹp quá, tôi nói đùa: “Bộ em là cháu nội của Tô Ðông Pha hay là Tô Ðịnh?” Cô trả lời, “em hổng biết.” Sau cùng trời chuyển mưa, tôi tạm biệt ra về, trong lúc chia tay mắt cô ứa lệ và không hiểu tại sao mà chúng tôi ôm nhau rồi hôn nhau, trong lúc đó tay tôi đụng hẹ vào ngực cô (bên ngoài áo và chỉ vô tình thôi nhé). Cô nói với tôi: “Nụ hôn đầu tiên.”

Thời gian cải tạo lúc ở Long Khánh, Phú Quốc, Hoàng Liên Sơn, khi quân Tàu đánh Lạng Sơn thì di chuyển về Vĩnh Phú. Cô thăm nuôi tôi cả thảy 10 lần, 6 lần ở trong Nam và 4 lần ở ngoài Bắc, lần cuối cùng cô thăm tôi là lúc tôi đang bệnh rất nặng, tôi phải nhờ bạn bè dìu ra và đem đồ thăm nuôi vào trại. Tối hôm đó, tôi hôn mê không còn biết cô đã tiếp tế những thứ gì. Theo bạn bè kể lại, tôi đã chết lúc gần sáng, sáng hôm sau cán bộ cho hai người đào huyệt và sau đó cho hai người khiêng tôi đem chôn, nhưng khi đến nơi huyệt còn nông quá phải cho đào sâu thêm. Họ đặt tôi nằm bên cạnh và cả bốn người cùng đào. Khi xong thì tôi hồi tỉnh lại, thở và chân tay cử động nhẹ. Cán bộ ra lệnh chôn nhưng bốn người bạn năn nỉ xin đem tôi về trại. Cán bộ quyết định chôn và nói: “Trước sau gì nó cũng chết, chôn để khỏi mất thì giờ.” Cả bốn người bạn năn nỉ mãi và cuối cùng tôi được khiêng về trại. Anh em lấy đồ tiếp tế của tôi gồm một ít sữa bột, vài ký gạo, thuốc tây, anh em cho tôi uống sữa và uống thuốc nhưng mất cả 3 tháng trời tôi mới tạm bình phục.

Khoảng 3, 4 năm sau tôi không thấy cô đến thăm, tôi buồn và đặt nhiều nghi vấn, tôi tự hỏi, có thể cô đã sang sông hay việc gì chẳng lành đã xảy ra... “Chết hay cô đã đi lấy chồng?”

10 năm sau tôi được tha về, việc đầu tiên là đi thăm mộ cha mẹ tôi đã qua đời khi tôi còn ở trong tù, hôm sau đạp xe lên Thủ Ðức thăm cô và gia đình cùng cám ơn cô đã thăm nuôi tôi. Vừa bước vào nhà, tôi thấy hình cô trên bàn thờ, lòng tôi quặn đau, nước mắt cứ tuôn trào, tôi khóc và khóc rất nhiều không nói nên lời. Mười phút sau tôi mới thưa chuyện được với cha mẹ cô và được ông bà cho biết, cô chết sau khi ra Bắc thăm nuôi tôi trở về đến Quảng Bình xe bị tai nạn, vì đường sá xa xôi khó khăn, khi gia đình biết tin ra đến Quảng Bình thì cô đã được chôn cất ở nghĩa trang. Ba năm sau, gia đình ra Quảng Bình để đem hài cốt về thì nghĩa trang đã bị giải tỏa để xây nhà cho cán bộ, không biết hài cốt để đâu?

Nghe kể đến đó, tôi lại khóc và thưa: “Thưa hai bác, vì con mà Phương chết, xin hai bác tha thứ cho con.” Ông bà cũng sẵn lòng thông cảm vì chuyện đã rồi.

Thời gian được tha về, thỉnh thoảng tôi đến thăm ông bà, sau mấy lần vượt biên thất bại, sau cùng tôi đi đường bộ sang Campuchia và Thái Lan. Năm 1987, tôi đến Hoa Kỳ, cố gắng học hành và có việc làm ổn định. Tôi đã lấy tên bài hát “10 năm yêu em và cũng là mãi mãi” của nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng để làm kim chỉ nam cho cuộc sống và thường giúp đỡ cha mẹ Phương hàng năm.

Tháng 5, 2010, tôi về hưu, trong lúc nhàn rỗi, tôi làm một chuyến du lịch Hồng Kông-Trung Quốc-Thái Lan-Việt Nam, lần này cũng như ngày ra tù, việc đầu tiên là đi thăm mộ cha mẹ tôi, hôm sau đi Thủ Ðức thăm cha mẹ Phương.

Nhiều năm xa cách, ông bà không nhận ra tôi, sau khi tôi giới thiệu mới nhận ra nhau, thế là trong nhà như có đám tang, chúng tôi ôm nhau khóc đến nỗi hàng xóm chạy qua xem có chuyện gì xảy ra.

Trong lúc ăn cơm, ông bà hỏi tôi gia cảnh, đời sống bên Mỹ và đủ thứ chuyện, sau cùng ông bà muốn đề nghị “tình chị duyên em” nghĩa là tôi cưới em của Phương là Tô Mỹ Phượng là dược sĩ. Tôi trả lời: “thưa hai bác, cho con suy nghĩ.”

Về đến Mỹ tôi suy nghĩ nhiều, Phương đã chung tình và hy sinh cả mạng sống để cho tôi được sống, vậy bây giờ tôi phụ tình sao? Hơn nữa 60 năm cuộc đời, bây giờ tôi đã lố 6 năm, vậy còn gì là đời nữa. Kính mong quý vị cho vài lời khuyên sao cho “tốt đạo đẹp đời,” đẹp lòng người chết và vui lòng người sống.




SỰ THẬT VỀ CHỦ NGHĨA CS

Nhiều người đã bất chấp hiểm nguy đến tính mạng để đến đây tìm Tự do. Thay vì chịu sự áp bức của chế độ Cộng sản, họ đã tìm thấy sự an toàn ở Canada, thay vì chấp nhận số phận nghiệt ngã dưới chế độ Cộng sản, họ tìm thấy cơ hội ở Canada, thay vì phải sống trong lo sợ dưới chế độ Cộng sản, họ tìm thấy hy vọng ở Canada. An toàn, Tự do, Cơ hội và Hy vọng là biểu tượng của Canada”.
Thủ tướng Stephen Harper

Năm 2008, tổ chức Tribute to Liberty đã đệ trình chính phủ Canada dự án thiết lập một Tượng đài Nạn nhân chế độ Cộng sản để tưởng niệm hàng trăm triệu nam nữ, trẻ em trên thế giới đã bị chế độ Cộng sản sát hại.
Năm 2010, trong diễn từ về chương trình hoạt động thường niên tuyên đọc trước Quốc Hội, chính phủ Canada chính thức công bố việc tài trợ cho dự án nói trên.
Trong nhiều năm qua, Tribute to Liberty đã vận động các cộng đồng sắc tộc tị nạn đóng góp cho công trình xây dựng Tượng đài Tưởng niệm Nạn nhân chế độ Cộng sản.
Để có thêm ngân quỹ thực hiện dự án, hôm thứ Sáu 30/05, Tribute to Liberty đã tổ chức đêm gây quỹ tại Toronto Congress Centre, 650 Dixon Rd, với sự tham dự của hơn 500 thành viên các cộng đồng tị nạn Cộng sản, trong đó có người Việt đã bỏ nước ra đi tìm Tự do hiện định cư tại Montreal, Vancouver và Toronto.
Hiện diện trong đêm gây quỹ có Thủ tướng Stephen Harper, Thượng nghị sĩ Ngô Thanh Hải, Nữ TNS Yonah Kim Martin và một số dân biểu Liên bang.
Trong phần giới thiệu Thủ tướng Stephen Harper, TNS Ngô Thanh Hải đã nêu lên trường hợp cá nhân ông, đã phải rời bỏ quê hương ra đi sau khi Sài Gòn sụp đổ vào năm 1975 đồng thời cho biết Thủ tướng Harper là người đã ủng hộ việc xây dựng tượng đài ngay sau khi dự án vừa mới được khởi xướng.
Trong diễn văn khai mạc, Thủ tướng Harper đã ca ngợi nỗ lực của Tribute to Liberty và nhấn mạnh đến sự cần thiết phải xây dựng tượng đài, một di tích lịch sử để nhắc nhở các thế hệ mai sau phải biết quý trọng sự tự do và an bình mà họ đã được thừa hưởng nhờ sự tranh đấu và hy sinh của những người đi trước.
Ông Harper cho biết gần một phần tư dân số Canada đến từ các quốc gia đã và đang bị chế độ độc tài Cộng sản cai trị.
Nhân định về chủ nghĩa Cộng sản, Thủ tướng Harper nói: “Trong thế kỷ 20, ý thức hệ cộng sản độc hại đã được áp dụng một cách tàn nhẫn gây đổ máu tại nhiều quốc gia trên thế giới. Đó là một thảm họa. Hơn 100 triệu người đã ra đi vĩnh viễn vì chủ nghĩa này. Chúng ta đừng quên rằng đây không phải chỉ là những con số thống kê mà đó là cha mẹ, con cái, bạn bè, láng giềng của chúng ta. Tương lai, năng lực, hy vọng và ước mơ của họ đã bị chế độ Cộng sản tước đoạt” .
“Chủ nghĩa phát xít, chủ nghĩa Mác-Lênin, và hiện nay, chủ nghĩa khủng bố đều có một điểm chung là hủy diệt sự tự do của con người”, ông Harper nói thêm, “Canada bảo vệ và thúc đẩy việc tôn trọng các quyền tự do căn bản và lên án các hành động vi phạm nhân quyền”.
Thủ tướng Harper cũng nhắc đến sự kiện Canada đón nhận 60.000 người Việt tỵ nạn Cộng sản sau biến cố 30-04-1975.
Dịp này, ông cũng xác nhận Canada cương quyết sát cánh với Ukraine trong vấn đề bảo vệ chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ.
Tiếp đó, Linh mục Janusz Blazejak cử hành nghi thức cầu nguyện cho các nạn nhân của chủ nghĩa Cộng sản.
Ban tổ chức đêm gây quỹ đã cho trình chiếu đoạn phim mang chủ đề: “Di tích của sự khủng bố và con đường dẫn đến hy vọng: Canada tưởng niệm nạn nhân chế độ Cộng sản”.
Đêm gây quỹ đã kết thúc sau kết từ của ông Ludwik Klimkowski, Chủ tịch Hội đồng Quản trị tổ chức Tribute to Liberty.

Sự thật về chủ nghĩa CS


Phạm Nguyên Trường dịch


Trong thời gian ở thăm Latvia, ông Lee Edwards, chủ tịchQuỹ tưởng niệm các nạn chân của chủ nghĩa cộng sản, đã dành cho tờ Latvijas Avizeb buổi phỏng vấn dưới đây. Xin nói thêm rằng tổ chứcTheVictims of Communism Memorial Foundation (Quỹ tưởng niệm các nạn chân của chủ nghĩa cộng sản), do ông lãnh đạo, đang quyên góp tiền để dựng ở Washington đài tưởng niệm các nạn nhân của ý thức hệ cộng sản.



Các ông có ý định xây dựng một đài tưởng niệm các nạn nhân của chủ nghĩa cộng sản ở Washington. Tại sao hiện nay đây là công việc quan trọng?

- Chúng ta có thể nói đến 100 triệu nạn nhân của chủ nghĩa cộng sản trên thế giới. Đây là số liệu từ tác phẩm của sáu nhà trí thức Pháp, có tên là Chúa trời đã thua, do nhà xuất bản của Đại học Harvard ấn hành. Bức tường Berlin sụp đổ cách đây 20 năm, nhiều người nghĩ rằng chủ nghĩa cộng sản đã bị đánh bại, và chúng ta có thể chắc chắn rằng nó sẽ không bao giờ quay trở lại nữa. Nhưng, không được quên các nạn nhân của chủ nghĩa cộng sản. Năm 2007, chúng tôi đã khánh thành bức tượng tưởng niệm các nạn nhân của chủ nghĩa cộng sản tại Washington. Đây là hình ảnh của Nữ thần dân chủ - một bức tượng như thế đã từng đứng ở quảng trường Thiên An Môn ở Bắc Kinh (Trung Quốc). Chúng tôi đã tạo ra một bảo tàng ảo về các nạn nhân của chủ nghĩa cộng sản, và vừa mới đây đã viết xong cuốn sách giáo khoa cho các trường trung học. Quỹ tưởng niệm các nạn chân của chủ nghĩa cộng sản đang hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu di sản, nghiên cứu quá khứ, hiện tại và giáo dục. Trên thế giới vẫn còn năm nước cộng sản, và sự áp bức của các chế độ này cũng vẫn khốc liệt như trước đây. Về bức tượng, phải nói rằng hàng năm các nhà ngoại giao của nhiều nước vẫn đến thăm, cả những người đã từng là nạn nhân của chủ nghĩa cộng sản như người Trung Quốc, Việt Nam, Triều Tiên và Cuba nữa. Luật về tổ chức của chúng tôi được thông qua dưới trào của tổng thống Dân chủ, Bill Clinton; còn tượng đài khánh thành khi tổng thống là người thuộc đảng Cộng hòa, George Walker Bush, nắm quyền. Một cách nữa để chúng ta tưởng nhớ đến tác hại của chủ nghĩa cộng sản là huy chương Truman – Reagan, tặng cho những người có thành tích trong sự nghiệp chống cộng. Tên của huy chương có ý nghĩa biểu tượng vì chiến tranh lạnh bắt đầu dưới trào đảng viên Dân chủ Harry Truman, còn Ronald Reagan, đảng viên Cộng hòa, đã làm được rất nhiều trong cuộc chiến chống lại chủ nghĩa cộng sản. Giải được trao lần đầu tiên năm 1999, và một trong những người nhận đầu tiên là nhà lãnh đạo phong trào Sąjūdis, đòi độc lập cho Litva, là ông Vytautas Landsbergis.

Điều gì làm cho các nước vùng Baltic trở thành đặc biệt, nhất là trong bối cảnh của quá khứ cộng sản?

- Hoa Kỳ đã có mối liên hệ đặc biệt với các nước vùng Baltic, khi Liên Xô chiếm những nước này, chúng tôi không công nhận việc chiếm đóng và sáp nhập đó. Chính phủ Mỹ đã đưa ra tuyên bố, gọi là tuyên bố Sumner Welles. Trong bảo tàng, chúng tôi phải nói với mọi người những câu chuyện dễ hiểu, và đối với các nước vùng Baltic thì đấy là phong trào Cách mạng hát và Con đường Baltic. Tôi đã đến thăm Bảo tàng Chiếm đóng ở Riga -  Ông Nollendorfs đã làm được một công việc tuyệt vời và chúng tôi cũng sẽ làm như vậy, chúng tôi được bảo tàng của các bạn khích lệ rất nhiều. Sẽ có những cuộc triển lãm dành cho từng nước, thí dụ như Nga, Trung Quốc, sẽ một cuộc triển lãm đặc biệt dành cho các nước vùng Baltic. Ngoài ra còn có một phòng dành tưởng niệm những anh hùng chống cộng nữa. Chúng tôi có thể dựng trong bảo tàng một trại tù (Gulag) với những chiếc giường gỗ, và khi có người vào thì nhiệt độ sẽ tự động giảm xuống. Chúng tôi muốn trưng bày cả những toa tầu dùng để trục xuất người tới Siberia. Chúng tôi cũng muốn đặt một tháp canh như trên Bức tường Berlin nữa.

Xây bảo tàng như vậy thì cần bao nhiêu tiền và kiếm ở đâu?

- Theo luật pháp Hoa Kỳ, chúng ta không thể yêu cầu nhà nước tài trợ cho đài tưởng niệm đó. Đài tưởng niệm các nạn nhân của vụ diệt chủng người Do Thái (Holocaust) ở Washington cũng được xây dựng bằng nguồn vốn tư nhân. Vì vậy, chúng tôi hy vọng sẽ được các tổ chức xã hội hỗ trợ. Có thể chúng tôi sẽ yêu cầu chính phủ Mỹ hỗ trợ địa điểm đặt đài tưởng niệm, cũng như thu hút tài trợ từ nước ngoài. Hungary đã trích ra một triệu, chúng tôi sẽ sử dụng để tạo ra một nhóm công tác và cho chiến dịch quyên góp. Cần tổng cộng 100 triệu USD, một nửa làm bảo tàng, một nửa cho tổ chức làm công việc giáo dục. Mục tiêu của chúng tôi là bắt đầu xây dựng vào năm 2017, kỷ niệm 100 năm cuộc Cách mạng Bolshevik ở Nga.


Khổ đau có thể được đo không chỉ bằng số nạn nhân, mà còn có thể đo bằng kinh tế và xã hội ...

- Chủ nghĩa cộng sản là ngụy khoa học, được ngụy trang như một hệ thống kinh tế và được thực hiện bằng lực lượng võ trang. Nó được xây dựng trên nền cát ướt. Chủ nghĩa cộng sản đã gây ra những hậu quả về chính trị, kinh tế và chiến lược. Không có cộng sản thì chúng tôi đã không có các cuộc chiến tranh Việt Nam và Triều Tiên rồi. Nếu năm 1939 không có Hiệp ước Molotov- Ribbentrop thì đã không có Chiến tranh thế giới II. Chúng ta đang chứng kiến hậu quả kinh tế trong các nước vùng Baltic và Trung Âu - họ đã bị chủ nghĩa cộng sản hành hạ suốt mấy thập kỉ. Trong khi đó, Tây Âu kinh tế phát triển tốt hơn. Tất cả những người sống trong thế kỷ XX đều khổ vì chủ nghĩa cộng sản, và chúng ta phải dạy cho mọi người như thế.

 - Tại Latvia, các nhà khoa học đã tính được những thiệt hại do Liên Xô gây ra trong thời kì chiếm đóng. Có nên yêu cầu Nga bồi thường không?

- Tôi không bình luận về công việc nội bộ của Latvia, đây là vấn đề của nền chính trị địa phương.

Có thể coi chủ nghĩa phát xít và chủ nghĩa cộng sản là như nhau không?

- Holocaust là độc ác nhất. Chủ nghĩa cộng sản - cũng ác, nhưng chủ nghĩa phát xít là sự độc ác đặc biệt, không thể nào diễn tả nổi. Tôi xin lưu ý rằng Nghị viện châu Âu đã chuẩn bị một nghị quyết bày tỏ quan điểm chính trị cả về chủ nghĩa phát xít lẫn chủ nghĩa cộng sản.

 - Ở Latvia, giáo viên các trường dành cho học sinh nói tiếng Nga đưa trẻ em đến cái gọi là Tượng đài Chiến thắng và kể cho chúng nghe phiên bản của mình về lịch sử. Giải quyết vấn đề này như thế nào?

- Trong chế độ dân chủ, không thể cấm người khác nói; nhưng cùng với quyền nói, còn có trách nhiệm nói sự thật nữa. Bộ Giáo dục, Bộ Quốc phòng và các giáo viên phải làm chuyện này. Nói rằng Latvia tự nguyện tham gia Liên Xô là không đúng. Những thứ tôi nhìn thấy trong bảo tàng chiếm đóng là đúng.

Người Mỹ đương đại theo ông là như thế nào, họ có hiểu về chủ nghĩa cộng sản và di sản của hệ tư tưởng của nó không?

- Không phải tất cả người Mỹ đều biết chuyện đó. Khi chúng tôi viết sách cho nhà trường, bao gồm chủ nghĩa cộng sản của Marx, Mao và cho đến ngày nay, chúng tôi gửi cho giáo viên khắp cả nước. Họ cảm thấy thú vị. Cần dạy không chỉ học sinh về những vấn đề của chủ nghĩa cộng sản, mà còn phải dạy cả giáo viên nữa. 

 - Ông cho rằng ai là những người anh hùng trong cuộc chiến chống lại chủ nghĩa cộng sản?

- Đó là Vaclav Havel, Lech Walesa, Andrei Sakharov, Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II – đấy là bốn chiến sĩ tuyệt vời, nhưng còn nhiều người khác nữa.

Việc bổ nhiệm Karol Wojtyla làm Giáo Hoàng có phải là bước đi mang tính chiến thuật của Vatican trong cuộc chiến chống chủ nghĩa cộng sản hay không?

- Ngài là một linh mục và hồng y sống dưới chế độ cộng sản, và đã trải nghiệm tất cả ngay trên cơ thể của mình. Chuyến đi đầu tiên của Ngài tới Ba Lan sau khi trở thành Giáo Hoàng là có tính biểu tượng, trong thời gian đó Ngài nhấn mạnh: “Đừng sợ.” Câu nói đó đã khuyến khích mọi người, phong trào “Đoàn kết” được thành lập. Ba Lan trở thành tấm gương. Âm mưu ám sát Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II cho thấy ảnh hưởng chính trị của Ngài lớn đến mức nào.

 - Thách thức đối với chủ nghĩa cộng sản hiện nay là gì?

- Cho đến nay, còn năm nước cộng sản. Với bốn nước là Lào, Việt Nam, Trung Quốc và Cuba, chúng ta có thể làm việc: nói về vi phạm nhân quyền và áp dụng những biện pháp trừng phạt kinh tế. Có thể trao giải thưởng cho các nhà hoạt động. Bắc Triều Tiên là chuyện khác, đấy là nhà nước toàn trị tách biệt hẳn với thế giới. Thách thức lớn nhất hiện nay là giáo dục. Nhờ công nghệ hiện đại, nói sự thật dễ dàng hơn trước rất nhiều. Trang web của chúng tôi có hàng ngàn người đọc, trong đó có người Trung Quốc, người Việt Nam và người Cuba. Ngay cả Trung Quốc, với 80 triệu đảng viên, cũng không thể có ảnh hưởng tới toàn bộ dân số là 1,3 tỷ người. Tự do sẽ vượt qua tất cả.

Cuộc trò chuyện do nhà báo Ģirts Vikmanis thực hiện



 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email  Thảo luận


Những nội dung khác:




Lên đầu trang

     Tìm kiếm 

     Tin mới nhất 

     Đọc nhiều nhất 
Kiều bào phát triển quê hương [Đã đọc: 461 lần]
Tin tức thế giời mới nhât song ngữ Việt Anh để học sinh ngữ [Đã đọc: 434 lần]
Siêu đô thị Đà Nẵng mở rộng, siêu đầu tư địa ốc làm giàu [Đã đọc: 427 lần]
Làm Giàu Bằng Đầu Tư Chứng Khoán [Đã đọc: 415 lần]
Một châu Âu đứng trước ngã ba lịch sử [Đã đọc: 380 lần]
Làm thế nào đòi lại Hoàng Sa, Trường Sa từ Trung Cộng [Đã đọc: 369 lần]
Nghệ Thuật Làm Giàu Của Người Việt Hải Ngoại - “The Art of Wealth for Overseas Vietnamese”. [Đã đọc: 363 lần]
“NHỮNG NGƯỜI CUỐI CÙNG CÒN GIỮ LẠI CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN”** [Đã đọc: 362 lần]
Cách mạng chiếc đòn gánh của phụ nữ VN [Đã đọc: 358 lần]
Triết lý dân tộc Việt Nam siêu việt vượt tất cả triết lý Tàu, Tư Bản và CS [Đã đọc: 357 lần]

Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ

Bản quyền: Vietnamville
Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút: Tân Văn.