60 năm trước: VNCH một nền kinh tế phồn thịnh nhất ĐNÁ - Phong trào SouthVietExit
01.07.2016 17:53
Võ thị Linh
Tuy chỉ hiện diện trong khoảng 20 năm ngắn ngủi, nước Việt Nam Cộng Hoà cũng kịp ghi lại nhiều dấu ấn. Các chánh phủ VNCH, ở thời đệ Nhất và đệ Nhị Cộng hoà, dù đối diện vô vàn thách thức, dù phải đương đầu với võ lực xâm lăng của chủ nghĩa cộng sản từ phương bắc, vẫn đủ sức điều hành một xứ sở với gần 20 triệu người một cách hiệu quả trong chừng mực có thể. Với các thành tựu điểm qua trong bài này, ở những lãnh vực kỹ nghệ, giáo dục, văn hoá… VNCH đóng góp một cái nền, một cái khung chắc chắn. Sự ảnh hưởng của nó lên cách tổ chức, ý thức, và đời sống người Việt về sau này sẽ cần thêm thời gian để người ta nhận biết rõ.
Thời VNCH cũng tạo ra một lớp người mới, có tri thức, chánh trực, hết lòng phụng sự quốc gia. Chỉ tiếc rằng sau một cơn biến động, đa phần trong số họ không có cơ hội giúp phục hưng xứ sở, thậm chí còn phải hứng chịu nhiều sự trả thù ác hiểm. Thế cho nên, dù đã thôi tồn tại 41 năm rồi, VNCH vẫn còn được nhiều người nhắc nhở, nửa như niềm hãnh diện chưa phôi phai, nửa như nỗi lưu luyến dịu dàng, về một thời thanh xuân cũ, về cái buổi ban đầu trẻ trung nhiều hứa hẹn… Và có lẽ, từ nỗi nhớ nhung nhẹ nhàng này của nhiều người Việt, sẽ bật ra những tia hy vọng, hướng về một tương lai khác hơn, về sự phục sinh của các giá trị đẹp, và sự rõ ràng sòng phẳng với nhiều sự thật lịch sử còn ẩn khuất.
Nền Đệ Nhất Cộng Hoà, với các quốc sách táo bạo, kêu gọi đầu tư, đã giúp mở mang nhiều ngành kỹ nghệ. Sang Đệ Nhị Cộng Hoà thì các ngành vật liệu xây dựng, chế biến thực phẩm, cùng nhiều dịch vụ lại gặp thời thi triển mạnh mẽ. Đến đầu thập niên 1970, VNCH đón nhận một tin khả quan: việc phát hiện mỏ dầu Bạch Hổ. Theo dự trù của các chuyên gia, Miền Nam sẽ sản xuất ra dầu hoả từ khoảng 20 giàn khoan trễ nhất vào năm 1977, đem về cho quốc gia nguồn ngoại tệ thiết yếu. Tiếc thay, công việc dở dang thì đại cuộc sụp đổ.
Vài nét về nền kinh tế VNCH.
Như đã nhắc bên trên, ngay từ 1957, VNCH dưới quyền điều hành của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, đã ban hành nhiều kế sách đầu tư mạnh mẽ, nhằm thu hút các nhà kỹ nghệ nội địa lẫn ngoại quốc bỏ vốn làm ăn. Đổi lại, chánh phủ dành cho họ nhiều ưu đãi thuế khoá, giảm lệ phí thuê mướn cơ sở, đất đai… Đây có thể nói là những quyết sách mang tầm chiến lược, tạo cơ hội phát triển chưa từng thấy cho các ngành công nghiệp nhẹ. Để đối chiếu, đến mãi 1986, lúc cận kề cơn khánh tận của đường lối “kinh tế xã hội chủ nghĩa”, nhà cầm quyền Hà Nội hiện tại mới bắt chước “mở cửa đầu tư”, vừa kịp thoát hiểm.
Ngoài kêu gọi đầu tư, có nhiều chánh sách thời Đệ Nhất Cộng Hoà đã đặt nền móng cho sự bền vững của Miền Nam hơn một thập niên sau: việc thành lập Phủ Tổng Ủy Dinh Điền có thẩm quyền trên những cuộc khai khẩn đất hoang, chánh yếu ở Cao nguyên Trung phần; mở Hội Đồng Kinh Tế Quốc Gia đặt dưới quyền Phó Tổng Thống; xin vào Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế; khuếch trương Quốc Gia Doanh Tế Cuộc, sau đến Trung Tâm Khuếch Trương Kỹ Nghệ, nhằm yểm trợ giới doanh gia mới khởi nghiệp, v.v…
Trước sân của Hạ Viện VNCH trước 1975
Những thành tựu đáng kể
Trong khoảng 20 năm hiện hữu của VNCH, ngành công nghiệp nhẹ tăng khoảng 250% đến 300%. Kinh tế vẫn chánh yếu đặt trên dịch vụ (chiếm hơn 50% tổng sản lượng quốc gia). Cuối thập niên 1950, VNCH xây xa lộ Biên Hoà ở phía Bắc Sài Gòn, là công trình giao thông công cộng có thể nói tân tiến nhất toàn vùng Đông Nam Á khi đó.
Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đã tích cực triển khai chiến lược công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu. Các hàng rào thuế quan và phi thuế quan được dựng lên để bảo hộ một loạt ngành công nghiệp nhẹ. Kết quả phải kể đến nhà máy giấy đầu tiên ở Việt Nam: nhà máy giấy Cogido An Hảo (1961) ở Biên hòa, thỏa mãn 30-40% nhu cầu tiêu thụ giấy trong nước; hai xưởng dệt Vinatexco và Vimytex với năng suất 13,2 triệu mét vải mỗi năm; nhà máy thủy tinh Khánh Hội năng suất 15.000 tấn/năm; hai nhà máy xi măng, một ở Hà Tiên, một ở Thủ Đức với năng suất 540.000 tấn mỗi năm; và đập thủy điện Đa Nhim, hoàn thành năm 1961. Đồng thời, các loại máy móc, kim loại – những đầu vào cho các ngành được bảo hộ – được ưu tiên nhập khẩu. Trong khi hạn chế nhập khẩu, xuất khẩu được khuyến khích. Một số mặt hàng xuất khẩu còn được chính quyền trợ cấp. Ngay cả tỷ giá hối đoái cũng được điều chỉnh thuận lợi cho xuất khẩu (thông qua trừ đi một mức phụ đảm). Thời kỳ 1955-1965 là thời kỳ tốt đẹp nhất của xuất khẩu của Việt Nam Cộng hòa.
Vai trò của chính phủ trong phát triển kinh tế còn thể hiện rõ qua việc triển khai kế hoạch kinh tế 5 năm (Việt Nam Cộng hòa gọi làNgũ niên Kinh tế Kế hoạch do Tổng nha Kế hoạch thiết kế) từ năm 1957 tới 1962 (Kế hoạch Ngũ niên I) và từ năm 1962 tới 1966 (Kế hoạch Ngũ niên II). Chính phủ VNCH còn thành lập khu công nghiệp (hay khu kỹ nghệ theo cách gọi tại VNCH lúc đó) để tạo thuận lợi cho đầu tư vào lĩnh vực chế tạo. Cụ thể, Khu kỹ nghệ Biên Hòa được thành lập vào tháng 5 năm 1963, và Công ty Quốc gia Khuếch trương Khu Kỹ nghệ (SONADEZI – Société nationale du Dévelopment dé zones industrielles) được thành lập vào tháng 12 năm 1963 để quản lý và phát triển các khu công nghiệp, Khu kỹ nghệ Phong Dinh(Cần Thơ ngày nay) được thành lập vào năm 1967, chưa kể đến Khu kỹ nghệ An Hòa – Nông Sơn(Quảng Ngãi) được thành lập từ trước đó. Bên cạnh đó, để khuyến khích đầu tư tư nhân, chính quyền VNCH đã có các biện pháp hỗ trợ về tín dụng, chẳng hạn như thành lập Quốc gia Doanh Tế Cuộc vào năm 1955 mà sau đó được thay thế bằng Trung Tâm Khuếch Trương Kỹ Nghệ vào năm 1958, để hỗ trợ các doanh nghiệp mới (theo cách gọi ngày nay là ươm tạo doanh nghiệp), hướng dẫn cho các doanh nghiệp về mặt công nghệ và tài chính, cho doanh nghiệp vay với lãi suất thấp
Về nông nghiệp, nhờ cải tiến kỹ thuật, năm 1973 nông dân thu hoạch gần 5 triệu tấn gạo, gần đủ cho nhu cầu quốc nội. Ước lượng sang 1976 có thặng dư để xuất cảng. Cũng có kế hoạch xuất cảng tôm lên đến 30 triệu Mỹ kim năm 1975, nhưng việc chưa thành thì cơ đồ đã mất. Ngoài ý nghĩa chánh trị và quân sự — nhằm cô lập các phần tử cộng sản — những Khu Dinh Điền/Khu Trù Mật có từ thời Đệ Nhất Cộng Hoà là chiến lược xây dựng nông thôn hữu hiệu.
Nhiều gia đình khi đó được cấp đất miễn phí, được yểm trợ thêm lương thực và tài chánh trong vòng 6 tháng. So sánh với các kế sách này, sau 1975 chương trình “Kinh Tế Mới” thảm khốc vì đảng cộng sản yểm trợ tối thiểu, lùa dân vô rừng chẳng khác nào… đem con bỏ chợ.
Về hạ tầng cơ sở, đến đầu 1970, Việt Nam Cộng Hòa có trên 1,200 cây số đường xe lửa, khoảng 20,000 điện thoại, 50 đài phát thanh và 4 đài truyền hình lớn (ở Sài Gòn, Huế, Quy Nhơn và Cần Thơ).
Kinh tế giữa thời tao loạn
Đầu thập niên 1970, thu nhập bình quân đầu người của VNCH đạt khoảng $150 / năm, vượt xa các lân bang Thái, Ấn “India”, Bangladesh, Pakistan… Thời đó, một sĩ quan về nhận đơn vị có mức sống tương đối ổn định, tùy theo đơn vị, lại được cấp nhà riêng trong khu gia binh, đủ gánh vác gia đình. Lương tháng của một tổng trưởng có thể mua được 10 cây vàng.
Quốc gia Việt Nam Cộng Hoà phát triển giữa cơn hoành hành của chủ nghĩa cộng sản. Các phần tử cộng sản nằm vùng ưu tiên sách lược khủng bố, thanh trừng, ám sát — tất cả nhằm làm chậm đà tiến triển của Miền Nam. Với Nga Sô và Trung Cộng chống lưng, Bắc Việt tung hằng chục ngàn cán binh thiếu niên vào chiến trường mỗi năm, núp dưới những cánh rừng già mé Tây rặng Trường Sơn. Chiến cuộc leo thang gây xáo trộn xã hội, bất ổn kinh tế, khiến sản xuất đình trệ. Chánh phủ về sau càng lúc càng phải nhập cảng nhiều hàng tiêu dùng, tạo ảo tưởng xã hội tiêu thụ, là nguồn cơn cho không ít bất mãn.
Chương trình “Cải Cách Điền Địa” là 1 trong những mục tiêu bị cộng sản quấy phá mãnh liệt nhất. Đối phương hiểu rằng, nếu cải cách thành công có nghĩa mầm bất mãn biến mất trong nông dân — giới cần lao mà họ nhắm đến và liên lỉ mua chuộc. Những nỗ lực phá rối của địch quân khiến chương trình này tiến triển chậm chạp hơn dự liệu. Không ít cán sự nông thôn bị ám sát. Nhiều nông phu bị cộng sản uy hiếp không dám ra mặt cộng tác với chánh phủ quốc gia…
Sự phá hoại của các lực lượng cộng sản rõ nét nhất trong trận mùa hè đỏ lửa 1972. Trên 200 cây cầu và đường sá bị huỷ hoại. Ngành cao su thiệt hại 40% doanh số vì đất đai hoá bãi chiến trường. Thêm một vấn nạn kinh tế là dòng người di tản chạy trốn các cơn pháo kích của chiến binh cộng sản. Hằng triệu nạn nhân chiến tranh trong bao nhiêu năm khiến xã hội phân tán tài nguyên, trong khi nông thôn thiếu người canh tác.
Gánh nặng chiến tranh khiến hơn một nửa ngân sách quốc gia phải dành cho quốc phòng. Ngân khố liên tục bị thâm hụt, chưa nói đến dự trữ chiến lược. Một hậu quả nữa là giới tư bản Tây Phương từ từ xa lánh thị trường Miền Nam, quay sang Hongkong, Đài Loan “Taiwan” và các lân bang khác để đầu tư.
Nhiều người từng sống ở Miền Nam trước đây có lẽ vẫn còn nhớ chiếc xe La Dalat, biểu tượng của công nghệ xe hơi non trẻ. Khởi thuỷ là một cơ xưởng của Citroen mở từ năm 1936. Đến đầu thập niên 1970, hãng này gọi là “Citroen Xe Hơi Công Ty”, đóng nhiều phiên bản xe La Dalat khác nhau, mở cửa hoạt động đến năm 1975. Ngày nay, vẫn có nhiều người chơi xe cổ sưu tập các xe La Dalat này, đặc biệt ở Sài Gòn. Chiếc xe tí hon, đơn giản, song ít nhiều gợi niềm hoài cảm, và hãnh diện cho người miền Nam một thuở, đã bước vào kỹ nghệ đóng xe hơi từ rất sớm. Vào thời điểm này, sáng lập viên của hãng xe Hyundai (ngày nay cạnh tranh ráo riết với xe Nhật) mới là tiểu thương bên Nam Hàn. Dù lắp ráp với nhiều phụ tùng ngoại quốc, La Dalat vẫn là chiếc xe hơi đầu tiên mang nhãn “Made in Vietnam”, mẫu mã của riêng VN, lăn bánh trên đường phố VN. Hãng xe này hoạt động đến năm 1975 rồi cũng lụi tàn theo vận nước.
Giữa đường gãy gánh
Nhu cầu chiến tranh còn giúp mở mang mạng lưới đường sá, cầu cống. Nhiều công trình kiến trúc khang trang mở ra rộng khắp xứ sở. Hơn 4,000 cây cầu và hằng chục ngàn cây số đường tráng nhựa. Có ít nhất 4 phi trường lớn đủ sức tiếp nhận phản lực cơ đủ loại: Tân Sơn Nhất, Biên Hoà, Đà Nẵng, Cần Thơ. Những hải cảng chánh mở ra ở Sài Gòn, Cam Ranh, Đà Nẵng, Nha Trang, Rạch Giá.
Sau 1975, một số công trình này trở thành phế tích, như ở Khu Kỹ Nghệ Biên Hòa, nơi các cơ sở xi măng, điện tử trở thành nhà hoang. Tình cảnh bi ai tái lập ở làng đại học Thủ Đức. Đà phát triển của Miền Nam hầu như hoàn toàn đình trệ. Việc xây cất gần như là zero trong suốt 15 năm đầu thời hậu chiến.
Tuy chỉ hiện diện trong khoảng 20 năm ngắn ngủi, nước Việt Nam Cộng Hoà cũng kịp ghi lại nhiều dấu ấn. Các chánh phủ VNCH, ở thời đệ Nhất và đệ Nhị Cộng hoà, dù đối diện vô vàn thách thức, dù phải đương đầu với võ lực xâm lăng của chủ nghĩa cộng sản từ phương bắc, vẫn đủ sức điều hành một xứ sở với gần 20 triệu người một cách hiệu quả trong chừng mực có thể. Với các thành tựu điểm qua trong bài này, ở những lãnh vực kỹ nghệ, giáo dục, văn hoá… VNCH đóng góp một cái nền, một cái khung chắc chắn. Sự ảnh hưởng của nó lên cách tổ chức, ý thức, và đời sống người Việt về sau này sẽ cần thêm thời gian để người ta nhận biết rõ. Thời VNCH cũng tạo ra một lớp người mới, có tri thức, chánh trực, hết lòng phụng sự quốc gia. Chỉ tiếc rằng sau một cơn biến động, đa phần trong số họ không có cơ hội giúp phục hưng xứ sở, thậm chí còn phải hứng chịu nhiều sự trả thù ác hiểm. Thế cho nên, dù đã thôi tồn tại 36 năm rồi, VNCH vẫn còn được nhiều người nhắc nhở, nửa như niềm hãnh diện chưa phôi phai, nửa như nỗi lưu luyến dịu dàng, về một thời thanh xuân cũ, về cái buổi ban đầu trẻ trung nhiều hứa hẹn…
Nói chung nền kinh tế Việt Nam Cộng Hòa là một nền kinh tế thị trường có nhiều tiềm năng, nếu được phát triển trong hòa bình thì sẽ có nhiều khả năng phát triển tốt hơn là chính sách phát triển tập trung sau 30/4/1975. http://www.bbc.com/vietnamese/vietnam/2015/04/150424_bui_kien_thanh_lesson_south_vietnam
Nếu Việt Nam có hòa bình thì những chính sách phát triển kinh tế bắt đầu từ nền Đệ nhất Cộng hòa vẫn được duy trì, như khu công nghiệp Biên Hòa, các trung tâm phát triển công nghiệp. Khi đó chúng ta học dần dần thì bắt đầu tích lũy kinh nghiệm và bắt đầu đi lên.
Sau 30/4 thì tất cả những kinh nghiệm đó bị chặn đứng, áp dụng kế hoạch tập trung của miền Bắc vào miền Nam, bao nhiêu doanh nghiệp bị quốc hữu hóa, doanh nhân thì vào trại cải tạo hoặc bỏ xứ ra đi.
Nền kinh tế tan vỡ ra hết và nền kinh tế tập trung không phát triển được, việc ngăn sông cấm chợ khiến nền kinh tế đi vào ngõ cụt.
Đến khi đó nhà nước cộng sản mới áp dụng chinh sách Đổi Mới. Nhưng Đổi Mới không phải là kinh tế thị trường mà là nền kinh tế ‘nhiều thành phần vận hành theo kinh tế thị trường dưới sự quản lý của nhà nước”.
Cho đến nay định nghĩa của nền kinh tế Việt Nam sau Đổi Mới vẫn chưa có gì mới hơn là định nghĩa năm 1986, là kinh tế nhiều thành phần có sự quản lý của nhà nước.
Vì vậy nên đến 2015, chúng ta vẫn bị sự chi phối nặng nề của các doanh nghiệp nhà nước, không thoát ra được tư duy kế hoạch tập trung của một số lãnh đạo, và không thoát ra khỏi sự vận hành của kinh tế nhà nước, trì trệ và không có hiệu quả.
Từ năm 1985 đến giờ ta không bắt kịp các nền kinh tế khác vì tư duy không rõ ràng, không ai biết kinh tế xã hội chủ nghĩa là cái gì. Một mặt thì nói là kinh tế thị trường, một mặt thì nói là có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Các đỉnh cao trí tệ của Ba đình đã mất hơn 30 năm mà vẫn còn loay hoay trong những việc làm không rõ ràng.
Nền Kinh tế thị trường của VNCH bị phá vỡ sau 30.4.1975
Xã Hội Chủ Nghĩa hóa, phá nát một nền kinh tế Tư Bản Thịnh Vượng của miền Nam… (Biểu Đồ GDP 1960)…
Biểu đồ So sánh GDP (US$) đầu người giữa vài quốc gia Á châu năm 1960 (từ tài liệu 1) – Theo biểu đồ 1, vào thời điểm 1960, trong số 10 quốc gia Á châu, Việt Nam Cộng Hòa (VNCH, South Vietnam, 223$) có GDP đầu người đứng sau Singapore (395$), Malaysia (299$), Philippines (257$), nhưng nhiều hơn Nam Hàn (155$), hơn gấp đôi Thailand (101$), gấp 2,4 lần Trung quốc (92$), gấp 2,7 lần Ấn độ (84$), và gấp 3 lần Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (North Vietnam, 73$).
Nhưng ngày nay, tại thời điểm này. GDP Việt Nam bị các nước bỏ xa chỉ hơn được Campuchia (theo biểu đồ trên) Nhà nước Đảng CSVN phải quay lại lấy Chủ Nghĩa Tư Bản để xây dựng Chủ Nghĩa Xã Hội và tổ chức cho hàng trăm ngàn thanh niên thiếu nữ Việt Nam xếp hàng xin qua Hàn Quốc (một quốc gia chưa cần Thống Nhất) để “ở đợ” thì hơn 20 năm với gần 3 triêu sinh mạng (một thế hệ trẻ) Bắc Nam đã hy sinh để làm cái gì!?.
Nền kinh tế CHXHCN với một định hướng là đem thân nhân bà con vào cửa quyền để chia nhau tiền thuế của nhân dân, một nước với 92 triệu dân, nhưng phải chi cho tiền lương công nhân viên chức, bao gồm quân đội công an tới 11 triệu người. Nhân dân VN hết sức chóng mặt và lo ngại về tình trạng bộ máy hành chính Nhà nước thì ngày một “phình” to, tỷ lệ nghịch với hiệu quả hoạt động. cán bộ, công nhân viên nhà nước các cấp lãnh đạo trong quân đội, công an tha hồ thi nhau dùng tiền chuà từ tiền thuế câa nhân dân-để đi vung vít bên ngoài VN, hàng năm có tới 3.200 lượt đi công tác nước ngoài. Theo báo cáo của Phó Thủ tướng – Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh, việc quá nhiều đoàn của các bộ, ngành, địa phương liên tiếp đi công tác nước ngoài dẫn tới sự trùng lặp, lãng phí không cần thiết. Người ta đi nước ngoài quá trời đến nỗi có cơ quan sứ quán mỗi năm phải đón trên 200 đoàn từ chính quốc ghé qua. Có đoàn 60 người. Năm nay cũng quá trời. Tỉnh Tiền Giang lập đoàn đi học tập cách trị thủy ở Nga, Hà Lan để phòng chống biên đổi khí hậu cho các thành viên đều là cán bộ “hoàng hôn nhiệm kỳ”.http://congly.com.vn/goc-nhin/3-200-doan-di-cong-tac-nuoc-ngoai-nhieu-qua-troi-128552.html.
Tình trạng tham nhũng đạt độ cao trong khu vực. Năm 2015, ngành Thanh tra đã triển khai 6.527 cuộc thanh tra hành chính và gần 244 nghìn cuộc thanh tra, kiểm tra chuyên ngành. Qua thanh tra, ngành đã tham mưu cấp thẩm quyền chấn chỉnh quản lý, hoàn thiện cơ chế, chính sách pháp luật trên nhiều lĩnh vực; kiến nghị thu hồi về ngân sách nhà nước trên 24 nghìn tỷ đồng, gần 7 nghìn ha đất; xuất toán, loại khỏi quyết toán và đề nghị cấp có thẩm quyền xem xét xử lý trên 73 nghìn tỷ đồng và gần 10 nghìn ha đất.http://baohungyen.vn/doi-song-phap-luat/201601/nam-2015-nganh-thanh-tra-kien-nghi-thu-hoi-tren-24-nghin-ty-dong-655734/. Đây chỉ là những khám phá của thanh tra ở cấp nhỏ và cấp trung, chứ thượng tầng vẩn còn an toàn. Toàn là một đám người đụt khoét, phung phí tiền thuế nhân dân, trong khi ngoài biển thì ngư dân bị bọn Tàu cộng đâm chìm tàu trên vùng biển thuộc chủ quyền của VN, cảnh sát biển thì sắm hết tàu nầy tới tàu tối tân khác, nhưng số thiệt hại của ngư dân ngày càng lên cao, ngườc lại với chỉ tiêu bảo vệ vùng biển an toàn cho ngư dân VN.Vai trò của kiều hối
Kiều hối đóng vai trò rất lớn trong nền kinh tế Việt Nam. Với 9 tỷ USD trong năm 2011, lượng kiều hối đã tương đương 7,4% tổng sản lượng nội địa (GDP) của Việt Nam. Ngoài ra, kiều hối còn lớn hơn nhiều so với vốn FDI và ODA được đầu tư vào Việt Nam.
Nhờ kiều hối, chính phủ Việt Nam có thêm một nguồn thu ngoại tệ ổn định, tăng dự trữ ngoại tệ quốc gia, giảm thâm hụt ngân sách cũng như thâm hụt thương mại với nước ngoài.
Kiều hối giúp tạo thêm công ăn việc làm cho người dân Việt Nam do Việt Kiều trở về Việt Nam đầu tư nhiều kèm theo các nhu cầu ăn chơi, giải trí.
Nói qua, chúng ta đã thấy rõ kiều hối giúp sức cho nền kinh tế CSVN như thế nào. Cuối mục này, tôi xin phép trích dẫn ra nhận định về kiều hối của Đại sứ quán CSVN tại Hoa Kỳ: “Kiều hối là một nguồn lực quý giá theo nhiều nghĩa, là một kênh mang lại ngoại tệ mạnh cho đất nước mà không một kênh nào có thể sánh nổi về hiệu quả. Bởi vì, ngoại tệ thu được từ xuất khẩu tuy rất quý nhưng xuất khẩu thì phải mất chi phí để sản xuất hàng, chi phí vận chuyển mang ra nước ngoài, lại còn phải chịu thuế nhập khẩu, chịu hạn ngạch, chịu kiện bán phá giá, chi phí tiếp thị, quảng cáo…” (Vietnam Embassy in U.S, 13/10/2004)
Hiểu được tầm quan trọng của kiều hối, người Việt hải ngoại có thể nghĩ ra các biện pháp hạn chế, ngăn cản dòng kiếu hối này về Việt Nam, tiếp tục tiếp sức cho chính quyền CSVN đàn áp nhân dân trong nước. Tại sao tôi đề xuất chặn kiều hối? Bởi vì đó là vũ khí kinh tế duy nhất hiệu quả mà người Việt hải ngoại hiện có để gây áp lực lên chính quyền CSVN. Chúng ta hoàn toàn không phải phụ thuộc vào chính phủ Mỹ trợ giúp hay bất cứ thế lực ngoại bang nào giúp sức.
CỘNG SẢN SỐNG NHỜ KIỀU HỐI ( Bám lưng VNCH)
Nguồn kiều hối khác hẳn với tiền ODA hay FDI của nước ngoài vào Việt Nam. Đây là số tiền của bà con sống ở nước ngoài, bà con đi lao động ở nước ngoài gửi về… đó là nguồn tiền không hoàn lại. Trong khi đó, ODA không phải là khoản tiền cho không, biếu không, mà là cho vay dài hạn, còn FDI là đầu tư nhằm mục đích kinh doanh, kiếm lời, và cuối cùng sẽ chuyển trả về nước ngoài.
Cùng với dòng lao động dịch chuyển từ trong nước xuất khẩu sang nước ngoài và lượng kiều bào đông đảo ở khắp nơi trên thế giới, hơn hai mươi năm nay, lượng kiều hối về Việt Nam tăng trưởng bình quân hằng năm hơn 38%, theo thống kê của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) trong “Nghiên cứu về toàn cảnh kiều hối tại Việt Nam và những đóng góp cho sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước” mới công bố. Theo con số chính thức tính đến quý một năm nay, tổng lượng kiều hối về VN đạt hơn 90 tỷ USD. Con số này chỉ sau nguồn vốn đầu tư trực tiếp (FDI) vào VN và lớn hơn nguồn viện trợ phát triển ODA đã giải ngân.
Khảo sát của CIEM cũng chỉ ra, có những giai đoạn như từ năm 2004-2006, kiều hối thậm chí còn là nguồn vốn lớn nhất của đất nước. Hoa Kỳ là quốc gia chuyển kiều hối về VN nhiều nhất, trong ba năm trở lại đây chiếm 57% tổng kiều hối chính thức. Tiếp theo là Úc, Canada, Đức, Campuchia và Pháp…
Riêng tại TP.HCM, địa phương tiếp nhận kiều hối lớn nhất cả nước, theo NH Nhà nước chi nhánh TP.HCM, kiều hối chuyển về các NH trên địa bàn TP.HCM năm 2014 đã tăng 200-300 triệu USD so với năm ngoái, đạt 5 tỉ USD. Những dòng vốn này thật sự đã có tác động lớn với các cá nhân nhận tiền nói riêng, cũng như sự phát triển của thành phố nói chung.
Kiều hối về VN đã được dùng làm gì?
Ông Võ Trí Thành, phó Viện trưởng Viện quản lý kinh tế Trung ương, một trong hai thành viên tham gia xây dựng nghiên cứu về kiều hối, cho hay, tỉ trọng người nhận kiều hối có mục đích chi tiêu hằng ngày lên tới 35,4% tổng lượng kiều hối. Như ở TP.HCM, trong ba năm gần đây tỉ trọng này chiếm 45% tổng lượng kiều hối.
Còn kiều hối đầu tư vào sản xuất – kinh doanh nói chung chiếm khoảng 16% như sản xuất và dịch vụ: 30% đầu tư vào bất động sản, vàng chiếm khoảng 20%…
Có tới 11% tổng kiều hối được gửi tiết kiệm để lấy lãi, còn sử dụng cho các mục đích như chữa bệnh, đi học, trả nợ… chỉ 7-10%.
Ông Nguyễn Hoàng Minh – phó giám đốc NH Nhà nước chi nhánh TP.HCM, nhận định: “Đang có sự dịch chuyển qua lại giữa các kênh đầu tư. Cụ thể theo báo cáo từ các NH trên địa bàn thành phố, năm 2014 có 71,4% lượng kiều hối chảy vào sản xuất, kinh doanh (lĩnh vực này năm 2013 là 70,2%), lĩnh vực bất động sản chiếm 22,1%, còn lại dùng vào hỗ trợ, chi tiêu gia đình”.
Còn theo ông Vũ Hồng Nam, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước về người VN ở nước ngoài: Kiều hối ngày càng được sử dụng có hiệu quả hơn.
Khảo sát năm 2014 cho thấy tại TP.HCM, nơi tiếp nhận một nửa kiều hối của cả nước cho thấy, 72% kiều hối đầu tư cho sản xuất, kinh doanh. 22 % đầu tư vào BĐS Từ chỗ trước đây kiều hối gửi về để giúp đỡ thân nhân thì nay kiều hồi đã chuyển sang góp vốn kinh doanh, góp phần tạo công ăn việc làm cho đất nước trong giai đoạn khó khăn và vực dậy sản xuất trong nước. Cũng theo ông Nam, hiện nay có khoảng 7.000 Việt kiều đã đăng ký sở hữu nhà tại Việt Nam trực tiếp đứng tên, chưa kể có thể không ít Việt kiều mua nhà nhờ người thân đứng tên.
Nếu năm 2004, số lượng người Việt Nam sống ở nước ngoài khoảng 2,7 triệu người thì sau 10 năm, đến năm 2014 tăng lên 4,5 triệu người tại 109 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới. Trong đó, mỗi năm có khoảng 500.000 Việt kiều về Việt Nam ăn tết cổ truyền.
Ngoài ra, kiều bào còn tham gia đóng góp trong một số hoạt động từ thiện, thiện nguyện. Trong năm 2014, Ủy ban về người Việt ở nước ngoài TP.HCM đã đứng ra vận động, hỗ trợ kiều bào tham gia nhiều hoạt động xã hội từ thiện như ủng hộ học bổng cho học sinh nghèo hiếu học vùng sâu vùng xa, học bổng cho HS-SV vượt khó học giỏi; xây cầu bê tộng, xây nhà tình thương, v.v… Ông Trần Hòa Phương, phó chủ nhiệm Ủy ban cho biết: “Từ các nguồn kiều hối, đã vận động xây dựng được 2 nhà tình thương ở Củ Chi và Bình Chánh, xây 19 cây cầu bê tông ở các tỉnh ĐBSCL với tổng giá trị 3 tỷ đồng”…
Tóm lại Quốc gia Việt-Nam Cộng-Hòa, tuy chỉ góp mặt trong khoảng 20 năm ngắn ngủi, nhưng đã kịp ghi lại nhiều đóng góp khả quan, hữu ích trong dòng lịch sử Việt. Các chính phủ Việt-Nam Cộng-Hòa gầy dựng được một nền kinh tế phồn thịnh đũ để tạo hạnh phúc cho nhân dân miền nam. VNCH xây dựng được một nền chính trị dân chủ căn bản, theo nguyên tắc tam quyền phân lập, với các cuộc bầu cử tự do được tổ chức thường xuyên.
Các sinh hoạt khác về văn hoá, nghệ thuật, thể thao…. khiến không khí Việt-Nam Cộng-Hòa chừng như vẫn thu nhận được nhiều thành tựu đáng kể về sự tự do sáng tác của căn nghệ sĩ, mặc dù trong thời gian đầu sau 1975, người cộng sản kỳ thị cấm đoán, nhưng rồi sau đó nền nghệ thuật và âm nhạc của VNCH đã sống lại và sống mạnh cho tới ngày nay mặc dù cộng sản cai trị 41 năm rồi. Với không ít người Việt, ở hải ngoại cũng như tại quốc nội, tới nay vẩn luôn nhắc nhở đến sự phồn thịnh của xã hội miền Nam như là một điểm đến cần thiết cho một xã hội mới hậu cảng sản trong tương lai.
Hoàng Thanh Trúc (Danlambao)-Trên thế giới, ở các quốc gia có nhiều thành phố mang tên những con người, tất nhiên là khác nhau quốc tịch nhưng tất cả đều có chung một đặc điểm: Người được vinh dự ấy đã để lại cho chính quốc gia mình hoặc nhân loại những thành tựu tinh thần hay vật chất mà giá trị “chân thiện mỹ” được khẳng định tuyệt đối bởi công luận xã hội. Trái với tiêu chí này, nếu áp đặt hay lạm dụng thì sớm hay muộn cũng đều có một kết cục bi đát cho danh dự của chính nhân vật không xứng tầm với vinh dự ấy mà điển hình gần nhất là trường hợp Thành Phố “Lenin…grad” (để ca ngợi Lenin) của nước Nga phải trả lại địa danh ban đầu là Sankt-Peterburg của chính nó, khi chế độ CS Nga sụp đổ và sau một cuộc trưng cầu dân ý.
“Lenin… grad” Sau trưng cầu ý dân, phải ra nằm ở bãi phế thải Lenin.
Đối với toàn thể người dân miền Nam (VNCH) thì tên Thủ Đô Sài Gòn là một danh từ thân thương mang rất nhiều dấu ấn rất riêng tư của đại diện một vùng đất phương nam trù phú văn vật con người và thổ nhưỡng, tự do dân chủ phóng khoáng văn minh (thủ tướng Lý Quang Diệu năm 1960 còn mơ ước một ngày nào đó Singapore sẽ như Sài Gòn)… Thì bất chợt tháng 4/1975 như trời nghiêng đất sập, tấm lưới sắt CS/XHCN từ Việt Cộng (CS Bắc Việt) chợt bao trùm lấy toàn miền Nam – Không còn gì, họ tước đoạt mọi thứ kể cả cái tên “Sài Gòn” thay bằng cái tên lạ hoắc TP/HCM…
Mới đây ngày 30/08/2015 trên trang báo điện tử “tuổi trẻ Oline” người ta đọc thấy bài viết: “Tìm lại ý tưởng đặt tên TP/HCM” (1)
Nôi dung bài báo trưng ra một tài liệu mà báo gọi là “quan trọng” (!?) là bản tin trên báo Cứu Quốc của VNDCCH, số ra ngày 27-8-1946.
Toàn văn như sau:
“Thành phố Sài Gòn từ nay sẽ đổi tên là Thành phố Hồ Chí Minh”
Hà Nội, ngày 25-8-1946, nhân ngày kỷ niệm một năm chính quyền cách mạng, phòng Nam bộ trung ương, đường Gia Định đã có một buổi họp mặt thân thiện giữa những người Việt miền Nam.
Trong buổi họp này, bác sĩ Nghiệp nhắc lại tình hình Nam bộ trong một năm qua; những chiến công oanh liệt của các chiến sĩ đã chết và còn sống hiện đang chiến đấu, nhưng trên tất cả, bác sĩ kể đến công đức của Hồ Chủ tịch, người chiến sĩ tiên phong của phong trào giải phóng dân tộc, vị đại anh hùng của dân chúng Việt Nam.
Để kết luận, sau khi kể một vài thí dụ ở những nước lớn hay lấy tên những vị anh hùng để đặt cho một thành phố lớn, bác sĩ Nghiệp đề nghị, để ghi lấy công đức của Hồ Chủ tịch, thành phố Sài Gòn đổi tên là thành phố Hồ Chí Minh.
Toàn thể mọi người tán thành đề nghị của bác sĩ Nghiệp và đồng ký vào bản quyết nghị thay tên thành phố Sài Gòn gửi lên Chính phủ.
Dưới đây là bản quyết nghị:
"26 tháng tám - Dân Chủ Cộng Hòa năm thứ II
Bản Quyết nghị gửi Quốc hội và Chính phủ Trung ương
Toàn thể đồng bào Nam bộ đủ các đảng phái, giai cấp, họp mặt tại Hà Nội hôm nay, 25 tháng tám năm thứ hai của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, để kỷ niệm ngày Nam bộ khởi nghĩa.
Xin Quốc hội và Chính phủ trung ương đổi ngay tên thành phố Sài Gòn lại làm tên thành phố Hồ Chí Minh, để tượng trưng sự chiến đấu, hi sinh và cương quyết trở về với Tổ quốc của dân Nam bộ".
Ký tên 57 người:
Và Tuổi Trẻ Oline kết lại rằng (trích): Như vậy, hầu như chắc chắn là ý tưởng đổi tên thành phố Sài Gòn thành TP.HCM xuất phát từ đại diện nhân dân Nam bộ, do bác sĩ Trần Hữu Nghiệp đại diện đề xuất và cùng cả nhóm 57 người ký tên kiến nghị gửi lên Quốc hội và Chính phủ bằng văn bản từ ngày 26-8-1946. Nhưng phải 30 năm sau, 1975 tên TP.HCM thay cho Sài Gòn - Chợ Lớn mới trở thành hiện thực theo đúng thủ tục pháp lý. (hết trích)
Như thế nào để gọi là “thủ tục pháp lý”? Chúng ta thử tìm hiểu xem.
Rọi vào quá khứ, thời điểm đó (văn bản 26-8-1946 đề nghị tên HCM thay SG) xuất hiện thì 5 tháng trước, ngày 6 tháng 3 năm 1946 Hiệp định sơ bộ Pháp-Việt được ký kết giữa Jean Sainteny đại diện chính phủ Pháp và Hồ Chí Minh + Vũ Hồng Khanh đại diện chính phủ VN/DCCH.
Nội dung của Hiệp định bao gồm các điểm chính trong đó có điều khoản:
*- “Pháp đồng ý (theo đề nghị của HCM) thực hiện trưng cầu dân ý tại Nam Kỳ về việc người dân có đồng ý thống nhất với Bắc Kỳ (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) hay không” .(wikipedia.org)
Trang cuối có chữ ký của HCM và Vũ Hồng Khanh
Điều này có nghĩa thời điểm đó (tháng 3 năm 1946) Hồ Chí Minh xác định miền Nam (Sài Gòn) chưa phải là lãnh thổ dưới quyền kiểm soát của mình vậy thì nhóm 57 người gửi văn bản kiến nghị đặt tên HCM cho Sài Gòn là khiên cưỡng vô lý, nó buồn cười như ví dụ: Một số cư dân Tàu tha phương qua Việt Nam tìm kế sinh nhai lại đề nghị lấy tên Bắc Kinh thay cho Hà Nội.
Và nhóm 57 người ấy lấy tư cách gì mà gọi là “đại diện cho nhân dân Nam bộ”!? Đây chưa phải là “cầm đèn” mà nhóm người này là những con rối bù nhìn quờ quạng xu thời… chạy trước ô tô.
Như trên viện dẫn, một chế độ đa nguyên tự do dân chủ thực sự (chứ không phải dỏm như CSVN) Sau khi chế độ CS Sô Viết sụp đổ, Chính Phủ CHLB Nga muốn trả lại tên cho TP - Sankt-Peterburg lột bỏ cái tên “Lenin-grad” bị “cưỡng hiếp” dưới thời cộng sản, vẫn phải trưng cầu ý dân.
Vậy thì năm 1975 trên cơ sở nào để Tuổi Trẻ online gọi là: “tên TP.HCM thay cho Sài Gòn - Chợ Lớn mới trở thành hiện thực theo đúng thủ tục pháp lý”.!? Thủ tục nào? Khi chưa trực tiếp trưng cầu ý kiến vài chục triệu cư dân Sài Gòn và miền Nam?. Cái này chỉ có thể là pháp lý XHCN độc tài hoang dã CSVN.
Thập niên 60 Hồ Chí Minh ở đỉnh cao quyền lực thì Sài Gòn đẫm máu dân lành do CSVN chỉ đạo - Nhưng bây giờ được đúc tượng đồng ngự trị giữa Sài Gòn - TP/HCM!? – Pháp lý nào đây? Lý tưởng của (báo) hay Tuổi Trẻ Việt Nam không thể vô đạo như thế này?
Tóm lại Hồ Chí Minh với thành tích “nổi trội” không chỉ người dân Việt Nam mà báo chí sử gia quốc tế đều khẳng định nhìn nhận chỉ đích danh. Tờ Polska Times (Thời báo Ba Lan) đưa ra một bản xếp hạng 13 nhà độc tài đẫm máu nhất thế kỷ 20, trong đó có Hồ Chí Minh, qua 24 năm cầm quyền của mình HCM đã gây ra cái chết của 1,7 triệu người Việt từ CCRĐ và chiến tranh đẫm máu. (2)
Và Đài Tưởng niệm hàng trăm triệu nạn nhân Cộng sản khắp thế giới (trong đó hàng triệu người Việt Nam) đã điểm danh các thủ phạm là: Stalin-Lenin-Mao Trạch Đông- Hồ Chí Minh và Polpot....
Hồ Chí Minh trên (Polska Times) và Đài Tưởng niệm Nạn nhân Cộng sản
Hồ Chí Minh và cái chết của 172.008 đồng bào vô tội (CCRĐ)
(đảng CSVN) “có thể lừa dối một số người trong một lúc, và lừa dối hết mọi người trong vài lúc, nhưng không thể nào lừa dối tất cả mọi người mãi mãi”...(Abraham Lincoln) Quả là sẽ đúng như thế... Sự thật như ánh sáng mặt trời, không một áng mây đen nào có thể che được mãi... Nó phải và sẽ phơi bày... để kết thúc như thế này... Bởi vì chân lý: Tội Ác không thể tôn vinh.
Chân lý: Tội Ác không thể tôn vinh – Các tượng đài HCM cũng nằm trong qui luật này và Chúa Jesus đã nói “Cái gì của Caesar hãy trả về cho Caesar” Sài Gòn tất yếu phải trả về Sài Gòn trong một ngày không xa lắm.
CSVN dâng đảo cho TQ: Miền Bắc đã từng tuyên bố Hoàng Sa của TQ
BBC
Image captionBản đồ có 'Tây Sa, Nam Sa' mà Bộ Ngoại giao Trung Quốc nói là của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Năm 1980, Bộ Ngoại giao Trung Quốc có công bố một tài liệu với tên gọi "Chủ quyền không tranh cãi của Trung Quốc đối với hai quần đảo Tây Sa và Nam Sa".
Tài liệu này có một tiểu mục với tựa "Sự man trá của chính quyền Việt Nam", trong đó chỉ ra những bằng chứng cho thấy trước năm 1979, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã nhiều lần tuyên bố Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Trung Quốc.
Ngoài công hàm gây tranh cãi của Thủ tướng Phạm Văn Đồng năm 1958, tài liệu này còn dẫn nhiều tuyên bố của các quan chức chính phủ miền Bắc, trong đó có của Thứ trưởng Ngoại giao Ung Văn Khiêm:
"Ngày 15/6/1956, trong khi tiếp đại diện lâm thời của Đại sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam, Lý Chí Dân, Thứ trưởng Ngoại giao Ung Văn Khiêm của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nói với ông rằng: "Theo dữ liệu của Việt Nam, quần đảo Tây sa và quần đảo Nam Sa về mặt lịch sử là một phần lãnh thổ của Trung Quốc."
Bên cạnh đó, Bộ Ngoại giao Trung Quốc cũng chỉ ra một tuyên bố khác vào năm 1965 của miền Bắc:
"Trong tuyên bố ngày 9/5/1965 về việc chính phủ Mỹ quy định vùng chiến sự cho lực lượng của họ tại Việt Nam, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nói ... 'Tổng thống Mỹ Lyndon Johnson đã chỉ định ... một phần lãnh hải của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa trong quần đảo Tây Sa làm "vùng chiến sự" của lực lượng vũ trang Hoa Kỳ'."
Cuốn sách "Cuộc tranh chấp Việt - Trung về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa" của ông Lưu Văn Lợi do Nhà xuất bản Công an Nhân dân Hà Nội phát hành năm 1995, xác nhận cả hai tuyên bố này:
"Việc nói Tây Sa là của Trung Quốc trong bản tuyên bố của chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong tuyên bố năm 1965 về việc Mỹ quy định khu vực chiến đấu của quân Mỹ hay câu nói của Thứ trưởng Ngoại giao Ung Văn Khiêm về Tây sa là có thật," ông Lợi viết.
Ngoài ra, tài liệu của Bộ Ngoại giao Trung Quốc còn kèm theo một tấm bản đồ thế giới do Cục Đo đạc và Bản đồ thuộc Phủ Thủ tướng Việt Nam [Dân chủ Cộng hòa] xuất bản năm 1972 trong đó ghi Tây Sa và Nam Sa theo tên Trung Quốc.
Tài liệu này còn nói các bản đồ của miền Bắc trong các năm 1960 và 1974 cũng ghi rõ Tây Sa và Nam Sa là lãnh thổ của Trung Quốc.
Nhân dịp 40 năm hải chiến Hoàng Sa, BBC đã có cuộc phỏng vấn sử gia, đại biểu Quốc hội Dương Trung Quốc, về những tài liệu này.
'Nhiều chính thể, một Tổ quốc'
Image captionCông hàm năm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng vẫn còn là vấn đề gây tranh cãi
BBC: Trước năm 1975, quan điểm của miền Bắc về vấn đề chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa là như thế nào, thưa ông?
Sử gia Dương Trung Quốc: Tôi nghĩ rằng tùy vào hoàn cảnh lịch sử của Việt Nam, có những thời kỳ có nhiều lực lượng chính trị khác nhau.
Ngay từ thời kỳ xa xưa, như Trịnh-Nguyễn phân tranh, Việt Nam vẫn là một nước Đại Việt thống nhất.
Hay như sau hiệp định Genève, hai miền Nam Bắc dù có bị chia cắt bởi vĩ tuyến 17, thì về nguyên lý, nước Việt Nam vẫn là thống nhất, với quy định là 2 năm sau thì tổng tuyển cử.
Tôi nghĩ vào thời điểm năm 74, chính phủ Việt Nam Cộng hòa đã thực thi đúng nhiệm vụ của mình được quốc tế đảm bảo.
Tổ quốc Việt Nam thì chỉ có một, còn chính thể thì có thể có nhiều, và đó là trách nhiệm của bất kỳ chính thể nào đối với lãnh thổ của Tổ quốc.
'Mất cảnh giác'
BBC: Ngoài công hàm năm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Trung Quốc cũng đưa ra nhiều tài liệu để nói miền Bắc đã nhiều lần công nhận Hoàng Sa thuộc chủ quyền Trung Quốc, như tuyên bố của Thứ trưởng Ngoại giao Ung Văn Khiêm năm 1956, tuyên bố năm 1965 về vùng chiến sự của Mỹ, hay các bản đồ mà Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sử dụng trong các năm 60,72,74.
Ông nghĩ gì về những tài liệu này và giá trị pháp lý của chúng?
Sử gia Dương Trung Quốc: Chúng tôi thì chưa được tiếp cận với bản gốc, thế nhưng nếu những điều đó có xảy ra thì cũng không có gì là lạ.
Bởi vì vào thời điểm đó thì chúng ta đều biết rằng Việt Nam đang diễn ra một cuộc chiến tranh, và rõ ràng Trung Quốc đang là đồng minh trực tiếp của miền Bắc Việt Nam.
Thêm vào đó, những quan hệ được xây dựng từ trong thời kỳ chiến tranh chống Pháp thì có thể tạo ra một điều mà tôi có thể nói thẳng là sự mất cảnh giác. Đó là chỗ mà người Trung Quốc, vốn thâm hiểm, muốn khai thác.
Nhưng nếu nhìn vào chiều dọc lịch sử và tính liên tục của nó thì ta có thể thấy rất nhiều bằng chứng là Việt Nam đã thực thi chủ quyền của mình, từ thời kỳ quân chủ, và trước đó là các chúa Nguyễn.
Chúng ta cũng biết là người Pháp khi biến Việt Nam thành thuộc địa cũng thực thi quyền ngoại giao của mình và khẳng định tất cả.
Quan trọng nhất là đến năm 1974, sự hiện diện của quân đội Việt Nam Cộng hòa trên Hoàng Sa nói riêng và các đảo trên Biển Đông nói chung thì hết sức rõ ràng. Trận chiến năm 1974 cũng rất rõ ràng.
Vào thời điểm đó, theo Hiệp định Genève thì lãnh thổ nào của Việt Nam ở sau vĩ tuyến 17 thì đều thuộc quyền quản lý Việt Nam Cộng hòa.
Đương nhiên người Trung Quốc sẽ tìm mọi chi tiết để chứng minh, nhưng nếu nhìn theo tổng thể lịch sử và cái tính liên tục của nó thì tôi nghĩ rằng những chi tiết không quan trọng.
Bài học lịch sử
Image captionChính quyền trong nước vẫn còn dè dặt trong việc tưởng niệm tử sỹ Hoàng Sa
BBC: Ông cho rằng việc thay đổi quan điểm trong việc vinh danh tử sỹ Hoàng Sa thì có thể giúp gì cho Việt Nam trong việc đòi lại chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa trong tương lai?
Sử gia Dương Trung Quốc: Tôi cho rằng trước hết là cần phải rút ra bài học lịch sử, nhất là trong quan hệ với phương Bắc.
Nếu đọc kỹ lịch sử, chúng ta thấy là khi nào trong nước có mâu thuẫn, không ổn định, không đoàn kết thì mất nước. Họ luôn khai thác điều đó.
Tôi nghĩ rằng để bảo vệ chủ quyền của Việt Nam, kể cả những vùng Trung Quốc đã chiếm đóng thì việc đầu tiền là người Việt Nam phải biết đoàn kết với nhau, thống nhất về ý chí rằng đó là lãnh thổ của chúng ta.
Còn về thời gian thì chúng ta phải chấp nhận một quá trình mà trong thế giới hiện đại ngày nay, chúng ta không thể không dựa vào những cam kết, những luật quốc tế để giải quyết vấn đề một cách cơ bản, không chỉ đối với quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc mà còn quan hệ giữa Trung Quốc với khu vực có liên quan.
Phong trào SouthVietExit: Việt Nam Cộng Hòa, một giải pháp cho Việt Nam và Biển Đông
Bảo Giang (Danlambao) - Những cơn sóng biển không bao giờ ngừng lại. Hôm nay chúng có thể tạo ra một trận cuồng phong ở bờ đông. Ngày mai lại có khả năng làm nên một cuộc sóng thần bên bờ tây với những hủy diệt kinh người. Cũng thế, ngọn sóng ở Biển Đông nay đã dâng lên quá khổ rồi. Không sớm thì muộn, nó sẽ đổ xuống và tạo ra những biến động lớn. Hơn thế, nó còn có khả năng đẩy những bờ đất liền vào trong một trật tự mới. Ở đó:
a. Việt Nam sẽ hoàn toàn thay đổi. Rũ bỏ cái áo khoác cộng sản, trở thành một nước Cộng Hòa theo thể chế Tự Do. Từ đó, góp sức vào việc bảo vệ nền hòa bình và tiến bộ của thế giới. Riêng Hoàng Sa, Trường Sa sau những ngày bị bán đi, nay mặc áo trở về quê mẹ.
b. Vẫn là quanh co dối trá tiếp nối gian dối, CSVN đẩy dân tộc vào vòng nô lệ thuần phục Trung cộng. Đất nước hoàn toàn tan hoang tê liệt. Ta không chỉ mất Hoàng Sa, Trường Sa mà ngay Hồng Hà, Cửu Long cũng phải cuộn mình, cùng với Trường Sơn ăn cơm nhà người!
Đó là hai viễn cảnh mà xem ra Việt Nam bó buộc phải chọn lấy một. Cách nào thì cũng gặp những gian truân của nó:
1. Từ phía Tây phương và khối Đông Nam Á:
Chuyện Trung cộng lấn chiếm Biển Đông đang là một đề tài nóng ở trong vùng. Diễn đàn quốc tế, nhiều lãnh đạo trên thế giới tỏ ra bực bội và bất bình về cảnh lấy thịt đè người của Trung cộng. Sự lên tiếng này rồi sẽ ra sao?
Theo tôi, nếu không có một động thái thay đổi hoàn toàn, tích cực từ phía CSVN, câu chuyện Biển Đông cũng sẽ dừng lại ở vị trí, thế giới Tây phương và các nước thuộc vùng Đông Nam Á theo thông lệ ngoại giao mà tuyên bố dăm ba câu nẩy lửa cho qua chuyện, không một nước nào nhảy vào đổ vỏ ốc. Bởi lẽ, họ cũng không mất phần lợi nhuận nếu Trung cộng nuốt chửng biển, đất của Việt Nam! Cách riêng với Hoa Kỳ, sẽ chẳng bao giờ có được một sự can thiệp cần thiết bằng quân sự. Hoa Kỳ có luật pháp của họ, chẳng một ai có thể vượt qua luật pháp của Hoa Kỳ để ký một Hiệp Ước về quân sự, về an ninh với một nước cộng sản không tôn trọng Nhân quyền và luật pháp quốc tế như tập đoàn CSVN. Theo tinh thần này, Hoa Kỳ sẽ đưa ra những lý luận cứng rắn của họ nhưng với cái nhìn của họ. Nó hoàn toàn khác với cái nhìn và ước mơ của tập đoàn CSVN là muốn bắt cá hai tay. Nói cách khác, Hoa Kỳ dường như đang thúc đẩy và sẵn sàng hỗ trợ một chương trình hoàn toàn từ bỏ Trung cộng từ phía Việt Nam?
Trong khi đó, vì quyền lợi và an ninh của nước mình, Nhật Bản cũng muốn lôi kéo Việt Nam vào thế liên minh quân sự với họ để chống Trung cộng. Tuy nhiên, thế liên mình này có thể sẽ dừng lại ở vị trí những lời tuyên bố mở ngõ, mời chào. Nó không thể đi đến hành động thực tế. Bởi lẽ, hệ Liên Minh này, nếu có, nó phải được đặt trên một tiền đề Việt Nam phải là một quốc gia không cộng sản. Sẽ không bao giờ có thế liên minh giữa một Nhật Bản, đồng minh quân sự của Hoa Kỳ, ký kết liên minh quân sự với một Việt Nam cộng sản để chống lại một nước cộng sản khác. Chuyến đi Á Châu của TT Obama đã cho thấy thái độ dứt khoát của họ trong cách nhìn về Biển Đông. Chỉ lên tiếng, không có hành động. Phần các quốc gia trong khối Asia chỉ là cái trống chầu!
2. Từ phía người dân Việt Nam
Ngày nay không còn một người Việt Nam nào mà không biết tên, không biết mặt cái nguyên nhân đưa đến những hậu quả tai họa cho đất nước. Đó là tập đoàn cộng sản Hồ Chí Minh. Một tập đoàn đã làm suy thoái tiềm lực quốc gia. Một tập đoàn đã làm cho dân ta ra bạc nhược, hèn nhát và ích kỷ trong hơn 70 năm qua. Một tập đoàn không đi chung bước đi với cộng đồng dân tộc. Trái lại, chỉ vì quyền lợi của cá nhân, thiểu số, họ đã nhân danh đảng cộng sản, đã tàn sát hàng triệu sinh linh Việt Nam. Họ chỉ biết cúi đầu tôn thờ kẻ thù phương Bắc và áp dụng thuần thục phương cách dùng cái búa, cái liềm đối với người dân mà thôi. Búa thì đã đập chết nhiều người rồi, còn cái Liềm thì chưa từng ngơi nghỉ. Hơn thế, nó luôn kề xát vào cổ nguời dân Việt và không ngừng kéo qua kéo lại cho vết thương ở đó luôn rỉ máu. Từ đó, người dân ăn không ngon, ngủ không yên và luôn sợ hãi cái Liềm càng lúc càng cứa sâu thêm vào cổ họng của mình. Đây chính là sách lược của một tập đoàn tàn ác mà Bình Ngô đại Cáo đã nhắc đến là:
‘Bọn gian tà còn bán nước cầu vinh,
Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn.
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ,
Dối trời lừa dân đủ muôn ngàn kế.
Gây thù kết oán trải mấy mươi năm,
Bại nhân nghĩa nát cả đất trời” (Bình Ngô Đại Cáo)
Gần đây, dư luận từ trong ra ngoài, xem ra đều có chung một đáp án rõ ràng là phải triệt hạ cộng sản trước khi cùng nhau chống ngoại xâm từ phương bắc. Người người đều biết, không tận diệt được tập đoàn CS thì không thể nói đến chuyện chống ngoại xâm. Nghĩa là, người dân Việt Nam không bao giờ có thể chống xâm lăng từ phương bắc theo cái định chế của HCM và tập đoàn cộng sản nêu ra. Lý do, bài học cũ còn đây. Sau chiến dịch biên giới 1979, người chiến binh VN vì quê hương chết không có chỗ chôn thây, nhưng kẻ cướp nước thì được xây đài, đúc tượng trong những nghĩa trang hoành tráng mang tên “liệt sỹ Trung Quốc”, được quan cán nhà nước cúng tế hàng năm! Cúng kiếng xong là những chuyến bay đưa quan cán đi chầu Trung cộng để nhận bằng khen, với những bàn tay xoa trên đầu. Rồi sau những chuyến đi ấy là nhà tù ở trong nước càng ngày càng có thêm nhiều người lên tiếng bảo vệ Trường Sa, Hoàng Sa là của Việt Nam!
Quan cán là thế, trong khi với người dân xem ra là khác biệt. Họ không thách đố, nhưng xem ra cuộc biến động ở Biển Đông như là một cơ hội tốt, giúp họ hoàn thành giấc mơ giải phóng dân tộc ra khỏi gông cùm của cộng sản. Để từ Bắc chí Nam, xóa đi tất cả mọi dấu vết của hiệp thương, hiệp định chia cắt để từ đây một nhà Việt Nam thống nhất theo thể chế Cộng Hòa, ở đó người dân được sống trong Tự Do, Dân Chủ, Độc Lập. Khát vọng này chắc chắn sẽ là nguồn hồi sinh cho dân tộc Việt Nam sau gần một thế kỷ bị áp bức dưới ách nô lệ cộng sản.
3. Về phía nhà cầm quyền CSVN
Đến nay, xem ra nhà cầm quyền CSVN vẫn chủ quan cho rằng họ có thể thủ thắng, đứng vững theo đường lối gian dối cố hửu của CS. Họ không hề nhận biết là đã rơi vào tình thế cô đơn, tuyệt vọng. Ngó ra ngoài, không có một đồng minh, chỉ có một đồng chí gian trá duy nhất. Tệ hơn thế, đồng chí ấy đã, đang và còn vả vào mặt những kẻ quù gối trước mặt chúng. Đối ngoại là thế, nhìn vào bên trong, cũng chỉ thấy thảm họa. Những ruồi nhặng bu quanh kiếm ăn thì không thiếu, người vì nước thì không có. Kết quả, trên dưới đều hoang mang, hốt hoảng. Họ nhìn đâu cũng chỉ thấy kẻ thù.
Sở dĩ CSVN lâm vào thảm cảnh này là vì cộng đồng thế giới nói chung, người Việt nói riêng, đã nhận diện chính xác về bộ mặt của chế độ “cộng sản chỉ là một tập thể gian dối, và tạo ra gian dối” (thủ tướng A. Mirkel). Bằng chứng ư? Cái công hàm của Phạm Văn Đồng là nguyên cớ để TC xâm lấn biển đông, không một người Việt Nam nào không biết. Nhưng tập đoàn CSVN vẫn quanh co dối trá. Tồi tệ hơn, tháng 3-1974 một mặt,họ vỗ tay reo hò khi TC chiếm Trường Sa từ tay của Việt Nam Cộng Hòa. Mặt khác láo khoét lừa dối dư luận: “Vì ta bận đánh Mỹ, không có thời gian và chưa đủ khả năng để giải phóng Hoàng Sa nên nhờ bạn Trung Quốc giải phóng. Sau này mình thống nhất đất nước rồi phía bạn sẽ trả cho mình.” (Hoàng Tùng). Riêng Lê Đức Thọ, ủy viên BCT, trưởng ban tổ chức TU đảng thì mạnh dạn hơn: “Hãy an tâm, Trường Sa, Hoàng Sa trong tay Trung quốc còn hơn là trong tay ngụy quyền miền Nam”.
Kết qủa, năm 1988, sau trận chiến Gạc Ma, mất nốt những gì chưa mất, họ cũng không mở mắt ra. Nay đến cái giàn khoan TC kéo vào trong lòng biển VN thì họ lại loanh quanh, tráo trở, đưa ra lời giải thích của Trần Duy Hải, phó chủ nhiệm Ủy Ban Biên Giới Quốc Gia cho là: “Công hàm của Phạm Văn Đồng” hoàn toàn không đề cập đến vấn đề lãnh thổ và chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”.
Quả thật, khó tìm ra một lời giái thích nào ấu trĩ như thế. Trước thì hùa nhau bán lén, nay giấy trắng mực đen đã bị phơi bày ra, Y lại giở giọng nhằm đổ lỗi cho người bằng cách trơ tráo xác nhận “Trường Sa và Hoàng Sa thuộc Việt Nam Cộng Hòa theo hiệp định 1954”. Vậy, đất từ bờ sông Bến Hải đến Cà Mâu là của ai? Có phải là của VNCH theo hiệp định Genève hay không? Kẻ nào đã nhờ súng đạn Nga Tàu và chiếm, cướp lấy cuộc sống Tự Do của người dân ở đấy? Hỏi xem, CS có dám trả lại cho miền nam hay không? Nếu họ dám trả lại, tôi cũng dám cá cược là Trung cộng sẽ phải bị đẩy bay ra khỏi vùng đất ấy ngay lập tức!
4. Về phía Trung cộng
Một câu hỏi có nhiều người hỏi là: Liệu Trung cộng có mở chiến dịch quân sự vào VN hay không? Với những sự kiện có sẵn như hôm nay, tôi cho rằng chuyện này không có nhiều khả năng xảy ra. Bởi vì, từ nhiều năm trở lại đây, tất cả các cấp tướng của QDND và Công An CS đã lần lượt được gởi sang Trung cộng để học tập về đường lối của TC cả rồi. Họ học gì, tập gì không ai biết, nhưng có điều gần như chắc chắn nó phải có điều kiện đi kèm khi họ nhận được cấp bằng thăng cấp và tốt nghiệp từ đây. Theo đó, với một danh sách dài, gồm hầu hết tên tuổi, chức vụ, đơn vị của các tướng lãnh quân đội, công an cũng như bên hành chánh của CSVN đã nằm trong tay Trung Cộng, họ cần gì mở ra cuộc chiến cho nó gây thêm phiền toái. Trước đã chẳng có lợi ích gì, còn gây thù oán với nhân dân Việt Nam. Theo đó, khả năng một cuộc chiến lớn là không thể xảy ra. Tuy nhiên, không loại trừ khả năng có những trận kiểu đuổi gà, đập vịt ở biên giới. Hai bên tập trung quân làm như một sống một chết. Nhưng kết quả chỉ là pháo vào rừng hoang, hoặc có cảnh lạc đạn gây thương vong. Rồi cuối chuyện đuổi gà, đập vịt này là tính toán cho một hội nghị song phương được mở ra.
Ngày mở ra hội nghị cũng là ngày kết thúc những thắng lợi hoàn toàn về phía Trung cộng. Đất, biển được khoanh vùng. Việt Nam mất bao nhiêu đất, bao nhiêu biển không ai hay, chỉ có một thông báo chung chung cho cái tình hữu nghị đời đời viễn vông do TC khua chiêng đánh trống với thế giời. Phần cái lưỡi bò ở trên Biển Đông thì đã được tập đoàn Trọng, Phúc, Quang, Ngân... chấp hành, treo ở trong văn phòng của chính phủ từ lâu rồi, cứ thế mà thi hành. Nếu cần, làm thêm một cái công ty ma kiểu liên quốc để cho cái giàn khoan kia là đơn vị trúng thầu là hết chuyện. Về nhân sự, những kẻ lãnh đạo sẽ lần lượt được Trung cộng phát cho sợi dây như vòng hoa đeo vào cổ. Từ đây, nối nghiệp nhau làm thái thú. Riêng những tên gọi như Hoàng Sa, Trường Sa thì sẽ được nhà nước CS giải quyết theo sách lược đã được viên tiến sĩ tên Nguyễn Quang Ngọc, Viện Trưởng Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển, Đại Học Quốc Gia Hà Nội, trong một buổi hội thảo về Vấn đề chủ quyền của VN ở Hoàng Sa và Trường Sa, Y đã phát như sau: “Không nên đưa vấn đề Hoàng Sa, Trường Sa ra Tòa án Quốc Tế, hay Liên Hiệp Quốc... Còn việc đòi lại và bảo vệ chủ quyền như thế nào thì không nên nôn nóng, để đến trăm năm hoặc nghìn năm sau con cháu chúng ta đòi lại vẫn được!” Quả là không hổ danh những tiến sỹ nón cối của thời đại chuột!
5. Việt Nam về đâu?
Điều người ta lo sợ nhất là cục diện Biển Đông từ từ chìm lắng xuống. Trong nước không còn những cuộc biểu tình của dân chúng phản đối Trung cộng xâm lược. Ngoài nước cũng hết người đánh trống. Rồi sau cái bề mặt trong lặng lẽ, CSVN ồ ạt cấp giấy nhập cảnh cho từng đoàn từng lũ công nhân cũng như thường dân Trung cộng xâm nhập vào nội địa Việt Nam. Thành phần này dần đần chiếm hết công ăn việc làm của người trong nước. Những kẻ thân TC, biết nói tiếng Hoa như Phạm Vũ Luận cổ võ, dần dần nắm những chức vụ, những cơ sở trọng yếu của đất nước. Phần người dân trở thành nô lệ hay những công nhân đứng xếp hàng xin đi lao động ở nước ngoài. Với hoạt cảnh này, trước là làm ruồng, rỗng mọi phần trên đất nước, sau là làm tê liệt đời sống kinh tế của quốc dân để triệt tiêu Việt Nam. Với tình thế này, nó hoàn toàn có khả năng đẩy Việt Nam vào một trong hai lối rẽ sau:
Thứ nhất, nếu tập thể cộng sản còn nắm quyền và sống trong dối trá như hiện nay, họ vẫn coi việc người dân chống Trung cộng, chống độc tài tàn bạo CS như những kẻ thù thì câu chuyện của Crimea hay Tân Cương sẽ lập lại trên phần đất Việt Nam không có gì lạ.
Thứ hai, nước sẽ tràn bờ. Bạo tàn CS không thể khuất phục được lòng dân. Cuộc đổi thay, hoàn toàn thay đổi sẽ đến. Việt Nam thành lập nền Cộng Hòa, củng cố lại sức mạnh Dân Tộc. Dốc toàn lực để bảo vệ non sông.
Ngoài hai hướng đi này, xem chẳng còn một cách nào khác. Tuy nhiên, khi muốn củng cố lại sức mạnh dân tộc, trước hết, phải nhận định rằng: người Việt Nam đi kháng Pháp là vì truyền thống chống xâm lăng của dân tộc, không phải vì tập đoàn Việt Minh cộng sản. Theo đó, nếu muốn tái tạo niềm tin trong lòng ngưòi để củng cố sức mạnh của dân tộc, ngõ hầu bảo vệ và xây dựng đất nước, điều kiện tiên quyết là phải xóa bỏ hoàn toàn cơ cấu của chế độ CS. Phải phá bỏ nó bằng một trong ba phương thức sau:
a. Thứ nhất, phương cách tự giải trừ
Phía cộng sản phải nhận thức được rằng: Tư tưởng CS không tạo được niềm tin và thành tín với dân tộc. Không đủ khả năng đứng chung với dân tộc, nên họ phải dựa vào chủ nhân Tàu để mà sống còn. Đây không phải là một đánh giá mới mẻ về CS. Tuy nhiên, nhiều người tự ái vì bị tiêm nhiễm bởi cái lối tuyên truyền nhồi sọ của CS, cho rằng người viết, không viết đúng sự thật, nên dễ bất bình chống đối, bất phục. Nhưng không ai trách họ. Bởi vì đường của dân tộc, đường lịch sử của đất nước là câu chuyện không phải là 10 năm, 50 năm mà là nghìn năm. Chế độ cộng sản không thể tồn tại mãi, CS có cạo sửa lịch sử, thì lịch sử chân chính vẫn tồn tại với non sông và đất nước. Anh hùng và kẻ bán nước hại dân cũng đều tồn tại trong lịch sử, nhưng ở trong hai khung hình khác nhau. Một bên được tôn thờ với khói nhang. Một bên bị nguyền rủa, tru di. Gobachev còn mà Lênin cũng còn! Đó là lẽ thường mà cũng là công đạo của trời đất vậy. Cộng sản VN có khả năng học và ứng dụng bài học này hay không?
- Nhân danh đảng CS và nhà nước CHXHCNVN, chính thức gởi công hàm đồng cấp đến nhà nước TC, thông báo việc hủy bỏ công hàm của Phạm Văn Đồng ký vào ngày 14-9-1958 là vì sai lầm trong nhận thức và sai nhầm chính trị.
- Tuyên bố thành lập nền Cộng Hòa. Giải tán mọi cơ chế của đảng cộng sản, kể cả quốc hội và những trường sở liên hệ của nó từ trung ương đến địa phương.
Để bảo đảm cho đời sống an ninh, giữ gìn tính mạng của nhân dân và sinh hoạt đối nội, đối ngoại không bị rơi vào khủng hoảng, giữ lại hệ thống chính quyền hiện tại cho đến khi có thể có tổng tuyển cử bầu nguyên thủ quốc gia. Đồng thời:
- Xóa bỏ toàn bộ những văn bản và những hình thức kiềm chế, bóp nghẹt tôn giáo. Mời những nhân sự thích hợp ở trong nước cũng như hải ngoại tham chính. Trao trả lại các cơ sở giáo dục thuộc các tôn giáo mà nhà nước CS đã chiếm đoạt trước đây, để những cơ sở này chung lưng phục hưng lại đời sống luân lý, và đạo đức của xã hội đã bị băng hoại trong hơn 70 năm qua. Chấm dứt hay tạm ngưng ngay lập tức tất cả những dự án gọi là quy hoạch giải phóng mặt bằng để gây ra thêm thảm họa cho ngưòi dân...
Lợi thế của phương cách này nhanh gọn, êm thắm, ít đỗ vỡ, ít xáo trộn. Bản thân của các cấp trong guồng máy cũ được bảo đảm. Khả năng củng cố tiềm lực quốc gia vào guồng nhanh nhất. Có khả năng thu kết được sự ủng hộ lớn từ người dân và tạo được niềm tin với các quốc gia trên thế giới.
b. Thứ hai. Một cuộc Chỉnh Lý
Lực lượng có thể chỉ là một tập hợp nhỏ trong quân đội, công an, và một số viên chức hành chánh. Họ đủ can đảm nhập cuộc, đứng lên làm cuộc chỉnh lý, nắm quyền và mau chóng thực hiện những điểm nêu lên ở trong phương thức trên.
Lợi và bất lợi. Khởi đầu của phương án này sẽ là rất khó khăn, vì ít có ai trong những ngưòi đang có ít nhiều thế lực dám mạo hiểm, hy sinh. Tuy nhiên, khi tiến hành nó sẽ nhanh như chớp ngang đầu, bởi hàng hàng lớp lớp dân chúng cuồng cuộn nổi dậy cùng với họ giật sập chế độ cộng sản. Bước đầu có nhiều nguy hiểm, tuy nhiên cuộc kháng cự của CS sẽ là không quá mạnh. Một phần lo chạy lấy thân, một phần vì không còn thiết tha gì với chế độ. Đặc biệt, trong phương án này có nhiều thuận lợi để kết hợp với những thành phần trong phương thức một trong việc điều hành đất nước. Bước đi chuyển biến dễ dàng hơn và cuộc tái lập đem lại sự ổn định cũng mau hơn.
c. Thứ ba, nước vỡ bờ
Đây là thế kết hợp giữa 2 và 3. Gọi là thế kết hợp vì điểm 3, không thể tự mình đứng ra khởi công, nhưng phải liên hoàn với 2. Trong tình thế của VN hôm nay, từ thù trong cho đến giặc ngoại, buộc chúng ta phải dự trù cho một cuộc tổng nổi dậy để cứu nguy đất nước. Phương thức này có thể song hành, liên kết với phương thức thứ hai. Đây là một phương án nghiêm chỉnh cần phải được đặt ra để thực hiện hơn là câu chuyện xuông. Tuy nhiên, vấn đề quan yếu nhất chính là vấn đề nhân sự có khả năng thu hút sức mạnh quần chúng để làm cuộc nổi dậy.
Lợi thế. Đây chính là một điều mà người dân Việt và rất nhiều đảng viên CS tại Việt Nam đang trông chờ. Bởi lẽ sự kết hợp giữa 2 và 3 không chỉ là điểm tựa, là cầu nối nhưng còn là sự bảo đảm hữu hiệu cho các cuộc biểu tình liên tục và kéo dài ở trong nước có cơ hội phát triển và bùng nổ. Là điểm tựa, là cầu nối thúc đẩy những nhóm quân sự ở Việt Nam mạnh dạn hơn trong việc tiến hành cuộc chỉnh lý thay đổi toàn bộ cơ cấu hiện tại. Và đây có lẽ cũng chính là những điều mà giới lãnh đạo Tây phương đang nhắm đến trong những lời tuyên bố mạnh mẽ của họ. Bất lợi. Sự sợ hãi, lưỡng lự không dám dứt khoát của những nhân vật này để có sự bắt đầu cũng là một trở ngại lớn.
Tóm lại, muốn củng cố sức mạnh dân tộc và dồn toàn lực để cứu quốc, buộc chúng ta phải thực hiện được một trong ba phương thức trên càng sớm càng tốt. Đây là một giải pháp khả dĩ đem đến ổn định cho Việt Nam và biển đông trong tương lai.
Tuy nhiên, nếu chúng ta và thế giới tự do mong chờ giải pháp này để đem đến ổn định cho Biển Đông, thì TC sẽ là quốc gia duy nhất không muốn có sự thay đổi như thế ở Việt Nam. Trái lại, họ chỉ muốn bảo vệ chế độ CS và áp đặt mọi phe phái trong chế độ này ngồi vào bàn hội nghị song phương với họ trong cuộc biển động. Theo đó, họ sẽ gia tăng tối đa việc trấn áp các phe phái mang tinh thần Việt Nam trong chủ trương thoát ách Tàu. Nhưng nếu những đột biến này xảy ra, khả năng Trung cộng đổ quân vào Việt Nam để cứu nguy cho CS là khó xảy ra. Bởi vì khi đó thay vì giúp CSVN, TC lại tạo cho toàn dân Việt Nam khí thế chống xâm lăng. Với khí thế ấy, TC không thể nào hưởng được cái lợi trên phần đất ấy trái lại sẽ là thảm họa cho Trung cộng. Bởi vì chính trong lòng nội địa của TC cũng đang chờ thời cơ để tự phá vỡ gọng kìm của cộng sản. Mỗi thế lực của một tỉnh bang đều có nhiều khả năng phân chia thành một nước riêng biệt như Hàn, Sở. Triệu, Ngô, Tề, Tần, Tấn xưa kia. Với cách nhìn này, tôi cho là TC không liều mình dấn thân vào tranh chấp với cuộc thay đổi ở VN. Nhưng sẽ tìm cách ảnh hưởng lên nó. Theo đó, nếu cuộc thay đổi đã thành hình, thì TC không thể tham dự vào tranh chấp và việc Việt Nam bảo vệ trọn vẹn bờ cõi, bao gồm cả Trường Sa và Hoàng Sa càng có nhiều cơ hội để thực hiện.