Việt Nam - Hoa Kỳ và sự dịch chuyển quyền lực Á Châu
12.07.2015 15:16
- Tháng 7 năm 2015, cuộc can thiệp của Hoa Kỳ tại Apghanistan bước sang năm thứ 15. Phần lớn quân đội Mỹ đã rút đi nhưng sự tồn tại của chính quyền do Mỹ và đồng minh dựng lên vẫn rất bấp bênh. Taliban có xu hướng trỗi dậy và sự khống chế của Mỹ đối với đất nước này ngày một giảm, kèm với đó là dấu hiệu hỗn loạn có chiều hướng lan tràn. Dù cuộc can thiệp của Mỹ ở Apghanistan được ghi mốc son với cái chết của Osama Binladen, nhưng khó có thể nói Mỹ gặt được lợi ích thực tiễn gì sau cuộc can thiệp tốn kém này.
- Sau 24 năm kể từ khi chiến dịch Bão táp sa mạc do tổng thống George H. Bush khởi xướng, nước Mỹ lần lượt tiến hành nhiều cuộc chiến tranh lớn tại Iraq cho tới khi chính quyền Saddam Hussein bị đánh bại hoàn toàn. Dấu ấn của Mỹ đối với cuộc chiến này được coi là thắng lợi với hình phạt tử hình dành cho Saddam và khoản chiến phí nhiều nghìn tỷ đổ vào đất nước Trung đông. Sau các biến cố thời cuộc, quân đội Mỹ rút hết về nước, để lại một Iraq trong loạn lạc và hoang tàn. - Mùa xuân Ả rập bắt nguồn từ một phong trào đường phố năm 2011, do nhiều yếu tố xã hội, nhanh chóng trở thành một làn sóng quét qua hàng loạt quốc gia:Tunisia, Ai Cập, Yemen, Algeria, Jordan, Bahrain, Iran, Libya và nhiều nước khác. Lấy cảm hứng từ ước muốn thay đổi xã hội và ảnh hưởng từ các nước phương Tây, nhưng hầu hết các phong trào cách mạng này đều nhanh chóng thoái hóa dưới sự chi phối của các thế lực hồi giáo cực đoan. Đỉnh điểm của những cuộc cách mạng màu này là sự sụp đổ của tổng thống Ai cập Mumbarak và đặc biệt là cái chết của nhà độc tài Gaddafi của Libya khi đang chạy trốn. Sự kiểm soát của Mỹ đối với khu vực trở lên bấp bênh sau khi nhiều chính phủ do Mỹ tiếp sức trong nhiều năm nối nhau sụp đổ. Chính sách và cách tiếp cận của Mỹ đối với các chính phủ độc tài trên thế giới về sau này chịu ảnh hưởng sâu sắc từ các cuộc cách mạng màu. Bài học rút ra về sau là thà đối thoại với một tay độc tài đốn mạt, còn hơn là đối mặt với một đám đông bạo loạn, mất kiểm soát và thường xuyên bị sâu xé bởi các làn sóng cực đoan. Cuộc cách mạng màu tại Trung cận đông cũng đánh dấu sự ra đời của một hiểm họa mới đối với thế giới: Hồi giáo cực đoan trỗi dậy trong sự suy yếu chính quyền của nhiều quốc gia trong hỗn loạn. Ảnh hưởng của nó đến thế giới là rất sâu sắc và đe dọa tới trật tự mới của thế giới trong ngưỡng cửa của năm 2015. - Bốn năm trôi qua kể từ ngày 26/01/2011 tại Syria, đất nước này chìm vào làn sóng chiến tranh và bạo lực dưới sự tác động của ba thế lực: Mỹ và phương tây với các lợi ích trong khu vực, hậu thuẫn cho một lực lượng đối lập thường xuyên mâu thuẫn. Ở một phía khác là Nga và Iran, tìm mọi cách duy trì chính phủ độc tài thân thiện với họ do tổng thống Bashar Al_Assad đứng đầu. Và lực lượng còn lại là các thế lực hồi giáo cực đoan. Sự can thiệp của Mỹ tại Syria ít mạnh mẽ do sự can dự của Nga, cũng chính lò lửa này là tiền đề cho sự ra đời của nhà nước Hồi giáo cực đoan IS khét tiếng. - Năm 2014 đánh dấu sự trở lại đầy hung hãn của nước Nga khi lần đầu tiên kể từ sau thế chiến thứ hai, đất nước này mở rộng lãnh thổ bằng việc sát nhập một lãnh thổ thuộc chủ quyền của nước khác sau một loạt biến cố chính trị và ngoại giao. Cuộc thôn tính của nước Nga ở Crimea được coi là một chiến dịch đặc biệt thành công về mặt chiến thuật, nhưng những hậu quả của nó đối với thế giới là rất lâu dài. Nước Nga có nhiều lý do để biện hộ cho mình khi quả thực họ bị Mỹ và phương tây chèn ép trong nhiều năm, với việc liên tục mở rộng biên giới Nato sang phía đông. Diễn biến tại Ucraine là một lò lửa hoang tàn, nền kinh tế hầu như bị hủy diệt. Đây là một minh chứng cho thấy sự thất bại của cả Nga và Phương tây trong việc tìm kiếm một sự phân bổ thế lực hòa bình. Nga xâm lược thành công Crimea nhưng rơi vào trạng thái cô lập và buộc phải quay sang bắt tay với mối họa tiềm ẩn lớn nhất của nó là Trung Quốc. Mỹ và phương tây thành công khi cô lập Nga và đẩy quốc gia này vào trạng thái khó khăn, nhưng gặp thất bại chiến lược khi đẩy Nga về phía Trung Quốc. Trên thực tế, đây là một kết quả thua thiệt đối với cả hai thế lực lớn thời hậu chiến tranh lạnh, duy nhất hưởng lợi chính là Trung Quốc. Hậu quả của nó đối với thế giới là rất lâu dài, cuộc xâm lược thành công không tiếng súng của Nga đã tạo cảm hứng cho Trung Quốc tại Hoa Đông và đặc biệt là Biển Đông. Bước tiến của Trung Quốc trở lên ngày một mạnh mẽ và cương quyết trong tham vọng thôn tính lãnh thổ và lãnh hải của các quốc gia yếu hơn lân cận. - Cuộc khủng hoảng tài chính của Hy Lạp năm 2015 đã đến lúc bùng phát và hầu như vô phương cứu chữa. Sự quản lý yếu kém trong nhiều năm và việc vay mượn chi tiêu vô tội vạ đã khiến chỉnh phủ nước này phá sản, và lối thoát duy nhất là trông chờ vào sự cứu giúp của các nước thuộc Euro zone, vốn có sự kiên nhẫn đã gần về 0 khi không nhìn thấy một sự cải thiện nào tại Hy Lạp sau các gói giải cứu khổng lồ tốn kém tới hơn 300 tỷ euro. Việc Hy lạp được cứu hay buộc phải rời bỏ EU cũng hầu như chỉ dẫn tới một kết quả giống nhau: Cộng đồng kinh tế chung châu Âu bước vào một thời kỳ mới đầy khó khăn và chia rẽ. Với tư cách là một cộng đồng kinh tế lớn, văn minh và phát triển bậc nhất thế giới, sự suy yếu của khối này sẽ tạo nhiều khoảng trống quyền lực cho các thế lực khác đang vươn lên. Đây là một tin tốt đối với nước Nga hay Trung Quốc và là một tin buồn đối với nước Mỹ khi xét tới sức mạnh trong tương quan so sánh của các đồng minh. - Năm 2014, theo một số thống kê bằng chỉ số sức mua tương đương PPP, Trung Quốc được cho là đã vượt Mỹ về mặt quy mô của nền kinh tế. Có nhiều tranh cãi về tính thực tế của cách tính ngày, nhưng việc nước Mỹ bị Trung Quốc bám đuổi sát nút đã là một thực tế không thế phủ nhận. Dù được dự báo sẽ lâm vào một thời kỳ trì trệ với nhiều bất ổn, nhưng tốc độ tăng trưởng của Trung Quốc vẫn cao hơn Mỹ xét trên mọi khía cạnh. Sự xâm nhập kinh tế của Trung Quốc đối với thế giới đã trở thành một điều không thể ngăn chặn. Thặng dư kinh tế giúp Trung Quốc có nhiều nguồn lực đầu tư mạnh mẽ vào năng lực chiến tranh. Ngân sách quốc phòng của Trung Quốc tăng liên tục nhiều con số trong nhiều năm, vượt nhiều lần tốc độ tăng trưởng GDP. Sự đe dọa của Trung Quốc với Nhật Bản, Việt Nam, Ấn Độ, Philipin và nhiều quốc gia giáp giới của nó cũng ngày một mạnh mẽ hơn. Trong năm 2014, chiến hạm Trung Quốc ngày một vươn xa trên các đại dương, cùng với các đòi hỏi ngày một tham vọng hơn về lãnh thổ và lãnh hải. Những xu thế liệt kê ở trên chính là những yếu tố khởi đầu cho một bức tranh mới về trật tự thế giới hiện đại. Cùng với sự suy yếu của quyền lực Mỹ sau nhiều ngày tháng huy hoàng, nhiều chiến lược gia của phương tây đang tự hỏi: Điều gì đang diễn ra, và vì đâu mà với nhiều lợi thế đạt được sau khi kết thúc chiến tranh lạnh những năm 1990, phương tây nhanh chóng suy yếu và bước sang sườn dốc phía bên kia của quyền lực? Khởi đầu của bức tranh này, cần phải nhìn nhận lại những năm tháng mà Brzezinsky và Henry Kissinger còn làm mưa làm gió trên chính trường Hoa Kỳ những năm 80 của thế kỷ trước. Cố vấn an ninh quốc gia Brezinsky được coi là tác giả của bức tường cô lập Liên Xô khiến siêu cường khét tiếng một thời cuối cùng gục ngã vì những khó khăn đến từ cả bên trong lẫn bên ngoài. Nhưng cũng chính Brzezinsky và Kissinger đã khởi đầu cho một xu thế sai lầm của phương tây trong nhiều thập niên: Cùng với việc cô lập Liên Xô, Mỹ và phần còn lại của thế giới chìa tay gần như vô điều kiện với Trung Quốc, tặng cho quốc gia này một làn sóng hậu thuẫn về vốn và công nghệ vượt bậc và những cơ hội thâm nhập thị trường với rất ít ràng buộc. Trong con mắt của các chiến lược gia phương Tây thời bấy giờ, lôi kéo Trung Quốc là cách hiệu quả nhất để cô lập Liên Xô. Họ đúng vào thời đại của mình, nhưng quên mất các giải pháp phòng ngừa khi khởi đầu cho việc tạo ra một đối thủ rồi còn nguy hiểm hơn cả Liên Xô. Hiểu biết sai lầm của thế giới phương Tây về bản chất của Trung Quốc khiến thế giới nhiều năm sau đối mặt với một thế lực hiếu chiến và đầy đe dọa. Mỹ, Nhật và Châu Âu phạm sai lầm khi nhận định một Trung Quốc phát triển hơn sẽ nhanh chóng hòa nhập vào thế giới văn minh và trở lên văn minh hơn thay vì man rợ như dưới thời Mao Trạch Đông. Họ chỉ đúng ở duy nhất một khía cạnh. Sau thông cáo Thượng Hải của Chu Ân Lai năm 1972, Trung Quốc chớp lấy thời cơ tái hòa nhập với thế giới và nhanh chóng vươn lên. Hơn 30 năm tốc độ tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc luôn dẫn đầu thế giới và đạt mức hai con số. Trung Quốc xâm nhập sâu sắc vào hệ thống sản xuất và thương mại toàn cầu, được coi là công xưởng của thế giới và đạt được những khoản thặng dư khổng lồ từ xuất khẩu. Nhưng trái với mong muốn của phương Tây, Trung Quốc ngày một phát triển hơn nhưng nó không văn minh hơn, ngược lại, nó trở lên ngày một dã man và hung hăng, tỷ lệ thuận với sự bành trướng sức mạnh về kinh tế và quân sự. Nguyên nhân bản chất của vấn đề, xuất phát từ nhận định sai lầm của phương tây, khi hầu hết đều trở lên văn minh hơn khi đạt được trình độ phát triển cao về kinh tế. Trong suốt 50 năm qua, triết lý phát triển của Trung Quốc là kẻ mạnh làm vua, người Trung Quốc bằng mọi cách làm giàu, chà đạp lên nhau và chà đạp lên các dân tộc khác để đạt được mục đích. Triết lý này được hậu thuẫn ở tầm quốc gia với lý thuyết mèo đen mèo trắng của Đặng Tiểu Bình. Đặng chỉ cần tiền, bất kể người Trung Quốc làm gì để có tiền đều được khuyến khích. Người Trung Quốc lao vào sản xuất mọi thứ, bán mọi thứ, sao chép mọi thứ, ăn cắp mọi thứ bất chấp hậu quả môi trường, bất chấp việc gây nguy hại cho sức khỏe của người tiêu dùng và thậm chí cả người sản xuất, bất chấp việc vi phạm luật pháp. Nói cách khác, với triết lý kẻ mạnh làm vua, mọi thứ luật lệ đều không có ý nghĩa với người Trung Quốc, hay luật lệ chỉ được diễn giải theo cách thức sao cho có lợi với họ. Càng phát triển, xã hội Trung Quốc càng trở lên hoang dã và kém văn minh. Thay vì hòa bình, sự hung hãn của Trung Quốc tăng dần theo thời gian. Năm 2015, Trung Quốc xuất hiện trước thế giới với một sức mạnh kinh tế đáng sợ và lực lượng quân sự đầy đe dọa. Trung Quốc diễn giải mọi thứ luật pháp quốc tế dưới một góc nhìn của riêng họ để tuyên bố chủ quyền với hầu hết biển Đông, biển Hoa Đông, khu vực Akai Chin ở phía đông Hymalaya. Bằng sức mạnh ngày một được củng cố về kinh tế và quốc phòng, Trung Quốc tiến những bước đầy quyết đoán trong dã thâm xâm lược lãnh thổ. Chiến hạm Trung quốc ngày một vươn xa hơn trên các đại dương. Đầu năm 2015, Trung Quốc mở đầu cho một thời kỳ xâm lược trên thực tế bằng việc bồi lấp 7 đảo tại quần đảo Trường Sa thuộc biển Đông, mở đầu cho một thời kỳ đầy bất ổn đối với chủ quyền của các quốc gia Đông Nam Á và sự an toàn của dòng chảy thương mại thế giới. Đã quá muộn với nước Mỹ để đắp một con đê cô lập Trung Quốc như những gì họ đã làm với Liên Xô. Trong bối cảnh lao tâm tổn lực vì những cuộc can thiệp tốn kém liên miên trải dài từ Trung Đông sang đến Tây Á, Mỹ và đồng minh gần như kiệt quệ. Để tái vãn hồi quyền lực toàn cầu, Mỹ tìm cách củng cố các liên minh cũ và tìm kiếm thêm những đồng minh mới. Ý tưởng xoay trục sang phía Đông được hình thành từ một tuyên bố khởi đầu của ngoại trưởng Hilary Clinton dần được định hình, củng cố và giờ đây trở thành một quốc sách chiến lược. Người ta bắt đầu nhắc đến hiệp định đối tác thương mại xuyên Thái Bình Dương, với sự góp mặt của Mỹ, Nhật Bản, Australia và nhiều quốc gia thuộc vành đai khu vực kinh tế đầy tiềm năng này. Bên cạnh việc tạo lập một sân chơi mới với sự góp mặt của những quốc gia năng động và đầy tiềm năng của khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, mục đích chính của liên minh kinh tế mới này là tạo sự liên kết của một vành đai kinh tế các nước giáp giới Trung Quốc và nước Mỹ, nhằm củng cố cơ hội phát triển của các nước này và tạo tiền đề cho sự gắn kết mạnh mẽ hơn về an ninh quốc phòng, điều rồi sẽ diễn ra như một tất yếu khi mối liên hệ kinh tế ngày một tăng cường. Tất nhiên, hiệp định đối tác TPP, với sự góp mặt dự kiến của 12 quốc gia, chiếm 40% GDP và dân số toàn cầu, nói không với Trung Quốc. Dù có một vài ý kiến đâu đó bàn luận về việc để ngỏ sự tham gia của Trung Quốc vào TPP, nhưng TPP sẽ không còn là TPP nếu có mặt Trung Quốc. Vượt qua nhiều lực cản, thỏa ước thương mại mang tính lịch sử với quyền lợi của Mỹ và nhiều quốc gia châu Á - Thái Bình Dương, trong đó có Việt Nam ngày một rõ nét và định hình. Có thể nói, TPP chính là hợp phần trọng yếu của bức tranh phân bổ quyền lực kinh tế và chính trị thế giới trong thế kỷ 21. Quan trọng với Mỹ, Nhật Bản, Australia, Việt Nam, Malaysia và tất cả các nước thành viên. Trong bối cảnh đó, ngày 06 tháng 07 năm 2015, Tổng bí thư ĐCS Việt Nam Nguyễn Phú Trọng lên đường thăm chính thức nước Mỹ theo lời mời của Tổng thống Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ Barack Obama, ghi một dấu ấn mới trong lịch sử quan hệ hai nước vốn từng là cựu thù và có cuộc chiến kéo dài tới 20 năm trong quá khứ. Đây là một ninh chứng rõ nét nhất cho thấy yếu tố lớn nhất và quan trọng nhất chi phối quan hệ giữa các quốc gia, trong đó lợi ích mỗi nước luôn là tối thượng và sự tương đồng lợi ích quốc gia sẽ giúp san bằng mọi khoảng cách, quá khứ và khác biệt. Trong tuyên bố chung công khai được ông Trọng và ông Obama loan báo sau hội nghị, một tuyên bố được phát sóng trực tiếp trên nhiều kênh truyền thông quốc tế, hầu hết các nội dung đều không nằm ngoài dự đoán từ trước. Nói cách khác, đây là một cuộc viếng thăm ngoại giao được lên kế hoạch chu đáo từ cả hai phía với các nội dung đã được bàn thảo và thống nhất từ lâu. Ý nghĩa lớn nhất của nó, là thông điệp từ tính biểu tượng của sự kiện này. Và điều này, rồi sẽ quay trở lại tác động đến tình hình nội tại của Việt nam cũng như Hoa Kỳ trong giai đoạn sắp tới. Trong phần tuyên bố của mình, ông Obama một mặt nhấn mạnh vào các đòi hỏi nhân quyền, vốn là một hợp phần tất yếu của chính sách ngoại giao Hoa Kỳ, nhưng phần quan trọng hơn cả trong bài phát biểu của ông Obama, là sự hợp tác kinh tế tương lai với nền tảng của TPP và các chính sách an ninh khu vực. Điều quan trọng hơn cả mà ông Obama không tuyên bố công khai nhưng được thể hiện bằng hành động thực tế: Với việc mời ông Nguyễn Phú Trọng trong một cuộc thăm viếng ngoại giao chính thức, Mỹ gửi thông điệp về sự thừa nhận và tôn trọng thể chế chính trị của Việt Nam, điều mà rồi đây sẽ có tác động sâu sắc đến chính sách đối ngoại của Việt Nam, vốn trước giờ luôn bị chia rẽ giữa hai làn sóng thân phương Tây hay Trung Quốc. Đây là một nước cờ mạo hiểm của ông Obama, nhưng nước Mỹ hầu như không phải trả giá mà chỉ cần chờ kết quả. Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng là một ẩn số bất ngờ trong chuyến viếng thăm này. Vốn được coi là một người giáo điều và cực kỳ bảo thủ, đại diện cho xu hướng bảo tồn sự tồn tại của Đảng Cộng Sản trong hệ thống chính trị Việt Nam, vốn đã từ lâu mất đi nền tảng tư tưởng mà chỉ còn lại bộ khung cai trị dựa trên quyền lực độc tài, tuy nhiên thông điệp mà ông Trọng gửi ra thế giới trong bài tuyên bố sau cuộc gặp lại là một lối tư duy gợi mở. Giống như Obama, ông Trọng nhấn mạnh vào sự hợp tác tương lai với nòng cốt là TPP. Điều đặc biệt hơn, ông công khai thừa nhận những quan ngại của Mỹ về nhân quyền và có một thái độ gợi mở về những thay đổi cả về pháp lý và chính sách, để đáp ứng các đòi hỏi của TPP, điều tất yếu sẽ dẫn tới sự cải thiện nhân quyền thông qua các chính sách cải thiện đời sống của người lao động. Với một lối trình bày tự tin bên cạnh Obama, sự chuẩn bị trước đầy chu đáo kỹ càng, ông Trọng phát ngôn mà không cần nhìn giấy, cho thấy sự tự tin của người đứng đầu hệ thống chính trị trong một sự kiện ngoại giao có tính quan trọng sống còn. Có thể nói, màn trình diễn của Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng tại nhà trắng ngày 07/07/2015 gần như hoàn hảo đối với ông, khác hẳn các màn trình diễn yếu kém khi phát ngôn về nhiều vấn đề trong nước và bị chỉ trích trên các trang mạng xã hội. Trong những ngày tháng cuối cùng của nhiệm kỳ tổng thống thứ hai. Hơn bất cứ ai, Barack Obama muốn ghi dấu ấn trong lịch sử nước Mỹ để khời đầu cho một trật tự thế giới mới mà Mỹ vẫn giữ được vai trò của nó. Ông ta sẽ bằng mọi giá thúc đẩy tiến trình của hiệp định TPP, thiết lập bộ khung cho các thỏa ước kinh tế và an ninh của Mỹ với các đối tác mới và cũ. Mục đích của Obama khá rõ ràng, trật tự mới cần được thiết lập để chặn bước các tham vọng lãnh thổ đầy dã tâm của Trung Quốc, ngăn chặn đà ảnh hưởng của nó, để rồi hoặc Trung Quốc sẽ phải sụp đổ bởi những vấn đề nội tại, hoặc quốc gia này sẽ phải thay đổi trong hòa bình thay vì việc thúc đẩy dã tâm bành trướng. Quyền lợi của Mỹ trong bối cảnh đó là khá rõ nét, khi chắc chắn về lâu về dài, với ưu thế vượt trội của nền văn minh, Mỹ sẽ vẫn giữ vị thế dẫn đầu. Vấn đề của nước Mỹ và Obama, là tạo ra một trật tự mới có đủ sức mạnh để bắt Trung Quốc tôn trọng luật pháp quốc tế. Ở phía bên kia, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng đang trong những ngày tháng nắm quyền cuối cùng với vai trò đứng đầu hệ thống chính trị Việt Nam. Ông có một nhiệm kỳ gây tranh cãi với nhiều phát ngôn có tính giáo điều, và cuộc chiến không cân sức với đồng chí X (Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng). Tuy nhiên, giống như một điều lạ lùng trong hệ thống chính trị Việt Nam, sự thay đổi đôi khi lại được hậu thuẫn từ những cái tên được cho là bảo thủ nhất. Tổng bí thư Lê Duẩn từng được coi là một tay độc tài và thủ đoạn khét tiếng, nhưng cũng chính ông ta, những năm cuối đời lại ủng hộ mạnh mẽ cho các bước đi đột phá của Bí thư thành ủy Hải Phòng Đoàn Duy Thành, người sau này thành phó thủ tướng và là một nhân vật quan trọng giúp định hướng chính sách đổi mới dưới thời Nguyễn Văn Linh. Với những gì đã thể hiện trong chuyến viếng thăm Hoa Kỳ, ông Trọng gỡ gạc rất nhiều hình ảnh trong con mắt của 90 triệu người Việt Nam, vốn giành sự quan tâm theo dõi chuyến đi một cách rất đặc biệt. Có nhiều ý kiến cho rằng sẽ không có nhiều biến chuyển đột phá sau chuyến đi bởi chất liệu của hàng ngũ lãnh đạo ở Việt Nam vẫn hầu như không thay đổi. Anh Lãng nhìn nhận vấn đề dưới một góc độ tích cực hơn, khi ghi nhận rằng, sự chuyển dịch của dòng quyền lực Á Châu đang diễn ra dưới sự tác động của hiệp ước đối tác thương mại xuyên Thái Bình Dương, chảy xuôi qua hệ thống chính trị Việt Nam, và dẫn tới sự thay đổi lặng lẽ nhưng chắc chắn của cả một hệ thống. Chất xúc tác quan trọng nhất cho sự dịch chuyển của dòng chảy quyền lực này, đối với Mỹ, là sự vươn lên đầy đe dọa của Trung Quốc trong tham vọng thâu tóm vùng ảnh hưởng. Là một quyền lực toàn cầu, nước Mỹ hiểu ý nghĩa và giá trị của việc duy trì được ảnh hưởng của Mỹ đối với khu vực Châu Á - Thái Bình Dương. Trong một khía cạnh có tính khác biệt lớn hơn, chất xúc tác cho sự dịch chuyển dòng chảy quyền lực Á Châu xuyên qua Việt Nam, lại là mối đe dọa có tính sinh tồn: Độc lập và toàn vẹn lãnh thổ. Dù là một thể chế độc tài, nhưng sự cai trị của ĐCS ở Việt Nam được xây dựng từ nền tảng của những cuộc chiến tranh nối tiếp giành độc lập và thống nhất đất nước. Trái với nhiều tuyên bố mang tính định hướng đầy thủ đoạn của Trung Quốc khi diễn giải nền tảng hợp tác Việt Trung: Sự hợp tác kinh tế luôn xếp trên mọi yếu tố khác. Ngược lại, yếu tố mang tính sinh tồn sống còn đối với thể chế chính trị Việt Nam, trên hết và bao trùm vẫn luôn là sự độc lập và toàn vẹn lãnh thổ. Nhất là trong bối cảnh, Việt Nam có những cơ hội lựa chọn hợp tác kinh tế trong một thế giới không phải chỉ có mình Trung Quốc. Là một quốc gia kém phát triển nhất trong 12 nước đang tham gia đàm phán TPP, nhưng Việt Nam được dự báo là nước sẽ gặt hái nhiều lợi ích kinh tế nhất. Với các ràng buộc về xuất xứ hàng hóa tiêu thụ nội khối phải bắt nguồn từ các thành viên TPP, đây là một cách được Mỹ và đồng minh thiết lập nhằm làm suy yếu dần dòng thương mại từ Trung Quốc vào các quốc gia này, tiến tới triệt tiêu dần lợi thế kinh tế của Trung Quốc, khiến quốc gia này đối mặt với khó khăn và rồi sẽ phải chấp nhận một trật tự thế giới trong hòa bình. Đây là một cơ may lớn đối với Việt Nam khi có triển vọng nhận được làn sóng đầu tư to lớn và khuếch trương dòng thương mại xuất khẩu vào các khoảng trống thị trường mà Trung Quốc sẽ buộc phải để mất khi TPP thành công. Còn quá sớm để nói về tác động thực tiễn, nhưng nhiều nhà kinh tế học đã ước tính về một mức tăng trưởng mới của Việt Nam thậm chí lên đến 30%, một con số thật không thể tin được (Bờ Phone), thật tuyệt vời và đang có cơ hội trở thành thực tiễn. Với vai trò là người đứng đầu hệ thống chính trị Việt Nam, trước một cơ hội có tính lịch sử, rõ ràng ông Nguyễn Phú Trọng đang có cơ hội ghi dấu ấn vào lịch sử. Ở một bức tranh khác, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, người mới kết thúc chuyến thăm Nhật Bản ít ngày trước với sự thành công thực tế còn lớn hơn chuyến đi Mỹ của ông Trọng, khi nhận được khoản cam kết tài trợ 3,1 tỷ USD từ Nhật bản, và đặc biệt hai bên ra tuyên bố chung về cơ bản đã kết thúc đàm phán TPP Việt Nhật. Nếu ở một thời điểm khác, thành tích của ông Dũng sẽ gây chú ý lớn đối với các nhà quan sát Việt Nam cũng như quốc tế, nhưng tính hấp dẫn của chuyến thăm viếng lịch sử của ông Nguyễn Phú Trọng đã khiến vầng hào quang đó lu mờ. Tuy nhiên ông Dũng chẳng có lý do gì để buồn phiền khi gần như chắc chắn ông ta sẽ là người đứng đầu hệ thống chính trị Việt Nam sau năm 2016, với sự tập trung quyền lực cao độ và một hứa hẹn về một giai đoạn phát triển mới của Việt Nam do sự vận động của dòng chảy quyền lực Á Châu đang mang lại. Điều đó khiến mâu thuẫn phe nhóm và quyền lực trong nội bộ Việt Nam được làm dịu đi đáng kể khi cả hệ thống gần như đều đang chịu tác động của cùng một xu thế và có cùng một tầm nhìn. Trong một vài thiên Lãng luận khi bàn tới những quyết sách lớn của Trung Quốc, anh Lãng từng nhắc tới những sai lầm có tính chiến lược của giới cầm quyền nước này, khi lựa chọn cách khuếch chương quyền lực cứng bằng các yêu sách lãnh thổ, thay vì quyền lực mềm qua các hiệp ước kinh tế và liên kết thị trường. Hầu hết các nỗ lực của Trung Quốc, khi khởi động dự án ngân hàng phát triển châu Á hay vành đai kinh tế con đường tơ lụa xuyên á âu đầy tham vọng đều bị triệt tiêu vì những chính sách xâm lăng mới của quốc gia này. Trung Quốc chớp được thời cơ khi các trung tâm quyền lực lớn trên thế giới phạm nhiều sai lầm và suy yếu, và đến lượt nó cũng gặp phải sai lầm. Cơ hội ngày hôm nay của Việt Nam, được tạo ra từng chính sách của Trung Quốc. Thành công hay thất bại thì còn phải nhìn vào thực tiễn cách mà hệ thống chính trị Việt Nam, đất nước và con người Việt Nam chớp lấy cơ hội ấy như thế nào. Sẽ là thiếu toàn vẹn khi nhắc tới tình hình nội tại gần đây của Trung Quốc. Sau một thời gian dài tăng trưởng, nền kinh tế nước này đã hạ nhiệt và xuất hiện nhiều dấu ấn khó khăn. Các ung nhọt vốn đã âm ỉ từ lâu trong các thị trường bất động sản và chứng khoán của nước này hầu như chỉ chờ cơ hội bùng phát. Nếu Mỹ thành công với TPP, tạo ra một sân chơi mới ngăn chặn sự tham gia của Trung Quốc, quốc gia có cái máu bành trướng thâm căn cố đế ấy sẽ gặp phải khó khăn gấp đôi khi hoàn cảnh ngày một kém thuận lợi hơn. Sự hoang dã vô luật pháp của xã hội Trung Quốc rồi sẽ khiến đất nước này tổn hại nặng nề và lâm vào hỗn loạn khi các ung nhọt của nền kinh tế bùng phát và đổ vỡ niềm tin. Đây là một câu chuyện mới, khởi đầu cho một thiên Lãng luận thú vị mà chắc chắn anh Lãng sẽ có cơ hội bàn đến trong tương lai phía trước. Cuối cùng, thì chính chúng ta sẽ ở đâu trong sự vận động mới của dòng chảy quyền lực Á Châu? Các bạn sẽ đứng bên lề, trầm trồ quan sát hay cố gắng trở thành một bộ phận của dòng chảy ấy và chớp lấy các cơ hội từ đó? Trong nhiều tháng qua, anh Lãng có nhiều cuộc gặp với các đối tác và bạn bè, những người đang cố gắng đón đầu một cơ hội mới trong bối cảnh thị trường đầu tư chưa bao giờ thuận lợi hơn (về vốn, về lãi suất...) trong 15 năm qua ở Việt Nam. Đó sẽ chính là những người đi tiên phong để gặt hái thành quả. Mặt khác, cơ hội của sự phát triển là chia đều cho tất cả chúng ta, miễn là các bạn phải đón nhận nó với một tinh thần chủ động. Đó sẽ là những cơ hội việc làm mới, được tạo ra từ kết quả của sự tăng trưởng và cả một trào lưu mới về tư duy thay thế cho nền văn hóa hỗn độn, dị hợm và chán chường. Điều đặc biệt là gần đây, anh Lãng ghi nhận thấy sự tồn tại của một trang báo online duy nhất không mang xu thế lá cải, và nhiều lúc có nhiều thứ đáng xem là trang giaoduc.net.vn. Còn quá sớm và quá ít ỏi để nói về một trào lưu tư tưởng mới, nhưng mọi thứ đều phải có điểm khởi đầu. Lãng
Asia với sự tái cân bằng của Hoa Kỳ Cựu Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton đã viết vào tháng Mười, 2011 chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ là kế hoạch chuyển trục sang châu Á bởi sự trỗi dậy của các cuộc chiến tranh của Iraq và Afghanistan. Các trục, còn được gọi là sự tái cân bằng, gồm có hai điểm: một là nền kinh tế thông qua một đối tác thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP) và hai là đầu tư hiệp ước quân sự với 11 quốc gia khác giáp với Thái Bình Dương thông qua cam kết mới của Mỹ để bảo vệ các đồng minh châu Á của mình.Sự thành công cuối cùng của việc tái cân bằng chỉ có thể được đánh giá theo thời gian, nhưng thước đo của sự tín nhiệm là dựa vào sự hỗ trợ của các quốc gia qua việc hội nhập kinh tế xuyên Thái Bình Dương do việc “sẵn sàng bảo vệ các đồng minh châu Á của mình và những đồng minh Châu Á của Mỹ tin rằng Chú Sam sẽ đến hợp tác và bảo vệ quốc phòng cho họ”. Cả hai trục kinh tế và quân sự đều có sự hỗ trợ của các quốc gia trên cả hai bờ Thái Bình Dương. Một nửa hoặc nhiều hơn số lượng công chúng từ các quốc gia ở bảy trong số chín các nước TPP được khảo sát nói lên quan điểm cho rằng việc tái cân bằng trên sẽ là một điều tốt cho đất nước của họ. Công chúng Mỹ ủng hộ việc sử dụng vũ lực quân sự để bảo vệ các đồng minh châu Á của mình nếu họ nhận được một cuộc xung đột quân sự với Trung Quốc. Và những đồng minh - Nhật Bản, Philippines và Hàn Quốc - tin rằng Washington sẽ đến tiếp cứu.Hiệp ước thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP) bao gồm 12 quốc gia trên cả hai bờ Thái Bình Dương, bao gồm Úc, Brunei, Canada, Chilé, Nhật Bản, Malaysia, Mexico, New Zealand, Peru, Singapore, Hoa Kỳ và Việt Nam. Nếu hiệp ước trên kết thúc thành công, các nền kinh tế tham gia sẽ chiếm 40% nền kinh tế thế giới và 26% thương mại thế giới.http://www.pewglobal.org/2015/06/23/...bop-report-07/Hỗ trợ chung cho TPP 2015, theo khảo sát của Pew Research trên 9 của 12 quốc gia tham gia vào các cuộc đàm phán TPP, đa số công chúng với trung bình là 53% nghĩ rằng thỏa thuận này sẽ là một điều tốt cho đất nước của họ. Còn 23% nói rằng nó sẽ là một điều xấu. Sự hỗ trợ mạnh nhất là ở Việt Nam, nơi mà 89% công chúng ủng hộ hiệp định nhiều tiềm năng này. Sự ủng hộ yếu nhất là ở Malaysia (38%) và Mỹ (49%) trong đó với 31% của Malaysia và 12% người Mỹ tình nguyện là do họ đã không nghe nói về các cuộc đàm phán. Phe đối lập hoàn toàn lớn nhất là ở Canada (31%), Úc (30%) và Mỹ (29%). Đáng chú ý, có một khoảng cách giới tính qua thái độ của công chúng đối với các thỏa thuận trong bốn nền kinh tế lớn nhất đàm phán TPP. Tại Mỹ, 53% nam giới ủng hộ TPP, nhưng chỉ có 45% phụ nữ đồng ý. Tại Nhật Bản, 60% đàn ông nghĩ rằng các thỏa thuận thương mại sẽ là tốt cho đất nước, trong khi chỉ có 46% phụ nữ Nhật Bản đồng ý. Tại Canada, khoảng cách giới tính là 13 điểm: 59% nam giới ủng hộ so với 46% của phụ nữ. Tại Úc, khoảng cách bảy điểm: 56% đến 49%. Ngoài ra còn có một khoảng cách các thế hệ về TPP trong một số quốc gia tham dự. Sự khác biệt lớn nhất (24 điểm phần trăm) là ở Mỹ, nơi mà người Mỹ tuổi từ 18 đến 29 (65%), nhiều hơn so với những người ủng hộ tuổi từ 50 tuổi trở lên (41%). Ngoài ra còn có một sự khác biệt 19 điểm phần trăm trẻ tuổi ở Mexico, một khoảng cách 15 điểm ở Australia, một sự khác biệt 10 điểm trong Peru và một sự khác biệt 8 điểm ở Việt Nam. Ngoài khoảng cách giới tính và độ tuổi, có một phân chia đảng phái về TPP trong một số quốc gia chủ chốt. Tại Mỹ, gần một nửa (51%) của đảng Dân chủ cho rằng thỏa thuận thương mại này sẽ là một điều tốt cho đất nước, trong khi chỉ có 43% đảng viên Cộng hòa đồng ý. Tại Canada, 70% số người ủng hộ đảng Bảo thủ đang cầm quyền, nhưng chỉ có 60% của đảng Tự do và 42% của các đảng viên của Đảng Dân chủ đồng ý. Ở Úc, 67% của những người ủng hộ của Quốc Đảng / Quốc gia Tự do, nhưng chỉ có 44% của Đảng Lao động đối lập ủng hộ các thỏa thuận thương mại. TPP hiển nhiên là một nỗ lực để làm sâu sắc thêm quan hệ kinh tế của các quốc gia tham gia với nhau đặc biệt là với Mỹ. Một số nhà quan sát thấy sáng kiến này là nỗ lực của Washington nhằm kiềm chế Trung Quốc và hạn chế các mối quan hệ kinh tế của Bắc Kinh với khu vực. Nhưng đa số trong chỉ có bốn trong tám quốc gia TPP khi dược hỏi câu hỏi này đểu nói quan trọng hơn hết là phải có quan hệ kinh tế mạnh mẽ với Mỹ hơn là với Trung Quốc. Trong cả hai TPP và không TPP Pacific Rim, công chúng đã được hỏi họ thích quan hệ kinh tế mạnh mẽ hơn với Washington hay với Bắc Kinh, 7/10 hoặc nhiều hơn tại Nhật Bản (78%), Philippines (73%) và Canada (73%) chọn Mỹ. Gần 7/10 người Việt Nam (69%) đồng ý. Malaysia (14%) là những người ít hỗ trợ mối quan hệ kinh tế chặt chẽ với Mỹ Sự hỗ trợ lớn nhất cho các mối quan hệ kinh tế sâu hơn với Trung Quốc là ở Úc (50%) và Hàn Quốc (47%).http://www.pewglobal.org/2015/06/23/...bop-report-05/ Ngoài ra, một số lượng lớn người Malaysia (43%) và Chile (35%) tình nguyện mà họ muốn có quan hệ thương mại mạnh mẽ với cả Trung Quốc và Mỹ. (còn tiếp)
Về vấn đề quốc phòng Bản đánh giá bốn năm về bảo vệ quốc phòng đã cam kết việc Mỹ sẽ cân bằng lại các nguồn lực quân sự tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Một nửa hoặc nhiều hơn các cộng đồng ở 6/10 quốc gia được khảo sát cho rằng đây là một điều tốt vì nó có thể giúp duy trì hòa bình trong khu vực. Tuy nhiên, người Mỹ bị chia rẽ về vấn đề này. Sự hiện diện quân sự của Mỹ ở châu Á được hoan nghênh qua rất nhiều sự hỗ trợ mạnh mẽ được tìm thấy ở Việt Nam (71%) và Philippines (71%). Chỉ có khoảng một nửa số người Úc (51%) và Hàn Quốc (50%) không ủng hộ việc tái cân bằng này mặc dù thực tế rằng chính phủ của họ là một trong những đồng minh chiến lược thân cận nhất của Washington trong khu vực.http://www.pewglobal.org/2015/06/23/...bop-report-04/ Số lượng không ủng hộ lớn nhất đối với các trục quốc phòng Mỹ là ở Malaysia, nơi mà 54% tin rằng đó là một điều xấu, vì nó có thể dẫn đến xung đột với Trung Quốc. Người Mỹ chưa rõ ràng về việc liệu sự hiện diện quân sự lớn hơn ở châu Á là một điều tốt hay đó là một điều xấu: 47% ủng hộ nó, 43% phản đối. Một phần lớn của đảng Cộng hòa (58%) cho rằng việc tái cân bằng quân sự là một ý tưởng tốt. Nhưng chỉ có 42% của đảng Dân chủ hỗ trợ nó trong khi 47% không. Người Mỹ tuổi từ 50 tuổi trở lên đang ủng hộ nhiều hơn (51%) các trục an ninh so với những người tuổi từ 18 đến 29 (37%). Có một khoảng cách giới tính qua việc hỗ trợ của các trục trong một số quốc gia xuyên Thái Bình Dương. Đàn ông có nhiều hỗ trợ hơn phụ nữ 25 điểm phần trăm ở Nhật Bản (71% đến 46%), 14 điểm ở Mỹ (54% đến 40%), 12 điểm tại Úc (57% đến 45%) và 11 điểm ở Việt Nam (77% đến 66%). Người lớn tuổi (53%) ủng hộ nhiều hơn người trẻ tại Úc (43%) việc Mỹ can thiệp quân sự lớn trong khu vực. Một khoảng cách thế hệ tương tự tồn tại ở Hàn Quốc với 57% người Hàn Quốc lớn tuổi ủng hộ các trục so với 49% những người trẻ hơn. Chia rẽ chính trị đảng phái trên trục không giới hạn ở Mỹ. Ở Úc, 62% đảng viên Đảng Tự do nghĩ rằng Mỹ cam kết đem nguồn lực quân sự nhiều hơn đến châu Á là một điều tốt, trong khi chỉ có 49% những người ủng hộ Đảng Lao động đồng ý. Trung Quốc hiện đang tham gia vào một số vụ tranh chấp lãnh thổ ở khu vực chủ quyền ở biển Đông và Nam Trung Quốc. Hỗ trợ hay không ủng hộ với sự hiện diện quân sự lớn hơn của Mỹ trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương phản ánh một quan điểm rộng hơn trong việc để Trung Quốc khiêu khích trong các tranh chấp, hay đào sâu việc tham gia thương mại với Bắc Kinh vốn là nền kinh tế lớn trong khu vực. Gần 3/4 Việt Nam (74%) cho rằng có một mối quan hệ kinh tế mạnh (17%) với người láng giềng của họ ở phía bắc thì quan trọng hơn là cứng rắn với Trung Quốc về tranh chấp lãnh thổ. Đây có thể là một lý do quan trọng tại sao khoảng 7/10 (71%) Việt Nam ủng hộ việc Mỹ cam kết tăng cường các nguồn lực quân sự ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Đồng thời, 83% của Malaysia cho rằng việc có mối quan hệ kinh tế sâu hơn với Trung Quốc quan trọng hơn là phải chống đối Bắc Kinh về vấn đề lãnh thổ. Với tâm lý đó, Malaysia không ủng hộ việc chuyển trục Mỹ đến châu Á là không đáng ngạc nhiên. Nhật Bản và Philippines được phân làm hai hoặc đối đầu với Trung Quốc hoặc gần gũi hơn về kinh tế, mặc dù thực tế rằng cả hai công chúng đểu hỗ trợ việc Hoa Kỳ hiện diện quân sự lớn hơn trong khu vực. Hàn Quốc hỗ trợ nhiều việc cứng rắn với Trung Quốc hơn là hàng phòng ngự của Mỹ đến châu Á. Một số trẻ người châu Á thích đối kháng với Trung Quốc về các vấn đề lãnh thổ hơn là có quan hệ kinh tế chặt chẽ hơn với Bắc Kinh. Có một tỷ lệ 17 phần trăm khoảng cách thế hệ về vấn đề này ở Việt Nam (84% những người dưới 30 nói là nên cứng rắn với Trung Quốc, so với 67% của những người tuổi từ 50 tuổi trở lên). Khoảng cách thế hệ ở Hàn Quốc là 9 điểm, với 60% những người tuổi từ 18 đến 29 câu nói là cứng rắn với Trung Quốc là quan trọng hơn so với 51% những người tuổi từ 50 trở lên, và ở Indonesia 12 điểm (45% trẻ vs 33 % số người được hỏi tuổi trở lên). Đồng minh của Mỹ ở Châu Á tin Mỹ với cam kết bảo vệ đồng minh châu Á của mình. Đa số người Mỹ ủng hộ cam kết đó. Khi được hỏi liệu Mỹ có nên bảo vệ một trong những đồng minh châu Á của nó nếu nó đã vào một cuộc xung đột quân sự nghiêm trọng với Trung Quốc, 56% người Mỹ nói rằng Washington nên phản ứng với lực lượng quân sự. Tuy nhiên, những người đàn ông và phụ nữ Mỹ không đồng ý: 64% nam giới nói rằng Washington nên phản ứng với lực lượng, nhưng chỉ có 48% phụ nữ có quan điểm này. Và chỉ một bộ phận đảng phái sẵn sàng đi đến việc hổ trợ việc phòng vệ các đồng minh châu Á - trong khi 68% của đảng Cộng hòa cho rằng Mỹ nên làm như vậy, trong khi chỉ có 49% của đảng Dân chủ đồng ý.Đồng minh lớn của Mỹ trong khu vực mong đợi Chú Sam đến bảo vệ họ trong trường hợp có cuộc đụng độ với Trung Quốc. Hơn 7/10 Hàn Quốc (73%), khoảng 2/3 người Philippines (66%) và 6/10 người Nhật tin rằng nếu quốc gia họ và Trung Quốc có cuộc xung đột quân sự nghiêm trọng, Mỹ buộc sẽ sử dụng quân sự để bảo vệ họ. Đáng chú ý, ở Nhật Bản những người trẻ tuổi (70%) có nhiều khả năng hơn những lứa tuổi 50 trở lên (53%) tin tưởng vào Mỹ đến viện trợ quân sự cho họ. Kết quả của cuộc điều tra dựa trên điện thoại và mặt đối mặt trong các cuộc phỏng vấn được tiến hành dưới sự chỉ đạo của Princeton Survey Research Associates International. TSCK (nguồn)
Nguyễn Phú Trọng nên thấy gì ở Mỹ?
Ngô Nhân Dụng
Người Việt Nam sống ở Mỹ biết thế nào cũng được ông Nguyễn Phú Trọng nhắc tới. Quả nhiên, tại Trung Tâm Nghiên Cứu Chiến Lược Quốc Tế (CSIS), ông Trọng đã đọc một bài diễn văn viết sẵn, với câu này, “Tôi mong chính quyền Hoa Kỳ quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc sống, công việc và học tập của người Việt Nam tại Hoa Kỳ, tạo điều kiện để họ hội nhập tốt và đóng góp tích cực...” Trước đây, ông Trương Tấn Sang qua Mỹ đã từng thỉnh cầu chính phủ Hoa Kỳ săn sóc đời sống của người Việt ở Mỹ khiến cho mấy triệu người bật cười rồi, năm nay ông Trọng lập lại. Nghe xong, người Việt phải bật cười lần nữa! Khi phát biểu những yêu cầu này, hai ông chỉ chứng tỏ họ không biết gì đời sống ở một nước dân chủ tự do, trong một xã hội mở, nhất là trong một nước do hàng trăm sắc dân họp lại mà thành, như nước Mỹ! Điều mà người Việt Nam sống ở Mỹ muốn gửi tới hai ông, cùng tất cả Bộ Chính Trị Đảng Cộng Sản Việt Nam, là yêu cầu quý ông bà không cần lo cho chúng tôi. Xin quý vị hãy “quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc sống, công việc và học tập của người Việt Nam ở trong nước Việt Nam!” Nhiều người Việt đang bị bắt vào đồn công an một ngày bỗng bị treo cổ chết, công an bảo rằng họ tự tử nhưng không ai tin. Bao nhiêu nông dân Việt Nam bị Đảng Cộng Sản cướp đất để bán cho tư bản đỏ. Bao nhiêu trẻ em Việt Nam không được đi học; nhiều em đi học không đủ ăn đói quá không học được nữa; nhiều em đi học khi qua sông bố với con phải chui vào bao ni lông hay phải đu dây. Bao nhiêu người Việt Nam cần được “tạo điều kiện” vừa đủ cho họ được sống thôi, nhưng cuộc sống bình thường của họ đang bị đảng tước đoạt. Còn người Việt Nam ở nước Mỹ, thực sự họ không cần “chính quyền Hoa Kỳ quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc sống, công việc và học tập...” nào cả. Nhiều người Việt đã trở thành tỷ phú mỹ kim hoàn toàn do sức làm việc, sáng kiến và cơ hội tạo ra, không ai thấy “chính quyền Hoa Kỳ” phải làm gì giúp họ cả. Bao nhiêu học sinh Việt Nam ra trường đứng đầu bảng; bao nhiêu sinh viên được học bổng của các định chế giáo dục tư, đã trở thành các giáo sư, các nhà nghiên cứu; chỉ cần các em nghe lời cha mẹ dậy cố gắng học hành, không em nào cần nhờ đến chính quyền nào giúp cả. Hơn nữa, những người Việt Nam sống ở Mỹ chắc chắn không ai đòi hỏi và cũng không ai muốn được đối đãi đặc biệt. Tất cả các công dân và những người thường trú hợp pháp ở Mỹ đều được đối xử bình đẳng như nhau. Cơ hội mở ra cho tất cả mọi người như nhau, không ai cần được ưu đãi. Người gốc Trung Hoa, gốc Mexico hay gốc Nga cũng vậy. Không ai cần “chính quyền Hoa Kỳ” làm gì đặc biệt cho họ hết! Họ chỉ cần tuân thủ pháp luật, cố gắng đi học hay làm việc, cuộc đời họ do chính họ quyết định chứ không phải do những “nghị quyết”của đảng chính trị nào hoặc “chính sách ưu đãi” của bất cứ chính quyền nào cả. Những điều trên, ông Nguyễn Phú Trọng không hề biết. Cho nên ông mở miệng nói ra những lời mà người Việt hay người nào nghe cũng phải thấy là “ngớ ngẩn.” Không phải riêng ông Trọng mới lẫn cẫn như vậy. Các người lãnh đạo Đảng Cộng Sản đều hoàn toàn lú về nếp sống trong các nước tự do dân chủ. Và họ không chịu học. Năm trước, ông Nguyễn Minh Triết sang New York, bị hỏi về chế độ một đảng độc quyền lãnh đạo tại Việt Nam, ông hỏi lại rằng, “Thế tại sao nước Mỹ lại chỉ có hai đảng? Một đảng hay hai đảng khác gì nhau?” Cả đời Nguyễn Minh Triết không được ai dạy cho biết rằng nước Mỹ có hàng chục đến hàng trăm đảng chính trị; người ta nói nhiều đến hai đảng bởi vì có hai đảng mạnh nhất, chứ không hề có luật lệ cấm bất cứ công dân nào lập thêm đảng mới cả! Các lãnh tụ Cộng Sản đều “học tập tư tưởng Hồ Chí Minh” cho nên cái gì họ biết về nước Mỹ đều do Hồ Chí Minh dạy. Trên báo Nhân Dân ngày 5 tháng 11 năm 1951, Hồ Chí Minh viết: “Văn hóa Mỹ ngày nay là văn hóa của bọn đại tư bản, bọn gây chiến tranh, bọn giết người... Xã hội Mỹ hôi thối như thế, văn hóa Mỹ suy đồi như thế, mà đế quốc Mỹ cứ khoe là ‘văn minh’ và đi truyền bá ‘văn minh’ cho các nước khác!” Năm 1953, trên báo Cứu Quốc (ngày 6 tháng 11), Hồ Chí Minh viết bài: “‘Văn minh Mỹ’ - người không bằng chó.” Trong đó có câu: “Theo báo Mỹ thì chó Mỹ ăn 30 phần 100 nhiều hơn nhân dân hai bang Anhđiana và Mitsuri cộng lại! Có 730 món đồ hộp cho chó xơi...” Kết thúc bài chửi Mỹ, Hồ Chí Minh còn đặt hai câu vè: “‘Văn minh’ trọng chó hơn người, ‘Văn minh’ của Mỹ buồn cười lắm thay!” Hai chữ “Văn minh” đều đặt trong dấu ngoặc để chế nhạo. (Các bài này còn chép trong tuyển tập Hồ Chí Minh cả). Ông Nguyễn Phú Trọng từng làm chủ tịch Hội Đồng Lý Luận Trung Ương, chắc ông có đọc ít nhiều sách khác; không đến nỗi dốt như Nguyễn Minh Triết. Nhưng dù có đọc bao nhiêu sách viết về chế độ dân chủ mà không có dịp quan sát đời sống dân chủ tự do thì cũng chẳng biết gì cả. Một điều chắc ông Nguyễn Phú Trọng không biết, là nước Mỹ nó thay đổi. Năm mươi năm trước đây, nhiều người da đen sống ở Mỹ còn bị chèn ép không sử dụng được quyền đi bỏ phiếu, một quyền đã được luật pháp bảo đảm. Năm 1964, đạo luật về dân quyền đã cấm các thủ đoạn chèn ép, ngăn chặn đó. Và bây giờ thì một người da đen đang làm tổng thống. Năm mươi năm trước, nhiều tiểu bang còn cấm người da đen không được kết hôn với người da trắng. Năm nay, họ có quyền lấy nhau. Không những thế, còn được phép lấy cả người cùng tính phái nữa! Một quốc gia tiến bộ được là nhờ thay đổi, chấp nhận thay đổi và dám thay đổi. Đảng Cộng Sản đã kìm hãm không cho cơ chế chính trị nước ta thay đổi, cho nên nước Việt Nam bây giờ lạc hậu nhất trong vùng Á Đông và Đông Nam Á. Một điều khác ông Nguyễn Phú Trọng nên học, là các thẩm phán ở Mỹ không nghe lệnh của đảng chính trị, dù đảng đang cầm quyền hay không. Ông John Roberts được một vị tổng thống Đảng Cộng Hòa đưa lên làm chánh án Tối Cao Pháp Viện, cách đây 10 năm. Nhưng trong một năm qua, ông đã hai lần bỏ phiếu phán quyết cho đạo luật cải tổ y tế của ông Obama, một tổng thống thuộc Đảng Dân Chủ, là hợp hiến. Ngay trong lần ra Thượng Viện điều trần trước khi được các nghị sĩ chuẩn y, ông Roberts đã xác định rằng vai trò các quan tòa giống như các trọng tài trong trận banh. Ông nhân danh các thẩm phán tuyên bố, “Chúng tôi không thuộc Đảng Dân Chủ, cũng không Cộng Hòa” khi làm nhiệm vụ thẩm phán. Tháng Hai năm 2015, hai thẩm phán Tối Cao Pháp Viện, Ruth Ginsburg và Elena Kagan, cùng do các vị tổng thống Dân Chủ đề cử, nhưng họ đã bỏ phiếu trái ngược nhau trong cùng một phán quyết. Cũng vậy, ông Clarence Thomas, vị thẩm phán tối cao thuộc Đảng Cộng Hòa nổi tiếng bảo thủ nhất, trong năm qua đã hai lần bỏ phiếu cùng một phía với các vị thẩm phán thuộc phái cấp tiến do Đảng Dân Chủ đưa lên. Đảng Cộng Sản đã quen thói sai bảo các thẩm phán như đầy tớ, tòa án là một công cụ đảng dùng để bỏ tù những nông dân uất ức muốn kêu oan, những người Việt yêu nước chống Trung Cộng, và tất cả những công dân không đồng ý với chính sách của đảng. Vì vậy Đảng Cộng Sản đang ngăn cản không cho nước Việt Nam thay đổi, không cho nước Việt Nam tiến bộ. Trong bài thuyết trình tại CSIS, ông Nguyễn Phú Trọng còn nhắc tới chuyện Hồ Chí Minh và Mỹ. Ông kể rằng những người ngoại quốc đứng bên cạnh Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 năm 1945 đều là người Mỹ. Ông quên không nói rõ rằng đó là thủ đoạn của ông Hồ để “dọa” các đảng phái quốc gia không Cộng Sản. Ông Hồ dùng các sĩ quan tình báo Mỹ OSS để tạo ra hình ảnh ông “được Mỹ ủng hộ.” Chính ông Bảo Đại chịu thoái vị nhượng quyền cũng vì tưởng Mỹ đứng sau lưng ông Hồ! Việc Hồ Chí Minh viết thư xin kết thân với Mỹ nhưng bị bỏ rơi, ông Trọng cũng nhắc lại và tỏ ý tiếc rẻ. Nhưng vào lúc đó mối lo lớn nhất của chính quyền Mỹ là cuộc xâm lăng của Chủ Nghĩa Cộng Sản trên toàn thế giới. Các cơ quan tình báo quốc tế đều biết ông Hồ là một điệp viên của Nga Xô. Chính quyền Mỹ hồi đó mà ủng hộ ông Hồ thì cũng không khác gì một chính quyền Mỹ bây giờ ủng hộ tay thủ lãnh al Qaeda nào đó làm chủ tịch một nước Trung Đông! Họ đã đủ hồ sơ về Hồ Chí Minh rồi, không cần phải chờ đọc những bài ông viết (trích dẫn trên đây) mới biết hết bụng dạ ông ta ra sao! Tuy nhiên, nếu ông Nguyễn Phú Trọng kể lại các chuyện trên chỉ để biện minh cho đường lối “Quy Mã” của Đảng Cộng Sản, thì phải khuyến khích ông cứ tiếp tục nói. Những câu chuyện đó nên được kể nhiều lầm trong nội bộ Đảng Cộng Sản Việt Nam để thuyết phục tất cả các đảng viên rằng phải nhờ nước Mỹ giúp mới tạo được thế cân bằng đối đầu với Trung Cộng. Hơn thế nữa, các đảng viên cộng sản còn nên học tập những nền nếp trong đời sống dân chủ tự do ở nước Mỹ. Hơn 16,000 sinh viên Việt Nam đang theo học ở Mỹ có cơ hội học ngay tại chỗ. Đời sống nước Mỹ có cái hay và cái dở; người nhìn thấy nhiều cái hay hơn, người thấy nhiều cái dở hơn. Nhưng nó thay đổi, nó không đứng ỳ một chỗ. Chính nhờ thế nó tiến bộ. Nước Mỹ quý trọng tự do. Người Mỹ bảo vệ bình đẳng trong cơ hội. Những kẻ ngăn cản các quyền tự do, bình đẳng sẽ bị pháp luật trừng phạt. Người Mỹ tự quyết định đời sống của mình chứ không bao giờ “nhờ ơn đảng.” Guồng máy cai trị nước Mỹ có phân ra ba quyền, cân bằng và kiểm soát lẫn nhau. Cơ chế đó bảo đảm tự do và bình đẳng. Chỉ cần học mấy điều này thôi, chuyến đi của ông Nguyễn Phú Trọng vẫn hữu ích. |
|