Lưu Linh liệt truyện

Đệ tử Lưu Linh. Ảnh minh họa: internet
Tương truyền, Lưu Linh, người đời Tấn (210-270), quê đất Bái, nay thuộc Từ Châu, Giang Tô, là một trong “Trúc Lâm thất hiền” (bảy nguời hiền trong rừng trúc). Các ông này rượu chè suốt ngày. Khi Lưu Linh chết có cả thơ đề trên mộ
Họ Lưu lãng tử chẳng nên tài
Vác cuốc “chết đâu chôn đó ngay”
Say khướt đã coi ngang vạn vật
Chết khô chi bận chút hình hài
Nghìn năm mộ cổ cỏ gai mọc
Muôn dặm đường dài cát bụi bay
Tỉnh táo mà chi xem thế sự
Cánh bèo trôi giạt đáng thương thayLưu Linh đã lưu danh muôn thưở chỉ vì rượu tối ngày. Thời nay ai say sưa bét nhè được gọi là đệ tử Lưu Linh.
Chân lý ở đáy chén rượu
Mình có tay bạn cũ từ hồi cấp 3 Lương Văn Tụy (Ninh Bình) là Đinh Văn Phong. Hiện hắn là đại tá dậy ở Học viện QS. Lâu không gặp, chả biết đã lên tướng chưa.
Hồi Tổng Cua du học Ba lan, khi về phép 1973 có qua Moscow, chơi ký túc xá của Phong hàng tháng, toàn ăn vermisel (mì ống) với cá hộp và uống rượu trắng.
Hắn đưa đi khắp nơi, nhưng thỉnh thoảng lại cáo bận. Hóa ra là trốn đi với các em. Xem ảnh thấy ôm eo mấy nàng xinh như mộng. Không hiểu có ai thành phu nhân sau này. Hắn bảo, đi tán gái có vodka mới lên được dây cót tinh thần và ôm không thấy sợ.
Thấy hắn uống vodka như rồng, mình cứ hỏi, tại sao bọn Nga uống lắm đã đành, dân Việt sang Nga cũng thành nghiện rượu.
Hồi học trong trường, Phong hiền lắm, suốt ngày giải toán, mơ mộng đâu đâu. Cu cậu giỏi toán nhất nhì trong trường và luôn ngồi trên bàn đầu, không bao giờ quay cóp bài. Chỉ có hắn mới đọ được với 10G (lớp chuyên toán của Tỉnh). Không hiểu sao đi du học, cậu thay đổi, mồm miệng liến thoắng và tán gái thì thôi rồi.
Đến nhà chú em họ là Lê Hữu Lập chơi, gặp hắn nốc rượu như nước lã. Rượu vào thì lời ra nhưng rất thông minh. Hắn kể, trên Vĩnh Yên, không có việc gì làm nên chiều tối chỉ đi uống rượu, uống nhiều thành quen, tu mà không nói thành…phí rượu. Bợm rượu luôn có lý của mình. Lạ thế. Hồi đó mình hơi ghét những kẻ say lè nhè, nhưng sau nghĩ lại, thấy hối hận.

NVQuang trên cầu Brooklyn. Ảnh: HM
Chả là bên DC, mình quen lão Nguyễn Vinh Quang, từng làm báo ảnh Việt Nam, đi Nga về, khi uống rượu chỉ thích nhìn thấy đáy chén. Chai Smirnov Vodka trắng 0,45l, hắn uống hết, cầm máy ảnh ống kính mấy cân mà không run tay. Nghe nói ông già là đạo diễn phim Hồng Nghi cũng thuộc hàng bợm trong giới nghệ thuật thứ 7.
Chính lão dạy mình cách xem rượu vang là sờ chôn chai. Đít nông, rượu chán, đít càng sâu, rượu càng ngon. Hỏi tại sao, bọn bợm rượu rỉ tai nhau, đó là qui ước quốc tế rồi. Cứ sờ mông người đẹp mà xem, càng sâu thì càng…ngon.
Rồi hắn đưa ra lý thuyết, chân lý ở dưới đáy chén rượu. Mọi cái hay ho trên đời đều do rượu mà ra.
Thi tửu – Rượu và thơ
Lão Quang lý luận, cha nào không uống rượu thường nói chuyện nhạt hoét. Hỏi nhau vài câu, khỏe không, con cái thế nào, vợ làm chức gì, lương cao không… thế là hết. Và ngồi nhìn nhau. Mà đàn ông nhìn nhau thành…gay. Hỏng.
Xem bọn bợm rượu nói chuyện đủ biết phong phú thế nào. Từ dầu hỏa sang chiến tranh Iraq, đến biển Đông rồi bỗng quay về hôm qua nhìn thấy hai vợ chồng hàng xóm “làm việc” không đóng cửa, cả làng thấy.
Làm vài chén bỗng thơ đọc vanh vách. Giọng lão sang sảng như chưa từng có nửa lít trong dạ dày.
“Đêm thanh dưới ánh trăng buông
Ta cùng thơ…rượu vui buồn có nhau
Giọt tình nghe đắng, nghe đau
Cùng thơ với rượu ai sầu hơn ai”Hay một bài khác lãng mạn không kém bất kỳ nhà thơ nhất nhì Việt Nam nào
“Rượu sầu mặn đắng bờ môiDẫu rằng uống mãi chẳng phai nỗi niềmSầu ai ly biệt nợ duyênDẫu cho uống cạn truân chuyên vẫn còn”
NT Tạo ở nhà Cua. Ảnh: HM
Nhớ có lần nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo tới nhà ở Virginia. Tổng Cua mang mấy chai rượu vang Pháp ra khoe. Người của Sông Quê thở dài “Quanh đây có bán rượu khác không”. Tiger đưa anh đi khắp DC mới tìm được cửa hàng bán rượu mạnh ABC và mua được một chai Cognac Gautier.
Nhà thơ làm hết cả chai và khi ấy thơ văng trên bàn phím.
Em đâu rồiDạ em đâyThế là chatNối lại nghìn cây số để rồi nói lời chia tayHôn anh nhéỪ, anh hôn em nhéChat mà hôn không thể chạm vào môi(Trích từ Chat với người yêu).
Hình như đêm đó nhà thơ hôn bàn phím thật.
Đoạn khác nói về dân IT say bia, chỉ có cánh say mới cởi trần đi vào hàng internet
“Anh cởi trần lang thangBỗng anh lạc vào hàng internetInternet không nối vào máy chủ”(Trích Ngày Chủ Nhật rỗng).
Chứng kiến bác Tạo uống, chủ nhà choáng thật sự, giống như nhà thơ Duy Khán, nhìn chai không cũng say. Mình rất lạ, tại sao có người uống giỏi thế.
Bác Tạo còn đọc cho nghe bài thơ tự tả mình say
“Vẽ tôi mực rượu giấy trờiNửa say nửa tỉnh nửa cười nửa đauVẽ tôi thơ viết nửa câuNửa câu ma quỷ đêm sâu gọi vềVẽ tôi thấy đẹp là mêThấy ghen là sợ thấy quê là nhà”.Chỉ có say mới xuất thần như thế.
Kể cho lão Quang nghe, lão cũng thán phục. Ừ, uống đến ra cả thơ thì mới là uống. Uống không ra cái gì, mà chỉ nôn ra cho chó, gọi là cẩu tửu. Phí rượu.
Rồi lão kể rất thú vị. Trong giới quí tộc rượu cũng chia ngôi thứ hẳn hỏi: hiền tửu, tiên tửu, cuồng tửu, cẩu tửu.
Hỏi nhà thơ Tạo thuộc loại gì? Thi tửu, rượu vào thơ ra.
Còn hắn? Photograph tửu – rượu vào ra ảnh hoa hậu đang mặc quần áo thành…cởi truồng. Hắn giải thích, rượu vào thì ống kính của hắn thành ống kính vạn hoa, người đẹp có mấy đôi vú liền nhau, thích hơn lúc tỉnh.
Tổng Cua thế nào? Cua ư, lão thở dài. Cua chỉ biết phun bọt, loại blog tửu – ngửi rượu viết blog nên các entry nhạt hoét. Thử uống rượu, chắc viết hay hơn. Cứ hỏi Nguyễn Trọng Tạo hay Nguyễn Quang Lập sẽ biết ngay sự khác biệt giữa blog Quechoa hữu tửu và Cua Times vô tửu.
Rượu trắng và nước Nga
Với nhiều người, nước Nga là kẻ nát rượu. Nhưng ít người để ý, người Nga đóng góp cho nhân loại biết bao tài năng, công trình khoa học, bao giải Nobel cũng xuất phát từ chén rượu trắng Ruskaia Vodka.
Năm 1373 lính Nga say bí tỉ, bị quân Tatar đánh úp và lính say bét nhè bị ném sông có tên Reka Pianaya – dòng sông Say. Rượu với người Nga đi vào lịch sử, cả thắng lợi huy hoàng đến thất bại. Ai đi Nga về đều nhận xét vodka là linh hồn Nga, là lòng hiếu khách, tình bạn và lòng tin sâu nặng sau những cú vô 100%.

Elsin say nhảy rock năm 1996. Ảnh: AP
Lan man chuyện trên trời dưới biển, chả hiểu sao ảnh gia Vinh Quang lôi Tổng thống Nga Boris Yelsin vào cuộc. Có lẽ người ta nhớ vị Tổng thống gây tranh cãi này vì hay say rượu hơn là làm những cuộc chính biến. Ông ta từng ngủ quên trên máy bay vì quá chén, rồi lảo đảo vì rượu khi lên bục phát biểu.
Nhưng cũng không ít người nhớ đến một người dám ném thẻ đảng CS vào sọt rác, tuyên bố ra khỏi bộ Chính trị tại đại hội đảng, giải tán Liên Xô, đưa ĐCS ra ngoài vòng pháp luật dù trước đó từng nói “Tôi đã chân thành tin tưởng vào các lý tưởng về sự công bằng do đảng tuyên truyền, và cũng có cảm giác ấy khi gia nhập đảng, nghiên cứu toàn bộ các hiến chương, các chương trình và các giáo điều, đọc lại các tác phẩm của Lênin, Marx và Engels”.
Trong cuộc đảo chính lật đổ Gorbachev, Yelsin đứng trước mũi xe tăng để kêu gọi lính Nga không tấn công người biểu tình.
Đưa quân vào Chesnia, rồi định tuyên bố chiến tranh thế giới 3 khi nghe tin NATO tấn công Nam Tư. Trong một năm cách chức 5 thủ tướng.
Trước khi về vườn, Yelsin đã bí mật nuôi nấng Putin trong mấy năm liền. Khi ông tuyên bố từ chức thì Putin đã vững vàng trong vai Thủ tướng và sau đó là Tổng thống nước Nga.
Người ta tự hỏi, Putin do ai sinh ra. Đó chính là kẻ “nát rượu” Yelsin. Có thể gọi ông là thánh tửu vì các quyết định tầm nhân loại của ông vào lúc ngàn cân treo sợi tóc của nước Nga được ra như bậc thánh thần.
Yelsin nhìn ra chân lý ở đáy chén rượu. Nhân loại cũng được nhờ kẻ say như ông. Nếu không có rượu, Boris Yellsin chỉ là những kẻ nhạt nhòa. Rượu trắng Smirnov không hề phí với nước Nga.
Vĩ thanh

Yelsin đứng trên xe tăng năm 1991. Ảnh: Reuters.
Ở nước mình, đôi lúc cũng cần một nhà lãnh đạo say rượu mà không cần đến bậc thánh tửu như Yelsin hay đệ tử của Lưu Linh. Say say chút rồi sẽ nhìn ra chân lý không phải ở trên chín tầng mây mà nó ở ngay dưới đáy vò cuốc lủi.
Người ta bảo, kẻ dại tìm may mắn ở xa, người khôn tìm ngay dưới chân mình. Cứ tìm đường phát triển ngay trong chén rượu thì biết đâu dân mình sung sướng hơn cũng nên.
Lan man về rượu,Tổng Cua bắt đầu say, sợ sẽ thành luyên thuyên…tửu nên stop. Xin hẹn gặp trong một
Ăn hải sản hết 2 triệu, nhóm khách bức xúc vì bị thu thêm 600 nghìn tiền... ghế ngồi
(Dân trí) - Dù phải bỏ tiền ăn uống hết gần 2 triệu đồng nhưng đến khi thanh toán, nhóm du khách đến từ Hà Nội vẫn bị chủ quán thu thêm 630 nghìn đồng… tiền ghế ngồi, sự việc được cho là xảy ra tại một nhà hàng ở bãi biển Đồ Sơn (Hải Phòng).
Mới đây, một video ghi lại cảnh tranh cãi giữa một nhóm khách với chủ nhà hàng ăn uống ở bãi biển Đồ Sơn (Hải Phòng) gây xôn xao dư luận. Theo đó, dù đã phải bỏ tiền ăn hải sản hết gần 2 triệu nhưng đến khi thanh toán, nhóm khách trên vẫn bị thu thêm 630 nghìn tiền… ghế ngồi.
Trong video dài khoảng 4 phút, nhóm du khách bức xúc, liên tục chất vấn người chủ nhà hàng: “Không có bãi biển nào làm ăn như này hết. Đã ăn hết 2 triệu mà vẫn bị tính tiền ghế ngồi. Bãi biển Đồ Sơn làm ăn như này là không được”.
Một nam thanh niên ngán ngẩm nói trong video: “Cô đã giết chết bãi biển này rồi đấy, làm như thế này thì ai còn dám quay lại. Hỏi giá thì chỉ hỏi đồ ăn trước chứ ai biết mà hỏi tiền ghế ngồi”.
Nhóm du khách bức xúc tranh cãi với chủ nhà hàng vì khoản thu phí chỗ ngồi vô lý nhưng không được chấp nhận. Ảnh cắt từ video
Tuy nhiên, đáp lại chủ nhà hàng vẫn một mực cho rằng đây là quy định chung của bãi biển và buộc nhóm khách phải trả tiền.
Ngay sau khi video được đăng tải lên mạng xã hội đã nhận được hàng nghìn lượt bình luận và chia sẻ. Hầu hết các ý kiến đều bức xúc cho rằng, mức thu phí ghế ngồi của chủ nhà hàng Đồ Sơn là “vô lý” và không chấp nhận được.
“Thật tình đi du lịch nhiều nơi, dù bị chặt chém cũng nhiều nhưng chưa bao giờ gặp cảnh bị thu tiền ghế ngồi như thế này. Không biết nói gì cả ngoài hai từ: ngán ngẩm”, tài khoản có tên Anh Vũ viết.
Trong khi đó, nhiều người khác cũng cho biết chính bản thân họ cũng từng gặp tình trạng "chặt chém" tương tự khi đi du lịch ở Đồ Sơn. Một tài khoản có tên T.T viết: “Một lần xuống đó tắm biển, khi uống nước dừa, lúc thanh toán người bán hàng nhất quyết đòi bọn mình thêm 20 nghìn tiền ghế ngồi với lý do là "view đẹp nhìn ra biển". Đi du lịch một lần và chắc chắn sẽ không có lần thứ hai quay lại”.
Chia sẻ với PV Dân trí, chị Trần Thị Trang (SN 1991, Hà Nội) người quay video trên xác nhận sự việc và cho biết, tối ngày 25.5 nhóm của chị gồm khoảng 18 người đi du lịch ở Đồ Sơn (Hải Phòng) có dùng bữa tối nhẹ tại một nhà hàng thuộc khu 2 Đồ Sơn.
Đến khi thanh toán, nhóm bức xúc vì chủ nhà hàng yêu cầu phải trả thêm 630 nghìn tiền... phí ghế ngồi. “Chủ nhà hàng có giải thích là quy định chung của bãi biển, khách nào cũng phải trả. Tuy nhiên, trước khi bọn mình vào ăn, chủ nhà hàng lại không hề đề cập đến quy định này”, chị Trang nói.
Du khách này cũng cho biết, sau đó dù bức xúc nhưng nhóm vẫn phải rút tiền để chi trả cho khoản thu vô lý này vì không muốn phiền phức. “Số tiền không quá lớn nhưng thực sự khiến chúng mình rất bức xúc. Chưa ở đâu lại bắt thu phí ghế ngồi như ở đây”.
Du khách này cũng cho biết, đây là lần đầu tiên chị đi du lịch ở Hải Phòng và chắc chắn cũng là lần cuối cùng. "Với cách làm ăn chộp giật kiểu này thì dù cảnh đẹp có đẹp đến mấy cũng không thể thu hút dược du khách và làm ăn lâu dài được. Sự việc khiến chuyến du lịch của cả nhóm trở thành trải nghiệm không mấy tốt đẹp", du khách này nói.
Trong khi đó, trao đổi với PV Dân trí chiều ngày 27/5 ông Phạm Văn Luân, Chánh thanh tra Sở du lịch TP Hải Phòng cho biết đã nhận được thông tin và đang thành lập tổ công tác, xác minh làm rõ sự việc.
“Nếu có việc nhà hàng thu phí ghế ngồi của khách hàng như phản ánh thì chắc chắn chúng tôi sẽ xử lý nghiêm, không bao che”, ông Luân khẳng định. Đại diện lãnh đạo Sở Du lịch TP Hải Phòng cũng cho biết, đây là lần đầu tiên đơn vị này nhận được phản ánh về tình trạng “chặt chém” của du khách khi đi du lịch Đồ Sơn (Hải Phòng).
Mới đây, dù đang là mùa du lịch nhưng bãi biển Đồ Sơn (TP. Hải Phòng) vẫn rơi vào tình trạng “ế khách”. Hầu hết nhà hàng, khách sạn đều vắng bóng khách du lịch, ngay cả nơi sầm uất nhất của Đồ Sơn khu II giờ cũng trở nên lèo tèo, thưa thớt người đến tắm biển, nghỉ dưỡng.
Hà Trang
khác cho đủ bộ tứ “Rượu, chè, trai, gái”.
Đờn bà uống rượu tiêu sầu.
Mỹ nhơn xinh đẹp chai rượu trước mặt che chắn phần nhậy cảm, tay cầm hụ rượu bỏ đá lạnh đưa lên miệng uống chầm chậm. Nàng uống có lẻ vì nhớ người yêu quay quắc, ngồi tương tư như kiểu nhớ Kim Trọng Thúy Kiều ba năm dồn lại một ngày sầu đong.
"Sầu đong càng lắc càng đầy,
Ba thu dồn lại một ngày dài ghê..."
Thời nay buồn chuyện gì có thể tiêu hao thì giờ bằng mấy Game online, bằng chát chít, bằng phim bom tấn, bằng du túp, bằng vô phây còm men chửi thiên hạ hay chọc thiên hạ chửi. Nhưng hồi văn minh điện tử chưa có, người ta chọn cách uống rượu tiêu sầu. Uống rượu độc ẩm cả hụ hoặc tụ chúng tác ương loạn tửu bạn bè bè bạn.

Nho sĩ khởi nghĩa Chu Thần triều Nguyễn xưa thơ uống rượu tiêu sầu:
"Ba vạn sáu nghìn ngày là mấy
Cảnh phù du trông thấy cũng nực cười
Thôi công đâu chuốc lấy sự đời
Tiêu khiển một vài chung lếu láo
Đoạn tống nhất sinh duy hữu tửu
Trầm tư bách kế bất như nhàn..."
Xưa uống rượu tiêu sầu, sầu vì thất tình, sầu vì thua bạc, vì gia cảnh bần cùng, vì bất đắc chí, vì thầy lừa bạn phản, vì chán ghét trào đình.
Uống rượu chăng có mấy cụ đờn ông ngồi uống, chớ đờn bà thời không. Đờn bà bận bịu lo chồng lo con, lo cày lo cuốc, lo nấu lo ăn, lo heo ca gà vịt, lo nhà lo cửa. Đờn bà thích rượu một hớp hồng đỏ mặt mày thì cả thế gian đà nọ này lên án.Đời nay khác. Nam nữ bình quyền rồi, âm thạnh dương suy. Đờn bà bên Tây buồn chán rồi đi uống rượu tiêu sầu, càn khôn túy lúy... thấy cả 108 phiền nảo nảo phiền.
Thời CS, Nâng Chén Tiêu Sầu Sầu Càng Sầu Thêm
Có khi nào bạn lấy rượu để giải sầu?Đừng bao giờ uống rượu để nhấn chìm nỗi buồn, vì biết đâu nỗi buồn có thể biết bơi và rồi nâng chén tiêu sầu sầu lại càng sầu thêm.
Nỗi buồn vây đến, nhiều lúc người ta không biết giải toả thế nào. Và bia rượu đôi khi lại là sự lựa chọn. Nếu nói khôn ngoan hay là ngu ngốc khi dùng đến biện pháp này để xua đuổi sự buồn cũng đều là không nên. Bởi lẽ đôi lúc, sau cơn say, người ta thấy được niềm vui từ những chuyện bé nhỏ.
Bất kỳ nghiên cứu nào nói uống một hay hai ly một ngày thì sức khỏe tốt đều được giới truyền thông và quần chúng tán thưởng nồng nhiệt. Nhưng việc xác định uống rượu vừa phải có lợi cho sức khỏe là một việc phức tạp.

Một trong những nghiên cứu trước đây nói về sự liên quan giữa bia rượu và sức khỏe đã được Archie Cochrane (đã mất) thực hiện, ông là cây cổ thụ ngành y học dựa vào bằng chứng. Năm 1979 Cochrane và hai đồng nghiệp đã cố tìm xem nguyên nhân của tỉ lệ tử vong khác nhau vì bệnh tim ở 18 nước phát triển, gồm cả Mỹ, Anh và Úc là gì.
Nghiên cứu của họ cho thấy rằng có sư liên hệ rõ ràng và đáng kể giữa lượng rượu uống (chủ yếu là rượu vang) và việc giảm tỉ lệ bệnh thiếu máu cục bộ ở tim (do mỡ bám vào thành mạch cung cấp máu cho tim).
Dẫn chiếu tới các nghiên cứu trước đây cho thấy sự liên hệ giữa uống chất có cồn và tỉ lệ bị động tim, Cochrane và đồng nghiệp cho rằng chất thơm và các hợp chất khác trong rượu (mới đây được giả thuyết rằng có tính chống oxy hóa như chất polyphenols ở cây) rất có thể là nguyên nhân làm tốt cho tim (hơn là bản thân chất rượu).
Trên tinh thần của y học bằng chứng, họ đề nghị một cách tiếp cận thực nghiệm cho vấn đề trên.
Đi sâu vào chủ đề thực nghiệm về rượu, khó có thể tìm ra được lợi ích của bia rượu đối với các bệnh mãn tính. Thay vì thế, nhiều nghiên cứu về bia rượu và lợi ích của nó cho sức khỏe là ở dạng nghiên cứu dài hạn trên dân số.
Năm 1986 các nhà nghiên cứu đã khảo sát một nhóm hơn 50.000 nam bác sỹ ở Mỹ về việc uống rượu và ăn, lịch sử bệnh và tình trạng sức khỏe trong 2 năm. Họ phát hiện ra rằng càng uống nhiều rượu thì khả năng bị bệnh động mạch vành càng thấp, mặc dù có bệnh tiểu đường.
Một nghiên cứu qui mô nữa được công bố vào năm 2000 (cũng với nam bác sỹ) phát hiện quan hệ đồ thị chữ U giữa uống bia rượu vừa phải và cái chết (thay vì với bệnh động mạch vành). Những người uống 1 ly một ngày thì ít có khả năng chết hơn (trong khoảng thời gian nghiên cứu là 5,5 năm) so với những người uống ít hơn 1 ly một tuần, hoặc hơn một ly một ngày.
Điều đó cho thấy có một ‘điểm ngọt ngào’ cho việc uống bia rượu; một mức nằm giữa uống rất ít và uống rất nhiều, ở mức đó cái lợi của rượu cho sức khỏe tim mạch cân bằng rủi ro chết vì mọi nguyên nhân.
Nhưng chính bia rượu có mang lợi ích không hay chỉ là yếu tố ghi nhận cho những hoạt động lành mạnh khác? Có phải những người uống bia rượu vửa phải cũng là những người hoạt động đều đặn, ăn có giữ gìn và nhìn chung lo cho sức khỏe mình?
Năm 2005 có một nghiên cứu nữa với những người làm trong ngành y tế (32.000 phụ nữ và 18.000 nam giới) nhằm trả lời câu hỏi trên bằng cách xem thói quen uống bia rượu đã ảnh hưởng thế nào không chỉ với rủi ro tim mạch mà cả với sinh lý.
Những người uống 1 đến 2 ly, 3 đến 4 lần một tuần, có ít nguy cơ đau tim mà các nhà nghiên cứu cho rằng do tác động có lợi của rượu đối với cholesterol HDL (cholesterol ‘tốt’) và với haemoglobin A1c (ghi dấu hiệu tiểu đường) và fibrinogen (giúp đông máu).
Cả 3 yếu tố này đóng vai trò quan trọng trong ‘hội chứng chuyển hóa’; chúng báo hiệu bệnh tim mạch và tiểu đường. Những nghiên cứu khác cho thấy có dấu hiệu là rượu có thể làm thay đổi sự cân bằng của các yếu tố trên theo chiều hướng tốt, nghĩa là uống bia rượu vừa phải có thể tốt cho sức khỏe.
Những nghiên cứu khác đã lặp lại tác động của ‘mức tốt’ của rượu đối với đột quỵ do tắc mạch máu não và với cái chết nói chung. Nhưng trước khi bạn đặt mua cho mình vài chai rượu một tuần để làm mình khỏe thì bạn nên đọc tiếp đi.
Thực tế có đúng là những người không uống rượu có nguy cơ chết cao hơn những người uống 1-2 ly một ngày không? Không đơn giản như vậy đâu.
Năm 2006 một nhóm nghiên cứu có đi sâu hơn xem những nghiên cứu trên được thực hiện như thế nào. Việc phân tích tổng hợp của họ cho thấy một lỗi trong cách phân loại người không uống bia rượu: trong nhiều nghiên cứu, họ là những người đã cai rượu vì ốm hay vì già, nghĩa là họ là nhóm người rất yếu so với dân chúng nói chung.
Điều quan trọng là ở những nghiên cứu không có việc phân loại sai thì không thấy có việc giảm bệnh tim hoặc chết ở những người uống rượu vừa phải.
Hiện những nhà nghiên cứu khác đã đi sâu xem xét ‘giả thuyết phân loại sai’ này, kể cả một nghiên cứu lớn với dân ở Anh năm nay.
Nó cho thấy khi ta chỉ so sánh đơn thuần việc uống rượu và tình trạng sức khỏe, ta thấy rõ tác động có lợi của việc uống rượu vừa phải. Nhưng nếu ta gạt bỏ những người trước đã từng uống rượu ra khỏi nhóm người không uống rượu, thì chẳng thấy tý lợi ích nào.
Vào các dịp lễ tết, hay đơn giản là tối thứ 7 buồn tẻ với hàng đống suy tư, buồn chán trong đầu và thế là bạn quyết định rủ vài người bạn ra quán lai rai. “Bia vào lời ra” , bạn dần cảm thấy đầu mình nhẹ tênh, bao nhiêu mệt nhọc tan biến vào trong những tràn cười sảng khoái ngập tràn.
Nhưng đến lon thứ 7, 8 thì cảm giác phấn khích mất hết và thay vào đó là nhức đầu, hoa mắt, đi đứng loạng choạng và không làm chủ được hành động của mình. Đó chính là dấu hiệu đến lúc cuộc vui nên tàn không thì hậu quả sau đó sẽ khó lường vì bạn sẽ chả còn nhận thức gì về cái chuyện gọi là “sau đó” nữa. Tất cả những biểu hiện trên người ta gọi là say. Thế nhưng tại sao cơn say chỉ ập đến khi bạn uống rượu, bia mà không phải khi bạn uống nước ngọt?
Một khảo sát của Hiệp hội Rối loạn lo âu và trầm cảm Mỹ cho thấy quốc gia này có đến 15 triệu người, tức 7% dân số, xuất hiện các dạng rối loạn lo âu. 20% trong số đó là người nghiện rượu hoặc phụ thuộc vào rượu.
Nhiều người khác cho biết họ thường trải qua những “buổi sáng tồi tệ” sau một đêm rất vui vẻ cùng bạn bè.
Còn nếu buổi tiệc diễn ra sớm hơn, như vào buổi trưa, nhiều người cảm thấy uể oải, hiệu quả công việc giảm sút cả ngày hôm đó, dù sau tiệc đã có thời gian để nghỉ ngơi.
Các nhà khoa học lý giải tình trạng trên do cơ chế của rượu. Rượu và các thức uống có cồn khác làm tăng dopamine – một “hormone hạnh phúc” – giúp con người cảm thấy hết sức sảng khoái, vui vẻ khi uống.
Tuy nhiên, theo giáo sư – bác sĩ Aparna Iyer, Trung tâm Y tế Đại học Texas (Mỹ), khi bạn ngưng uống, các chất có trong rượu dần biến mất khỏi cơ thể thì dopamine cũng giảm mạnh theo.
Sự sụt giảm quá nhanh của nó dẫn đến cảm giác uể oải, chán nản, lo lắng quá mức và các cảm xúc tiêu cực khác vào buổi sáng hôm sau, dù thể chất đã hồi phục. Nhiều người thậm chí cảm thấy hoang mang, hoảng loạn sau một đêm uống quá nhiều, và nó có thể dẫn đến cảm giác bốc đồng, dễ bực bội.
Ngoài dopamine, một chất khác là gamma aminobutyric acid (GABA) trong não bộ cũng được rượu thúc đẩy tăng tiết. GABA tạo ra cảm giác êm dịu. Do đó, cơ thể không thích ứng được với việc GABA sụt giảm nhanh trở lại sau khi tỉnh rượu cũng khiến bạn dễ bất an.
Vì thế, nghiện rượu được cho là một nguyên nhân liên quan mật thiết đến trầm cảm. Nếu bạn muốn mượn rượu giải sầu thì hãy cẩn thận vì sau chút vui vẻ chốc lát, tâm trạng của bạn có thể càng tồi tệ. Hãy ngừng uống rượu nếu bạn đang căng thẳng về tinh thần và thể chất.
BỆNH NGHIỆN RƯỢU DƯỚI CHẾ ĐỘ CỘNG SẢN
Sắp Tết, số lượng rượu bia được tiêu thụ chắc chắn sẽ tăng cao. Câu hỏi đặt ra tại sao Việt Nam là một trong những quốc gia dùng rượu bia cao nhất thế giới?
Nhắc lại, hôm 26 tháng 9, 2016, Báo VietNamNet đưa tin “Đàn ông Việt uống rượu bia nhiều nhất thế giới“. Theo lời Bác sĩ Trần Quốc Bảo, Cục Y tế Dự phòng dẫn chứng cho biết “Nếu tính trung bình, một người nam giới trưởng thành uống khoảng 27,4 lít cồn nguyên chất, đây là con số rất đáng báo động và là một trong số những quốc gia đứng hàng đầu thế giới về tỉ lệ này”.
Cùng lúc, Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thanh Long cũng thốt lên: “Dù nước ta mọi mặt kinh tế, xã hội đều có sự phát triển, nhưng tỉ lệ dùng rượu bia đang tăng quá nhanh so với các chỉ số khác. Nếu không có biện pháp mạnh tay để hạn chế, Việt Nam sẽ là quốc gia đứng đầu thế giới về sử dụng rượu bia”.
Kỷ lục dùng rượu bia tai Việt Nam không phải ngẫu nhiên.
Theo công bố của WHO (Tổ chức Y tế Thế giới) thuộc Liên Hiệp Quốc, năm 2015, chín trong số mười quốc gia tiêu thụ lượng rượu cao nhất thế giới là những nước cựu Cộng Sản. Các nước này gồm Belarus, Moldova, Lithuania, Russia, Romania, Ukraine, Hungary, Czech Republic và Slovakia.
Lấy nước Nga, từng là nước CS lớn nhất châu Âu để phân tích trước.
Tiêu thụ rượu cao tại Nga có từ thời Sa Hoàng nhưng vượt cao sau Cách mang CS Nga 1917.
Rất nhiều lý do như thời tiết, chiến tranh, nghèo khó v.v.. được đưa ra để giải thích việc sử dụng rượu quá cao tại Nga CS. Những giải thích này đều không đứng vững vì sau nội chiến, khi điều kiện sống tốt hơn và những mùa không quá lạnh số lượng rượu được tiêu thụ cũng không giảm bớt.
Tháng Năm, 1985, Gorbachev tung ra chiến dịch toàn quốc chống nghiện rượu. Ông cho rằng nghiện rượu là một trong ba căn bệnh trầm trọng nhất tại Liên Xô, chỉ sau bịnh tim và ung thư. Gorbachev hy vọng việc giảm lượng rượu được dùng sẽ giúp gia tăng năng xuất, nhưng kết quả trái ngược, thu nhập lợi tức từ rượu của chính phủ có giảm nhưng mức sản xuất không tăng một cách tương ứng.
Thực tế đó cũng đã xảy ra tại Ba Lan. Trong phóng sự điều tra của báo Christian Science Monitor phát hành ngày 3 tháng 3, 1981 khi chế độ CS Ba Lan còn rất mạnh, một trong những căn bệnh xã hội trầm trọng nhất tại Ba Lan là nghiện rượu. Mười phần trăm trong số mười hai triệu công nhân Ba Lan say rượu mỗi ngày. Nhà cầm quyền CS tăng giá rượu cao với hy vọng số lượng rượu được tiêu thụ sẽ giảm, nhưng không, lượng rượu được dùng đã không giảm bớt.
Tại Đông Đức, theo nghiên cứu của sử gia Thomas Kochan trong tác phẩm “The Blue Strangler – Drinking habits in the GDR”, Đông Đức trong thời kỳ CS tiêu thụ rượu cao nhất châu Âu và gấp đôi Tây Đức. Chữ “The Blue Strangler” trong tác phẩm của ông là hiệu rượu vodka Đông Đức có 40% cồn. Lương trung bình của một công nhân Đông Đức khoảng 500 Marks trong lúc một chai rượu Cognac giá 80 Marks. Trong số những người nghiện rượu hạng nặng có cả các ủy viên Trung ương đảng hay ủy viên Bộ Chính trị CS Đông Đức như trường hợp Alfred Neumann.
Tại Trung Cộng, theo công bố của WHO vào tháng 12, 2012 “Alcohol and alcohol-related harm in China: policy changes needed”, số người uống rượu tại Trung Cộng cao hơn phần lớn nhân loại với 55.6 phần trăm đàn ông và 15 phần trăm đàn bà uống rượu. Hiện nay, Trung Cộng là một trong những nước sản xuất bia nhiều nhất thế giới. Uống rượu trong giờ làm việc cũng là một tình trạng phổ biến tại Trung Cộng và tình trạng này gắn liền với tham nhũng, hối lộ trong giới chức nhà nước. Nhiều nghiên cứu cho thấy mức độ bệnh gan có liên quan đến rượu nơi giới viên chức nhà nước CS cao hơn nhiều so với giới dân thường. Ngay cả báo đảng Nhân Dân Nhật Báo cũng thừa nhận tình trạng uống rượu trong lúc làm việc và viết hàng loạt phóng sự về vấn đề này.
Các phân tích đó cho thấy cơ chế chính trị Cộng Sản là một tương quan nổi bật giữa các nước CS Liên Xô và Đông Âu trước đây cũng như Trung Cộng và CSVN hiện nay. Các thể hiện của tương quan này:
- Mượn rượu giải sầu: Nhiều công nhân, nông dân dưới các chế độ CS mượn rượu để làm lối thoát cho lòng tổn thương, thất vọng. Sự thất bại của các chính sách cai nghiện rượu cho thấy việc giải quyết không đơn giản là tăng giá như chính phủ Ba Lan hay Liên Xô đã làm nhưng phải áp dụng các cải cách chính trị kinh tế căn bản.
- Say rượu là một biểu hiện của thái độ trốn chạy thực tế (escapism): Lý do chính như Michael Binyon trong nghiên cứu Life In Russia xuất bản vào thập niên 1980 cho rằng nhiều người Nga uống rượu chỉ để say. Họ tuyệt vọng khi đối diện với một “khoảng trống tinh thần”, một xã hội không còn có những giá trị văn hóa của đất nước họ đã từng có trong lịch sử trước đó.
- Điều kiện sống: Nhà ở chật chội, lương bổng thấp, thiếu thốn mọi thứ cần thiết và sống trong bóng tối theo nghĩa đen lẫn nghĩa bóng đã đẩy người dân chọn rượu như là phương tiện “giải trí” dễ có nhất. Trong một xã hội thiếu thốn những món hàng căn bản trong đời sống hàng ngày của con người nhưng lại có đầy đủ rượu. Giới cầm quyền CS từ chối nguyên nhân này nhưng thực tế đó đã được rất nhiều nghiên cứu rút ra khi so sánh đời sống của công nhân dưới hai xã hội tự do và CS.
- Giới cầm quyền CS không quan tâm đến sức khỏe của người dân: Đối với giới cầm quyền CS, thu nhập và thuế do việc tiêu thu rượu đem lại quan trọng hơn là sức khỏe của người dân. Vladimir Treml, một nhà kinh tế thuộc cựu Nga CS đang làm việc tại Duke University cho biết “Hơn sáu mươi năm, thuế rượu đem lại 12 phần trăm đến 14 phần trăm thu nhập của nhà nước” và do đó nhà nước CS khuyến khích hơn là ngăn chận tệ nạn lạm dụng rượu tại Liên Xô.
Chế độ CS đã sụp đổ tại Châu Âu nhưng những căn bệnh xã hội do cơ chế gây ra đã trở thành một lối sống, một văn hóa xã hội chủ nghĩa tại những nước này và không thể dễ dàng thay đổi.
Giống như tại Liên Xô, Đông Đức, Ba Lan, giới cầm quyền CSVN cũng sẽ từ chối và cho rằng chẳng lẽ tệ trạng nào cũng đổ lên đầu chế độ hay sao. Thế nhưng, các nghiên cứu cho thấy đúng vậy, cơ chế chính trị CS là nguyên nhân tiềm ẩn sâu xa của bệnh nghiện rượu.
Giấu cơn giận trong men cay, ngăn nỗi buồn nơi đáy cốc là thái độ tìm quên tiêu cực nhưng rất phổ biến của người dân thường trước những bất công đang đè lên số phận của họ. Bệnh xã hội như thế chỉ thuyên giảm khi các điều kiện vật chất và tinh thần thay đổi theo một chiều hướng tốt đẹp hơn.
Trần Trung Đạo
Bệnh lười dưới chế độ cộng sản
Trần Trung Đạo - Blog Trần Trung Đạo
Hôm 24 tháng 8, 2016, VietNamNet có bài viết “Việt Nam mãi nghèo vì người Việt quá lười? Ngẫm sâu hơn, có thể bạn sẽ nghĩ khác!” Tác giả bài báo dùng các ví dụ về hợp tác xã nông nghiệp để phân tích và dù tránh đụng đến nguyên nhân sâu xa, cũng đã thừa nhận tệ trạng lười biếng phát xuất từ chính sách: “Dân lười nên nghèo hay chăm chỉ có của ăn của để do chính sách nông nghiệp khác nhau tạo ra môi trường khác nhau”. [1]
Một bài viết khác khá chi tiết Đất nước của những kẻ lười biếng của tác giả Lục Phong tập trung vào việc phê bình người Việt “lười học”, “lười làm”, “lười suy nghĩ”, “lười tập thể dục”, “lười tranh đấu”.[2]
Nói chung, đủ thứ lười. Những điều các tác giả đưa ra đều đúng. Không chỉ hai bài trên, quý vị chỉ cần vào google và đánh ba chữ “Việt Nam lười” sẽ hiện lên hàng chục bài viết tương tự.
Phê bình các hiện tượng xấu, tiêu cực trong xã hội là một điều nên làm, dựng lên một chiếc gương để mỗi người có thể soi vào đó mà nhìn lại chính mình. Tuy nhiên, nếu chỉ phê bình hiện tượng thôi sẽ không bao giờ chữa trị được căn bệnh xã hội trầm trọng như bệnh lười tại Việt Nam.
Đặc biệt trong thời gian qua, không chỉ báo “lề dân” mà cả báo đảng cũng đồng thanh lớn tiếng phê bình bệnh lười của người Việt, nhất là trong các thế hệ trẻ. Phê bình nhiều đến nỗi, một người Việt Nam tự trọng và có nhận thức sẽ không khỏi cảm thấy bị xúc phạm và đặt câu hỏi phải chăng lười biếng là một loại bệnh tổ tiên, một phần của văn hóa Việt Nam?
Câu trả lời là dứt khoát không phải.
Bệnh lười do ý thức hệ CS gây ra
Đây không phải là lý luận kiểu “có gì xấu đổ lên đầu CS” mà từ các ông tổ CS như Karl Marx, Friedrich Engels, Lenin, Mao cho đến các lãnh tụ CS sau này đều công nhận lười biếng là một thực tế trầm trọng dưới chế độ CS.
Không giống như bệnh nghiện rượu mà người viết trình bày lần trước là những hiện tượng xã hội, bệnh lười được chế độ CS nuôi dưỡng và tồn tại suốt chiều dài của chế độ. Nói theo lý luận Marx Lenin, bệnh lười giống như tệ trạng tham nhũng, có tính đảng và xảy ra không chỉ riêng ở năm nước CS còn lại mà đã từng xảy ra ở mọi quốc gia CS như Liên Xô, khối Đông Âu, Đông Đức trước đây.
Nguyên nhân của căn bệnh cũng rất hiển nhiên và dễ hiểu.
Chủ nghĩa CS xóa bỏ quyền sở hữu cá nhân, giới hạn các quyền tự do căn bản, ngăn chận tinh thần sáng tạo, cạnh tranh, cầu tiến và ước muốn được đền bù xứng đáng cho công lao tự nhiên có trong mỗi con người. Tất cả những điều đó đã làm cho con người có thói quen lười biếng.
Bệnh lười trích trong Tuyên Ngôn Đảng Cộng Sản
Qua các tác phẩm kinh điển, Karl Marx, Friedrich Engels, Lenin, Mao, Lưu Thiếu Kỳ đã tập trung biện luận rằng bệnh lười là sản phẩm của chủ nghĩa tư bản chứ không thuộc về bản chất của ý thức hệ CS.
Lấy Tuyên Ngôn Đảng Cộng Sản, văn bản chỉ đạo quan trọng nhất của các đảng CS để phân tích trước.
Trong tuyên ngôn này, Karl Marx và Frederick Engels đã tìm cách lý giải bệnh lười dưới chế độ CS một cách ngụy biện: “Người ta còn phản đối lại rằng xoá bỏ chế độ tư hữu thì mọi hoạt động sẽ ngừng lại, thì bệnh lười biếng sẽ phổ biến sẽ ngự trị. Nếu quả như vậy thì xã hội tư sản phải sụp đổ từ lâu rồi do tình trạng lười biếng, vì trong xã hội ấy, những người lao động thì không được hưởng, mà những kẻ được hưởng lại không lao động. Tất cả sự lo ngại chung quy chỉ là luận điệu trùng phức cho rằng không còn tư bản thì cũng không còn lao động làm thuê nữa.”[3]
Tuy nhiên, ngay cả khi biện hộ, một điểm mà Marx, Engels, Lenin, Mao đều không phủ nhận rằng bệnh lười trầm trọng chỉ phát sinh sau khi đảng CS chiếm được nhà nước.
Bệnh lười tại Liên Xô
Trong thời kỳ từ 1918 đến khi chết, 1924, Lenin đối diện với bệnh lười lan rộng nhanh chóng trong xã hội CS và gần như làm tê liệt bộ máy kinh tế. Chính Lenin cảnh cáo bằng khẩu hiệu “Ai không làm thì không ăn”. Leon Trotsky còn đi xa hơn “Ai không vâng lệnh thì không ăn”, nhưng bệnh lười không vì các đe dọa đó mà giảm sút. [4]
Để tạm thời giải quyết bệnh lười xã hội chủ nghĩa, Lenin buộc lòng thay đổi chính sách từ tuyệt đối kiểm soát nền kinh tế sang một hình thức nới rộng tạm thời mà ông ta gọi là Chủ nghĩa Tư bản Nhà nước để nhằm kích thích sản xuất bằng cách trả lại một phần quyền sở hữu của người dân.
Trước 1990, Liên Xô với nền kinh tế quốc doanh chỉ huy, đã dành 20 phần trăm Tổng sản phẩm nội địa (GDP) vào mục tiêu sản xuất võ khí nhằm cạnh tranh với Mỹ. [5]
Cuộc chạy đua vũ trang đã để lại một khoảng trống to lớn và không được quan tâm đối với các ngành kinh tế khác cũng như các lãnh vực khác của đời sống con người. Vào thời điểm 1986, Liên Xô có 45,000 đầu đạn nguyên tử [6] trong khi không đủ giấy vệ sinh để cung cấp cho dân. [7]
Bệnh lười tại Trung Cộng dưới thời Mao
Bệnh lười tại Trung Cộng sau cách mạng CS 1949 trầm trọng không kém như tại Liên Xô. Mao Trạch Đông trước Hội Nghị Bắc Đới, 30 tháng Tám, 1958 cũng thú nhận bệnh lười đang xảy tại Trung Quốc khi y phát biểu: “Ngày nay, nếu một người có một phát minh mới, chúng ta trả người đó chỉ 100 yuan và điều đó sẽ tạo ra tình trạng lười biếng và bất mãn”. [8]
Cũng tại Trung Cộng, Diêu Văn Nguyên, Ủy viên Bộ Chính trị kiêm Trưởng ban Tuyên Truyền Trung Ương Đảng CS Trung Quốc, trong tham luận “Phản Bác Lý Thuyết CS Nuôi Dưỡng Sự Lười Biếng” xuất bản tại Bắc Kinh tháng 10, 1958 cho rằng xã hội CS là xã hội của những con người tự giác, nơi đó, “mỗi người sẽ sống vì mọi người và mọi người sẽ vì mỗi người”. [9]
Diêu Văn Nguyên khai triển lý thuyết “từ vượn thành người” của Frederich Engel khi cho rằng sở dĩ con người có hai tay như ngày nay cũng là kết quả của một quá trình lao động dài để chuyển hai chân trước thành hai tay và việc lười biếng có trong con người là thói quen do các chế độ bóc lột sau đó truyền nhiễm. Đọc tiểu luận của Diêu Văn Nguyên đầy những ngụy biện và hoang tưởng đến độ buồn cười nhưng đã một thời khống chế trong nhận thức của mỗi người dân Trung Quốc. Nhắc lại họ Diêu là một trong Nhóm Bốn Người (the Gang of Four) bị Đặng Tiểu Bình và phe nhóm bắt, tống giam và đã qua đời năm 2005.
Những biện luận đó cho thấy, bệnh lười thuộc về bản chất của chế độ và là một trong những mối lo của những người sáng lập nên chủ nghĩa CS.
Một điều rất dễ hiểu, con người với bản tánh tự nhiên, không muốn đổ mồ hôi nước mắt cho một mục tiêu, phục vụ cho một nền sản xuất mà họ biết cả đời họ có thể sẽ không được hưởng. Ví dụ như tại Ba Lan và Bulgaria trong thời kỳ CS, một người dân muốn mua một căn phòng trong chung cư phải chờ trong danh sách ít nhất 20 năm. Ngay cả khi dành dụm đủ tiền mua xe, một người dân Đông Đức phải chờ 15 năm để sở hữu một chiếc xe. Tại Rumani, để tiết kiệm năng lượng, nhà cầm quyền CS không cho phép người dân được sử dụng bóng đèn quá 45 watt cho một căn phòng, không được mở nhiệt độ trong nhà cao quá 57 độ Farenheit và đài truyền hình chỉ phát hai giờ mỗi ngày. [10]
Lưu Thiếu Kỳ định nghĩa “người CS là người lo trước và hưởng sau” nhưng những “nhiệt tình cách mạng”, “lý tưởng giai cấp” như họ Lưu nói nếu có cũng chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn và trong số ít người cuồng Cộng thuộc thế hệ CS thứ nhất nhưng đã chết dần theo thời gian, nhường chỗ cho các nhu cầu tinh thần và vật chất thực tế của đời sống con người thuộc các thế hệ sau. [11]
Bệnh lười tại Trung Cộng dưới thời Tập
Dưới thời Tập Cận Bình hiện nay, tình trạng lười biếng cũng không có dấu hiệu gì thay đổi. Tháng 9, 2015, họ Tập ra lịnh sa thải 249 cán bộ trong 24 tỉnh về tội lười, thất bại trong chính sách chống tham nhũng và cố tình trì hoãn các công trình.
Tân Hoa Xã, trong bản tin Anh Ngữ “China Voice: Incompetence and laziness mean curtains for China’s officials” nhắc lại chủ trương nghiêm khắc chống lười của Tập Cận Bình: “Lười biếng là bệnh không thể chấp nhận trong đảng CS Trung Quốc”.[12]
Chỉ trong vòng 2 năm 2013 và 2014, có tổng cộng 96,788 cán bộ các cấp đã vi phạm các ngăn cấm của đảng CSTQ trong đó có lười biếng. Dù cứng rắn bao nhiêu và kỷ luật nhiều cán bộ bao nhiêu, bệnh lười không có dấu hiệu gì giảm bớt. [13]
Các nước cựu CS sau cách mạng dân chủ
Hàng loạt các cuộc cách mạng dân chủ đầu thập niên 1990 đã thay đổi khuôn mặt của Đông Âu, không chỉ về các giá trị tinh thần, tự do, nhân bản nhưng cả trong đời sống vật chất.
Andrei Shleifer và Daniel Treisman trên Foreign Affairs, tháng 12, 2014 đã đánh giá những khó khăn và thành tựu của các nước cựu CS qua những nghiên cứu, thống kê, tham khảo rất chi tiết.
Theo nghiên cứu này, nếu dùng Tổng sản phẩm nội địa (GDP) như thước đo của mức độ phát triển, những quốc gia cựu CS đã phát triển với một tốc độ nhanh hơn cả những quốc gia đã có nền kinh tế thị trường tiên tiến trong khu vực. Chẳng hạn trong giai đoạn mười năm từ 1990 đến 2011, GDP của Uzbekistan gia tăng 47 phần trăm trong lúc Na Uy gia tăng 45 phần trăm. Lợi tức tính theo đầu người của Bosnia và Herzegovina, vốn chịu đựng CS và rồi nội chiến, đã gia tăng gấp năm lần so với thời kỳ CS và là quốc gia phát triển nhanh hạng thứ ba trên thế giới trong thời kỳ đó, nhanh hơn của Singapore và Hong Kong.
Các phương tiện cần thiết để thỏa mãn các nhu cầu đời sống đã thúc đẩy con người lao vào sản xuất và qua đó gia tăng mức lợi tức cá nhân cũng như gia đình. Theo chỉ tiêu cung cầu, tại Nga, mức cầu của người dân sau 1991 gia tăng 53 phần trăm so với mức gia tăng 45 phần trăm phần còn lại của thế giới. Riêng Ba Lan, mức cầu gia tăng 146 phần trăm, cùng hạng với Nam Hàn tiên tiến. Trong thời gian từ 1993 đến 2011, số lượng xe hơi tính theo đầu người tại các nước cựu CS Lithuania, Slovenia và Ba Lan cao hơn cả Anh quốc.
Dưới thời kỳ CS, du lịch nước ngoài là chuyện hiếm hoi, năm 2012, các quốc gia cựu CS đã thực hiện 170 triệu chuyến du lịch quốc tế. Nhờ vào các chương trình tư hữu hóa nhà cửa, ngày nay 99 phần trăm người dân Tiệp, 85 phần trăm người dân Armenia, 39 phần trăm người dân Nga được sống trong những căn nhà rộng rãi.
Khi con người tập trung vào sản xuất để thỏa mãn nhu cầu ngày càng đa diện cũng giúp cho tình trạng sức khỏe cũng qua đó nâng cao. Bệnh ghiền rượu, vốn là phương tiện duy nhất để giải sầu dưới thời CS, tự động được chữa trị bằng một đời sống tinh thần phong phú. Mức độ tiêu thụ rượu trung bình đã từ từ giảm tại các quốc gia cựu CS. Không giống thời kỳ CS Liên Xô, nơi đó theo một thống kê, trên 50 phần trăm công nhân thừa nhận có uống rượu trong khi làm việc, điều kiện và tinh thần làm việc đã thay đổi một cách nhanh chóng sau thời kỳ CS. [14]
Như Andrei Shleifer và Daniel Treisman kết luận: “gần như tất cả thống kê đã cho thấy một sự cải thiện cấp bách về phẩm chất của đời sống đối với người dân các nước cựu CS tính trung bình từ 1989 – một thay đổi thường vượt qua những tiến bộ tương tự tại các phần khác của thế giới”.
Con người Việt Nam, cũng giống như bao nhiêu tỉ con người khác trên thế giới không phải mang theo bản chất lười biếng khi ra đời. Hơn thế nữa, nhìn lại lịch sử Việt, nếu dân tộc Việt Nam lười biếng thì từ lâu đã không có một nước Việt Nam mà là tỉnh An Nam, tỉnh Nam Việt nào đó của Tàu hay thậm chí đã không còn tồn tại trên mặt đất này.
Bệnh lười tại Việt Nam đã được phân tích khá nhiều, người viết không thấy cần phải viết thêm. Điều muốn nhấn mạnh ở đây, cũng những con người đó, cũng những dân tộc đó nhưng chỉ trong một thời gian ngắn các quốc gia CS cũ đã hoàn toàn thay đổi. Việt Nam thì chưa. Một người có nhận thức căn bản cũng hiểu vật cản đầu tiên và cuối cùng cho tương lai phát triển toàn diện Việt Nam chính là đảng CS.
Việt Nam sẽ không bao giờ trở thành một Singapore, Nam Hàn hay Thái Lan ngày nào đảng CS còn cai trị Việt Nam, bởi vì Việt Nam thiếu một nguyên tố quan trọng nhất để thăng tiến, đó là dân chủ.
Những ai đang mơ một ngày Việt Nam sẽ trở thành Nam Hàn nên đọc phân tích của tạp chí The Economist: “Nam Hàn không chỉ đơn giản phát triển nhanh. Quốc gia này đã kết hợp sự phát triển với dân chủ. Mặc dù khởi đi dưới thời một nhà độc tài quân sự, Park Chung Hee, trong suốt 25 năm, quốc gia đã có một hệ thống quốc hội đầy sinh động. Theo Freedom House, Nam Hàn có mức độ phát triển dân chủ ngang với Nhật Bản. Không một nước Á Châu nào có sự phát triển tốt đẹp tương tự.” [15]
Những người Việt có lòng yêu nước và biết nhìn xa, xin đừng xoa dịu vết thương xã hội đang mỗi ngày thêm lở loét bằng những lớp băng bó ngoài da mà hãy mạnh tay cắt bỏ những ung nhọt đã làm cho thân thể Việt Nam hư thối.
Chỉ có ánh sáng của tự do dân chủ mới chữa được bệnh lười CS. Tiến trình thay đổi cơ chế chính trị độc tài CS bằng một cơ chế dân chủ là một tiến trình gian nan và đầy chông gai thách thức nhưng, như lịch sử các quốc gia cựu CS vừa cho thấy, đó là chọn lựa của thời đại và không có chọn lựa nào khác.
————
[1] Việt Nam mãi nghèo vì người Việt quá lười? Ngẫm sâu hơn, có thể bạn sẽ nghĩ khác! VietNamNet, 24/08/2016.
[2] Đất nước của những kẻ lười biếng, Lục Phong, VietnamVanHien.net, 24/9/2016.
[3] Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, Karl Marx, Friedrich Engels, marxistsfr.org
[4] on The Famine, A Letter To The Workers Of Petrograd, V.I. Lenin, 22 May, 1918
[5] Soviet Military Budget: $128 Billion Bombshell, The New York Times, May 31, 1989
[6] Detect and Deter: Can Countries Verify the Nuclear Test Ban? Ola Dahlman, Jenifer Mackby, Svein Mykkeltveit, Hein Haak, pp. 24-27
[7] Research Toilet Paper Usage in the Former Soviet Bloc and the Transition, Mike Haynes, University of Wolverhampton, United Kingdom
[8] Remarks by Mao Zedong at the Beid aihe Conference, 30 August, 1958
[9] Disprove the “Communism Breeds Laziness” Theory. Yao Wenyuan (1931 – 2005), October 23, 1958
[10] Normal Countries: The East 25 Years After Communism. Andrei Shleifer và Daniel Treisman. Foreign Affairs, November/December 2014
[11] Liu Shaoqi How to Be a Good Communist, July 1939. Selected Works of Liu Shaoqi, Volume I, Liu Shaoqi Reference Archive, February 2004
[12] China Voice: Incompetence and laziness mean curtains for China’s officials, Xinhua, July 29 2015.
[13] China Punishes Nearly 1 Lakh Officials for Extravagance, Laziness, Mugdha Variya, IBTimes. Dec 26, 2014
[14] Research on “Communism and Computer Ethics”, Stanford University.
[15] South Korea’s economy, What do you do when you reach the top? The Economist, Nov 12th 2011.