Tàu cộng đệ trình lên LHQ công hàm bán nước của Phạm Văn Đồng cho tặng Hoàng Sa, Trường Sa à biển Đông chỉ giữ cách bờ 12 hải lý, muốn đòi lại Hoàng Sa, trường Sa thì phải giải tán cp CSVN
21.04.2020 11:58
Chân Như (Danlambao) - Theo tờ Thời Báo tại Đức vừa đưa tin, hôm 17/04/20 vừa qua, TC đã trình lên Liên Hiệp Quốc một Tuyên bố chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa dựa vào công hàm Phạm Văn Đồng ký đã kết ngày 14/9/1958 như là một bằng chứng cho lập luận của chúng.
Xin tóm tắc: "Vào ngày 04/09/ 1958, TC ban hành Tuyên bố của Chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về lãnh hải của TC. Trong Tuyên bố có ghi rõ quy định lãnh hải rộng mười hai hải lý áp dụng cho tất cả các lãnh thổ của TC bao gồm quần đảo Hoa Đông, Hoàng Sa, Trung Xa, Trường Sa và tất cả các đảo khác thuộc TC. Vào ngày 14/09/1958, chính tay tên thủ tướng Phạm Văn Đồng đaị diện cho CHDCVN đã gửi công hàm ngoại giao tới Chu Ân Lai với nội dung công nhận và ủng hộ Tuyên bố của TC về quyết định liên quan đến lãnh hải mà TC vừa công bố."
Dưới đây xin trích dẫn một phần nội dung Công hàm mà TC đệ trình lên LHQ ba ngày trước (Độc giả nào muốn đọc nguyên văn và bản Tiếng Anh xin vào xem phần chú thích bên dưới):
Công hàm số: CML / 42/2020
Kính thưa ngài Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc António Guterres,
...
Nay chúng tôi chính thức tuyên bố quan điểm của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa như sau:
Chủ quyền của Trung Hoa đối với Trường Sa và Hoàng Sa được cộng đồng quốc tế công nhận rộng rãi. Chính phủ Việt Nam cũng đã công nhận nó một cách rõ ràng. Vào ngày 4 tháng 9 năm 1958, chính phủ Trung Hoa ban hành Tuyên bố của Chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về lãnh hải của Trung Hoa, tuyên bố một lãnh hải rộng mười hai hải lý, và quy định rằng, Quy định này áp dụng cho tất cả các lãnh thổ của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa bao gồm quần đảo Hoa Đông, Hoàng Sa, Trung Xa, Trường Sa và tất cả các đảo khác thuộc Trung Hoa. Vào ngày 14 tháng 9 năm 1958, Thủ tướng Phạm Văn Đồng của Việt Nam đã gửi công hàm ngoại giao tới Chu Ân Lai, Thủ tướng Hội đồng Nhà nước Trung Hoa, tuyên bố long trọng rằng chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa công nhận và ủng hộ tuyên bố của Chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về quyết định liên quan đến lãnh hải của Trung Quốc được đưa ra vào ngày 4 tháng 9 năm 1958 và rằng chính phủ của Cộng hòa Dân chủ Việt Nam tôn trọng quyết định này. Trong những năm đầu của thập niên 1970, Việt Nam đã chính thức công nhận rằng Hoàng Sa và Trường Sa luôn là một phần của lãnh thổ Trung Hoa kể từ thời cổ đại. Sở hữu này đã được phản ánh trong các tuyên bố và ghi chú của chính phủ, cũng như các bản đồ, sách giáo khoa và báo chí chính thức của Việt Nam.
Sau năm 1975, Việt Nam đã vi phạm tuyên bố của chính mình và đưa ra yêu sách lãnh thổ bất hợp pháp đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Trung Hoa. Vi phạm mục đích và nguyên tắc của Hiến chương Liên Hợp Quốc, Việt Nam đã đưa quân xâm chiếm và chiếm đóng bất hợp pháp một số đảo và rạn san hô của Trung Hoa ở quần đảo Trường Sa bằng vũ lực, cố gắng kích động tranh chấp. Trung Hoa luôn phản đối sự xâm chiếm và chiếm đóng bất hợp pháp của Việt Nam tại một số đảo và rạn san hô của Trung Hoa ở quần đảo Trường Sa, và các hoạt động xâm phạm quyền và lợi ích của Trung Hoa trong phạm vi quyền tài phán của Trung Hoa. Trung Hoa kiên quyết yêu cầu Việt Nam rút toàn bộ thủy thủ đoàn và các cơ sở khỏi các đảo và rạn san hô mà họ đã xâm chiếm và chiếm đóng bất hợp pháp.....
Phái đoàn thường trực của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tại Liên Hợp Quốc đề nghị Tổng thư ký Liên Hợp Quốc lưu hành công hàm này đến tất cả các quốc gia thành viên của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển và tất cả các thành viên của Liên Hợp Quốc. (1)
New York, ngày 17 tháng Tư năm 2020
Kết luận:
Việc CSVN đã dâng biển đảo của VN cho TC đã quá rõ ràng rồi, không còn gì để mà phân bua, ngụy biện nữa. Nhưng chúng ta vẫn còn một hy vọng mong manh để phản đối sau này, vào thời điểm 1958, VN còn chia hai, nên đó chỉ là công hàm do CS Bắc Việt ký kết chứ về phía VNCH thì không bao giờ công nhận, bằng chứng là trận Hải Chiến anh dũng năm 1974 mà các chiến sĩ VNCH đã đổ máu ra sức bảo vệ Hoàng Sa. Tiếc thay là đến nay VNCH không còn nữa nên không còn đủ cơ sở pháp lý để kiện TC.
Vũ Đông Hà (Danlambao) - Trong nhiều năm tháng người ta tự hỏi tại sao nhà cầm quyền CSVN không kiện Tàu cộng ra toà án quốc tế về chủ quyền biển Đông. Có nhiều lý do. Chủ yếu là do tình trạng của quan hệ 4 vàng 16 tốt, tình hình nội bộ, cũng như khuynh hướng đu dây của chóp bu Ba Đình và những lá bài tẩy mà Hồ Chí Minh cùng đàn em trong hơn nửa thế kỷ đã đầu hàng hay dâng hiến cho quan thầy Bắc Kinh. Một trong những dâng hiến đó và bây giờ Bắc Kinh mới chính thức mang ra khai dụng là Công Hàm Bán Nước 14.09.1958 do Hồ Chí Minh quyết định, Bộ Chính trị đồng thuận và Phạm Văn Đồng thừa lệnh ký.
Trong vài tháng qua, "Đại dịch Chinese Communist Party Virus" (xin được dùng tên gọi CCPvirus vì đảng cộng sản Tàu mới là thủ phạm gây nên thảm hoạ toàn cầu) trở thành mối quan tâm hàng đầu của nhân loại. Lồng trong cuộc tổng tấn công toàn thế giới bằng đạo quân vi khuẩn Vũ Hán, Bắc Kinh mở cuộc hành quân mới trên biển Đông để củng cố vị trí xâm lược - chiếm đóng - chủ quyền hoá vùng biển này.
Tại Việt Nam, đảng cộng sản CSVN đang chuẩn bị bước vào Đại hội Thay Người Đổi Ghế lần thứ 13 với hình ảnh, vị trí ngày càng mờ nhạt của tên đầy tớ trung thành nhất của Bắc Kinh là Tổng Bí thư kiêm Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng.
Đứng bên cạnh những dữ kiện mà không một người Việt nào tin về số lượng người bị nhiễm rất thấp, không ai chết vì CCPvirus - nhưng được quốc tế chấp nhận như là dữ liệu chính thức; trở thành diễn viên chính trong cuốn phim Chống Dịch Như Chống Giặc với Tinh thần Giải phóng Miền Nam, Nguyễn Xuân Phúc đang chiếm thế thượng phong trên bàn cờ tranh ngôi chiếm chức trong nội bộ đảng.
Trên bàn cờ địa chính trị thế giới, viễn ảnh của thời kỳ hậu đại dịch là cả thế giới sẽ cùng nhau truy tội và trừng trị thủ phạm làm nên Đại dịch CCPvirus. Kinh tế và sản xuất toàn cầu sẽ không theo lối mòn sai lầm tập trung một mối về China - tâm điểm của đại dịch. Việt Nam là một trong những quốc gia có tiềm năng trở thành một trong những điểm đến mới của các công ty nước ngoài.
Đi với Tàu, bám vào Tàu, quỳ lạy Tàu như là một quan thầy đồng minh duy nhất không còn là một chọn lựa đầy lợi nhuận cho tập đoàn buôn dân bán nước tại Ba Đình khi sẽ phải đối đầu với vực sâu kinh tế hậu đại dịch.
Trong khi đó, phía Tàu cộng, lợi dụng mặt trận CCPvirus đang bùng nỗ trên đất liền, Bắc Kinh ra tay để vừa củng cố vị trí xâm lược trên mặt biển, vừa làm phép thử đối với mức độ thần phục của Ba Đình trong bối cảnh chính trị mới: Tổ chức tập trận hải quân, tấn công tàu đánh cá Việt Nam, điều tàu thăm dò và hải cảnh xuống Biển Đông.
Phía Ba Đình, trong vòng 2 tuần (30/03, 10/04, 14/04) đã gửi đến Ủy ban ranh giới thềm lục địa thuộc LHQ Công hàm số một, Công hàm số 2, Công hàm số 3khẳng định chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa. Lần đầu tiên CSVN xây dựng nền tảng pháp lý, thông qua các công hàm gửi LHQ, sử dụng Luật Biển 1982 và Phán quyết PCA 14-7-2016 để đối đầu với hành vi xâm lược Bắc Kinh tại biển Đông.
Chỉ vài ngày sau, Bắc Kinh tung ra hai đòn liên tục:
Ngày 18/04, Tàu cộng chính thức công bố thành lập 2 quận đảo Tây Sa và Nam Sa vốn thuộc Hoàng Sa và Trường Sa là vùng biển đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam mà Tàu cộng xâm lược và chiếm đóng.
Bản đồ của Tàu cộng với "Tây Sa", "Nam Sa" và đường Lưỡi bò xâm lược
Cùng lúc Bắc Kinh gửi đến Liên Hiệp Quốc công hàm CML/42/2020 trong đó tung ra con bài bán nước Phạm Văn Đồng:
"...Vào ngày 14 tháng 9 năm 1958, Thủ tướng Phạm Văn Đồng của Việt Nam đã gửi công hàm ngoại giao tới Chu Ân Lai, Thủ tướng Hội đồng Nhà nước Trung Hoa, tuyên bố long trọng rằng chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa công nhận và ủng hộ tuyên bố của Chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về quyết định liên quan đến lãnh hải của Trung Quốc được đưa ra vào ngày 4 tháng 9 năm 1958 và rằng chính phủ của Cộng hòa Dân chủ Việt Nam tôn trọng quyết định này..."
Tuy nhiên, công hàm CML/42/2020 của Tàu cộng và lá bài Công Hàm Bán Nước Phạm Văn Đồng chỉ vạch trần khía cạnh phản bội quê cha đất tổ và bán nước... khác của Phạm Văn Đồng và tập đoàn cộng sản Bắc Việt - đứng đầu là Hồ Chí Minh.
Trên nguyên tắc, có ba thực thể quốc gia: Việt Nam Cộng Hoà, Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Phạm Văn Đồng là thủ tướng của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà gửi thư cho Chu Ân Lai để "ghi nhận và tán thành" bản tuyên bố của Tàu cộng về hải phận thuộc chủ quyền của một quốc gia khác: nước Việt Nam Cộng Hoà - một quốc gia độc lập, có chủ quyền.
Do đó, thừa nhận của Phạm Văn Đồng không chẳng khác gì thừa nhận của... thủ tướng Lào, tổng thống Nam Phi, ông Hoàng Cam Bốt... về chủ quyền của quốc gia VNCH. Nó không có giá trị pháp lý.
Quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền và quản lý của Việt Nam Cộng Hoà và một lần nữa được xác nhận chính thức bởi Tổng thống Ngô Đình Diệm vào năm 1961:
Công hàm bán biển đảo của đảng và chính phủ bù nhìn CSVN
Điều đó có nghĩa là Phạm Văn Đồng vào năm 1958 đã ký thừa nhận và tán thành với Chu Ân Lai về một vùng hải lý, biển đảo thuộc chủ quyền của một quốc gia khác mà ông ta hoàn toàn không phải là người đại diện quốc gia VNCH, không là người có thẩm quyền đối với chủ quyền của nước VNCH.
Và chính Tàu cộng đã xâm lược, chiếm đóng Hoàng Sa vào ngày 19/1/1974.
Tương tự ngày 14/3/1988, Tàu cộng xâm lăng và chiếm đóng các bãi đá Gac Ma, Colin và Len Dao thuộc quần đảo Trường Sa của nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Mọi "thừa nhận" hay "tán thành" của bất kỳ đại diện nào của nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa như Phạm Văn Đồng đều vô giá trị.
Phạm Văn Đồng bán nước nhưng hắn không phải là tên chủ chốt. Hồ Chí Minh mới là thủ phạm chính. Nhưng cả hai đã đi bán lãnh thổ, biển đảo của một quốc gia khác - không phải là quốc gia mà chúng đại diện - bằng cách "thừa nhận", "tán thành" về việc ăn cướp chủ quyền của nước Việt Nam Cộng Hoà qua văn bản tự viết vào thập niên 50s, xâm lược vào thập niên 70s, 80s kéo dài cho đến bây giờ của Tàu cộng.
Muốn bảo vệ chủ quyền và lấy lại gì những gì đã mất? Chỉ có một con đường duy nhất: Giải thể đảng cộng sản, khôi phục lại tư thế pháp nhân của Việt Nam Cộng Hoà trong một nước Việt Nam mới trên trường quốc tế. VN chỉ có thể bảo vệ chủ quyền bằng 100 triệu người dân đồng tâm hiệp lực với một chính phủ, quốc hội do họ bầu ra trong một thể chế dân chủ thực sự. Sẽ không giữ được nước cho dù có kiện tụng ra tòa án quốc tế bởi một tập đoàn cai trị có truyền thống hèn với giặc (Tàu) ác với dân (Việt) từ đầu đời cho đến cuối đời, từ Hồ Chí Minh - Phạm Văn Đồng đến Nguyễn Phú Trọng - Nguyễn Xuân Phúc.
Tưởng niệm các quân nhân Việt Nam từ cả hai phía hy sinh ở Hoàng Sa - Trường Sa
Những định nghĩa pháp lý cho các chính thể Việt trong cuộc chiến chấm dứt ngày 30/4/1975 có vai trò quan trọng cho lập luận của Việt Nam về chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Sự quan trọng này không chỉ vì công hàm 1958 của Thủ tướng Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) Phạm Văn Đồng, mà còn vì Hà Nội đã không khẳng định chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa từ năm 1954 đến 1975-1976.
Quốc gia duy trì chủ quyền
Trong phán quyết năm 2008 về tranh chấp cụm đảo Pedra Branca giữa Malaysia và Singapore, Tòa án Công lý Quốc tế cho rằng ban đầu Malaysia có chủ quyền đối với đảo Pedra Branca.
Tòa nói công hàm 1953 của Johor, nay là một tiểu bang của Malaysia, trả lời Singapore rằng Johor không đòi chủ quyền trên đảo này, không có hệ quả pháp lý mang tính quyết định và không có tính chất ràng buộc cho Johor.
Nhưng Tòa lại dựa vào việc trước và sau đó Johor và Malaysia không khẳng định chủ quyền và dùng công hàm 1953 của Johor như một trong những chứng cớ quan trọng cho việc Malaysia không đòi chủ quyền, để kết luận rằng tới năm 1980 chủ quyền đã rơi vào tay Singapore.
Bài học cho Việt Nam là: bất kể ban đầu Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam, và dù cho chúng ta có biện luận thành công rằng công hàm của Thủ tướng VNDCCH Phạm Văn Đồng không có tính ràng buộc về hai quần đảo này đi nữa, việc VNDCCH không khẳng định chủ quyền trong hơn 20 năm, trong khi các quốc gia khác làm điều đó, có khả năng sẽ làm cho VNDCCH không còn cơ sở để đòi chủ quyền nữa.
Vì vậy, trong lập luận pháp lý của Việt Nam phải có sự khẳng định chủ quyền đối với hai quần đảo này từ một chính phủ khác, lúc đó là đại diện hợp pháp cho một quốc gia Việt nào đó.
Trên lý thuyết, nếu chứng minh được từ năm 1954 đến 1975 chỉ có một quốc gia, và chính phủ Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) là đại diện hợp pháp duy nhất của quốc gia đó, thì điều đó cũng đủ là cơ sở cho lập luận pháp lý của Việt Nam về Hoàng Sa, Trường Sa.
Trên thực tế, thứ nhất, chưa chắc chúng ta sẽ chứng minh được điều đó; thứ nhì, chính phủ Việt Nam ngày nay sẽ khó chấp nhận một chiến lược pháp lý dựa trên giả thuyết này.
Vì vậy, chiến lược khả thi hơn cho lập luận pháp lý của Việt Nam cần dựa trên điểm then chốt là từ năm 1958 đến 1976 có hai quốc gia khác nhau trên đất nước Việt Nam.
Phân tích này sử dụng ba khái niệm sau.
Đất nước, là một khái niệm địa lý, bao gồm một vùng lãnh thổ với dân cư. Chính phủ, là cơ quan hành pháp và đại diện. Quốc gia (trong bài này từ “quốc gia” được dùng với nghĩa State/État), là một chủ thể chính trị và pháp lý.
Trong Công ước Montevideo 1933, một quốc gia phải có lãnh thổ, dân cư, chính phủ, và khả năng có quan hệ ngoại giao với các quốc gia khác.
Thực chất, trong công pháp quốc tế chỉ có định nghĩa quốc gia như một chủ thể có năng lực pháp lý và năng lực hành vi (tức là có các quyền và nghĩa vụ phát sinh trực tiếp từ luật quốc tế) và chính phủ là thành phần của chủ thể đó, chứ không có khái niệm đất nước.
Một lãnh thổ - hai quốc gia
Hiệp định Genève 1954 chia đôi Việt Nam thành hai vùng tập kết quân sự. Mặc dù không chia Việt Nam thành hai quốc gia, Hiệp định đã tạo ra một ranh giới tại vĩ tuyến 17 giữa hai chính phủ đang tranh giành quyền lực, và ranh giới đó đã tạo điều kiện cho sự hiện hữu của hai quốc gia.
Việc VNCH không chấp nhận thực hiện tổng tuyển cử vào năm 1956 đã làm cho ranh giới đó trở thành vô hạn định.
Một cơ sở của Trung Quốc ở quần đảo Trường Sa mà họ gọi là Nam Sa
Sự hiện hữu của hai chính phủ hai bên một ranh giới vô hạn định ngày càng củng cố sự hình thành và hiện hữu trên thực tế của hai quốc gia trên lãnh thổ đó.
Điều có thể gây nghi vấn về sự hiện hữu của hai quốc gia là hiến pháp của VNDCCH và VNCH có vẻ như mâu thuẫn với sự hiện hữu đó.
Tới năm 1956, Hiến Pháp VNDCCH viết “Đất nước Việt Nam là một khối thống nhất Trung Nam Bắc không thể phân chia”, và Hiến Pháp VNCH viết “Ý thức rằng Hiến pháp phải thực hiện nguyện vọng của nhân dân, từ Mũi Cà Mâu đến Ải Nam Quan” và “Việt Nam là một nước Cộng hòa, Độc lập, Thống nhất, lãnh thổ bất khả phân.”
Nhưng sự mâu thuẫn đó không có nghĩa không thể có hai quốc gia.
Hiến pháp của Bắc Triều Tiên viết Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Triều Tiên là đại diện cho dân tộc Cao Ly, hiến pháp của Nam Hàn viết lãnh thổ của Đại Hàn Dân Quốc là bán đảo Cao Ly và các hải đảo, nhưng Bắc Triều Tiên và Nam Hàn vẫn là hai quốc gia.
Như vậy, có thể cho rằng từ năm 1956 hay sớm hơn đã có hai quốc gia, trên lãnh thổ Việt Nam, với vĩ tuyến 17 là biên giới trên thực tế giữa hai quốc gia đó.
Việc có hai quốc gia là cơ sở để cho rằng VNCH có thẩm quyền để khẳng định chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa; VNDCCH không có thẩm quyền lãnh thổ gì đối với hai quần đảo đó.
Khi Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam (CPCMLT) ra đời ngày 8/6/1969, có thể cho rằng trong quốc gia với tên VNCH, về mặt pháp lý, có hai chính phủ cạnh tranh quyền lực với nhau: chính phủ VNCH và CPCMLT.
Khi VNDCCH công nhận CPCMLT là đại diện hợp pháp cho phía nam vĩ tuyến 17 thì có nghĩa VNDCCH công nhận trên diện pháp lý rằng phía nam vĩ tuyến 17 là một quốc gia khác.
Nhưng tới năm 1969 CPCMLT mới ra đời, và cho tới năm 1974 mới có một tuyên bố chung chung về các nước liên quan cần xem xét vấn đề biên giới lãnh thổ trên tinh thần bình đẳng, vv, và phải giải quyết bằng thương lượng.
Vì vậy, nếu chỉ công nhận CPCMLT thì cũng không đủ cho việc khẳng định chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa từ thập niên 1950.
Quá trình thống nhất
Ngày 30/4/75, VNCH sụp đổ, còn lại duy nhất CPCMLT trong quốc gia phía nam vĩ tuyến 17. CPCMLT đổi tên quốc gia đó thành Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam (CHMNVN), nhưng đó chỉ là sự thay đổi chính phủ và đổi tên, không phải là sự ra đời của một quốc gia mới.
Việt Nam Cộng Hòa từng là một quốc gia có chủ quyền với Hoàng Sa và Trường Sa
Năm 1976, trên diện pháp lý, hai quốc gia trên thống nhất lại thành một, và từ đó Việt Nam lại là một quốc gia với một chính phủ trên một đất nước (lãnh thổ).
Sự thống nhất này đã không bị Liên Hiệp Quốc hay quốc gia nào lên tiếng phản đối.
Năm 1977, Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam được chấp nhận tham gia Liên Hiệp Quốc.
CHXHCNVN kế thừa vai trò của hai quốc gia VNDCCH và VNCH/CHMNVN trong các hiệp định và các tổ chức quốc tế, kế thừa lãnh thổ và thềm lục địa của VNCH/CHMNVN trong các tranh chấp với Campuchia, Thái Lan, Malaysia và Indonesia, và mặc nhiên có quyền kế thừa Hoàng Sa, Trường Sa từ VNCH/CHMNVN.
Lịch sử pháp lý trên nghe có vẻ sách vở, nhưng thực tế của nó là bom đạn, xương máu, và nhiều cảnh huynh đệ tương tàn.
Mặc dù lịch sử pháp lý đó đã kết thúc bằng một quốc gia trên đất nước (lãnh thổ) Việt Nam thống nhất, nó là một cuộc bể dâu làm đổ nhiều xương máu.
Nhưng quá khứ thì không ai thay đổi được, và tương lai thì không ai nên muốn đất nước Việt Nam lại bị chia đôi thành hai quốc gia lần nữa.
Cuộc bể dâu đó cũng đã góp phần làm cho Hoàng Sa bị Trung Quốc chiếm đóng, và để lại cho Trung Quốc một lập luận lợi hại, rằng trước 1975 Việt Nam không tuyên bố chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, và đã công nhận chủ quyền Trung Quốc trên hai quần đảo này.
Nhưng việc đã từng có hai quốc gia trên một đất nước (lãnh thổ) Việt Nam trong giai đoạn 1956 đến 1976, và việc, vào năm 1976, hai quốc gia đó thống nhất thành một một cách hợp pháp, là một yếu tố quan trọng trong lập luận về Hoàng Sa, Trường Sa.
Ngày nay, chính phủ Việt Nam một mặt viện dẫn các tuyên bố và hành động chủ quyền của Việt Nam Cộng Hòa về Hoàng Sa, Trường Sa, nhưng mặt kia vẫn e ngại việc công nhận cụ thể và rộng rãi rằng Việt Nam Cộng Hòa từng là một quốc gia, mặc dù trong quá khứ Hà Nội đã công nhận rằng Cộng hòa miền Nam Việt Nam là một quốc gia.
Việc không công nhận cụ thể và rộng rãi rằng VNCH đã từng là một quốc gia làm giảm đi tính thuyết phục của việc viện dẫn các tuyên bố và hành động chủ quyền của VNCH về Hoàng Sa, Trường Sa, vì các tuyên bố và hành động chủ quyền phải là của một quốc gia thì mới có giá trị pháp lý.
Vì vậy, chính phủ Việt Nam cần phải bỏ sự e ngại này.
Mặt khác, Việt Nam cũng cần phải hạn chế tối đa những gì Trung Quốc có thể lợi dụng để tuyên truyền rằng CHXHCNVN ngày nay chỉ là VNDCCH, chẳng hạn như không nên đổi tên nước thành VNDCCH.
CS Việt Nam đã từng ba lần “công nhận” Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ Trung Quốc?
Bởi Huỳnh Tấn Bửu
Sách báo Trung Quốc và một số tài liệu nước ngoài nêu lại thường cho rằng Việt Nam đã từng ba lần “công nhận” Tây Sa và Nam Sa là lãnh thổ Trung Quốc. Lần thứ nhất, có lẽ vào năm 1956, qua lời Thứ trưởng Ngoại Giao Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Ung Văn Khiêm và quyền Vụ Trưởng Vụ Châu Á Lê Lộc, rằng các quần đảo này về mặt lịch sử là một bộ phận của lãnh thổ Trung Quốc. Lần thứ hai, có lẽ vào ngày 14 tháng 9 năm 1958 thông qua công hàm của Thủ tướng Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Phạm Văn Đồng, chiều rộng lãnh hải Trung Quốc 12 hải lý. Tuyên bố của Trung Quốc nói sự mở rộng lãnh hải này áp dụng cho tất cả lãnh thổ nước cộng hòa kể cả “Các quần đảo Đài Loan, Đông Sa, Trung Sa, Tây Sa bằng tuyên bố ngày 9 tháng 5 năm 1965, phản kháng lại việc chính phủ Mỹ ấn định khu vực chiến đấu của lực lượng vũ trang Mỹ tại Đông Dương. Hà Nội có lẽ đã tuyên bố rằng khu vực này xâm phạm vào “vùng biển Tây Sa” của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa. Các sự kiện này gắn vào với hiệu ứng estoppel (mặc nhiên thừa nhận) trong luật quốc tế.
Công hàm của Thủ Tướng Phạm Văn Đồng 1958 công nhận Hoàng Sa và Trường Sa là của Trung Quốc?
Về vấn đề này, Giáo sư Monique Chemiller-Gendreau, nguyên Chủ tịch Hội Luật gia Dân Chủ Thế Giới, đã phân tích rằng tuyên bố của Thủ tướng Phạm Văn Đồng chỉ là “ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của chính phủ Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc, nhưng không có sự khẳng định công nhận yêu sách của Trung Quốc với hai quần đảo”.
Đánh giá các sự kiện này không phải là đơn giản. Cần phải đặt chúng trong bối cảnh lịch sử lúc đó.
Đối với Hà Nội, các sự kiện này nằm trong giai đoạn 1956 đến 1965 trong thời điểm Việt Nam phải đấu tranh với cuộc can thiệp và xâm lược của Mỹ. Vào lúc đó nhân dân Việt Nam cần phải làm tất cả những gì có thể được để chiến thắng xâm lược và nhất định không để mất nước một lần nữa (!?). Đó là vấn đề sống còn. Trong cuộc chiến đấu một mất một còn chống lại một kẻ xâm lược có sức mạnh quân sự lớn hơn mình rất nhiều, Việt Nam tranh thủ được Trung Quốc, gắn chặt Trung Quốc với cuộc chiến đấu của Việt Nam bao nhiêu và ngăn chặn Mỹ sử dụng hai quần đảo cũng như vùng biển Đông chống Việt Nam thì càng tốt bấy nhiêu. Phải đứng trên tinh thần đó và trong bối cảnh đó để hiểu các tuyên bố nói trên.
Hai nước gắn bó chặt chẽ với nhau bằng lý tưởng chung của chủ nghĩa cộng sản, theo đó tất cả các vấn đề lãnh thổ sẽ tìm ra được giải pháp tích hợp giữa những người “vừa là đồng chí vừa là anh em”. Sự hợp tác và lòng tin chân thành giữa những người vừa là an hem”. Sự hợp tác và lòng tin chân thành giữa những người vừa là đồng chí vừa là an hem là hiện thực như Hà Nội đã từng nêu trong ba sự kiện sau: Sự tham gia của quân đội Nhân dân Việt Nam năm 1949 đánh đuổi quân Quốc Dân Đảng giải phóng Trúc Sơn (lãnh thổ Trung Quốc) và sau đó đã trao trả cho Quân Giải Phóng Nhân Dân Trung Quốc, hay việc Hồng Quân Trung Quốc chiếm đảo Bạch Long Vĩ trong Vịnh Bắc Bộ và đã trao lại Việt Nam năm 1957. Cuộc chiến đấu của nhân dân Việt Nam bảo vệ không chỉ là lãnh thổ của riêng họ mà còn cả lãnh thổ của Trung Quốc khỏi sự đe dọa của Mỹ, như Bắc Kinh đã phát biểu trả lời thư cảm ơn của Hà Nội sau chiến thắng 1975.
Các luận cứ trên có tính chất chính trị nhiều hơn là pháp lý, không phải thực sự tuyết phục. Cũng không có một trích dẫn chính thức các phát biểu của các ông Ung Văn Khiêm và Lê Lộc trong cuộc gặp gỡ với Đại biện lâm thời Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa tại Hà Nội để kiểm chứng.
Yếu tố chủ yếu trong hành vi đơn phương nằm trong sự kiện đó là sự thể hiện lòng mong muốn. Sự thể hiện này chỉ có thể được giải thích bằng cách phân tích đối tượng và mục tiêu của hành vi đơn phương trong các hoàn cảnh lịch sử. Tòa án Công lý Quốc tế trong Vụ thử vũ khí hạt nhân 1974 đã chỉ rõ: “Các tuyên bố kiểu này có thể có và thường có một đối tượng hết sức chính xác” bởi vì:
“Đúng là không phải tất cả các hành vi đơn phương đều kéo theo các nghĩa vụ, nhưng một quốc gia có thể lựa chọn chấp nhận một lập trường xác định khi giải thích hành vi đó. Một khi các quốc gia đã ra các tuyên bố hạn chế sự tự do hành động trong tương lai của họ thì một sự giải thích hạn chế là cần thiết”.
Như vậy đối tượng của một sự cam kết đơn phương cần phải thật chính xác. Việc giải thích ý chí của một quốc gia phải thận trọng.
Công hàm Phạm Văn Đồng có mục đích đáp ứng yêu cầu của Trung Quốc đối với các nước xã hội chủ nghĩa nhằm ủng hộ cuộc đấu tranh của họ chống lại chính sách tự do trên biển của Mỹ theo đuổi trong eo biển Đài Loan, đe dọa tới nền an ninh quốc gia của Trung Quốc vào thời kì đó. Công hàm cho thấy một sự cam kết mang tính chính trị nhiều hơn là pháp lý, một hình thức thường được các nước xã hội chủ nghĩa sử dụng để thể hiện sự đoàn kết về mặt tư tưởng.
Trong giai đoạn quan hệ Bắc Việt-Trung Quốc, công hàm của ông Phạm Văn Đồng chỉ nhằm mục đích ủng hộ người anh em Trung Quốc. Điều này cũng cho thấy rằng ông đặt lợi ích của những người cộng sản lên trên hết, trên cả lợi ích chung của dân tộc. Và điều này đã gây ra những hiểu lầm sâu sắc về sau.
Công hàm ngày 14 tháng 9 năm 1958 có phải là một hành vi đơn phương từ bỏ chủ quyền không? Phù hợp với nguyên tắc theo đó “Những gì hạn chế sự độc lập không thể bị suy diễn”, sự từ bỏ phải được nói rõ và không suy diễn. Công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng không chứa đựng bất kì sự từ bỏ rõ ràng nào chủ quyền trên hai quần đảo cho Trung Quốc. Nội dung của công hàm không có một sự bắt buộc từ bỏ một chủ quyền. Căn cứ vào chức năng quyền hạn của mình, một Thủ tướng không có thẩm quyền chuyển nhượng lãnh thổ. Thẩm quyền thuộc về Quốc hội Việt Nam.
Vào thời điểm đó các vấn đề về lãnh thổ chưa được đặt ra và chúng kéo theo các cuộc xung đột trong quan hệ song phương. Không có gì ngăn cản hai nước đàm phán thiện ý về vấn đề hai quần đảo. Trong vụ tranh chấp biên giới với Burkina Faso, Tòa án Công Lý Quốc Tế đã đánh giá rằng các tuyên bố của Tổng Thống Mali trong một cuộc họp báo không có giá trị bắt buộc miễn là trên thực tế không có gì ngăn cản các bên đi đến thỏa thuận “bằng con đường thông thường: đó là một thỏa thuận với điều kiện có đi có lại”. Từ tháng 11 năm 1957 đến tháng 4 năm 1958, hai đảng cầm quyền, Đảng Lao động Việt Nam và Đảng Cộng Sản Trung Quốc đã cam kết tôn trọng nguyên trạng đường biên giới do lịch sử để lại và giải quyết tất cả các vấn đề về biên giới lãnh thổ bằng đàm phán. Về các cam kết đơn phương trong công pháp quốc tế, E. Suy cho rằng:
“Vấn đề đúng ra là việc biết xem có tồn tại trong công pháp quốc tế những kiểu thể hiện ý chí hoàn toàn đơn phương mà chúng ta có thể coi là những lời hứa, và chúng chỉ sản sinh ra các nghĩa vụ cho chủ thể tác giả của các lời hứa đó không…Luận thuyết của chúng tôi như sau: những lời hứa hoàn toàn đơn phương có tồn tại trong công pháp quốc tế, mặc dù chúng rất hãn hữu. Sự hãn hữu này được giải thích dễ dàng hco việc không một quốc gia nào sẵn sang tự nguyện đưa ra những nhượng bộ tự phát và cho không. Sự tìm hiểu các lời hứa hoàn toàn đơn ph ương đòi hỏi một số sự cố gắng nghiên cứu tỉ mỉ để xác định được đằng sau bề mặt đơn phương hình thức của một tuyên bố ý chí này có che giấu một sự song phương thực chất không
Tác giả tiếp tục: “Khó có thể tìm được trong thực tiễn quốc tế các ví dụ từ bỏ hoàn toàn đơn phương. Trên thực tế, một chủ thể luật không thể dễ dàng hi sinh một quyền mà không nhận được các ưu đãi đổi lại. Do vậy, một sự từ bỏ trong phần lớn các trường hợp được cân bằng bởi sự quy thuộc các quyền khác, điều đó có một lần nữa lại đưa chúng ta tin rằng có sự hiện diện của một sự từ bỏ hoàn toàn đơn phương, thì cũng nên nghi ngờ bởi vì nó có thể là câu trả lời cho một sự mời mọc hoặc một đề nghị nào đó…”
Bộ Ngoại giao Trung Quốc lớn tiếng đe dọa Việt Nam về Biển Đông
21/04/2020
Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Cảnh Sảng (ảnh tư liệu, tháng 3/2020)
Bộ Ngoại giao Trung Quốc hôm 21/4 nói rằng họ vừa “giao thiệp nghiêm khắc” để đáp trả điều mà họ gọi là “Việt Nam tuyên bố chủ quyền một cách bất hợp pháp ở biển Hoa Nam [tức Biển Đông]”, theo tin của Reuters và The Beijing News.
Tin cho hay ông Cảnh Sảng, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc, nói tại một cuộc họp báo hàng ngày rằng kể từ cuối tháng 3 vừa qua, Phái đoàn Thường trực của Việt Nam tại Liên Hiệp Quốc đã gửi một số công hàm tới Tổng Thư ký LHQ, “liên tục tuyên bố chủ quyền một cách bất hợp pháp” tại Biển Đông, cũng như “cố phủ nhận” chủ quyền và các quyền của Trung Quốc ở vùng biển này.
“Trung Quốc kiên quyết phản đối điều đó và đã giao thiệp nghiêm khắc với Việt Nam”, ông Cảnh Sảng tuyên bố, vẫn theo tin của Reuters và The Beijing News.
Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc tiếp đến nhấn mạnh rằng bất kỳ nước nào cố phủ nhận chủ quyền và quyền chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông dưới bất kỳ hình thức nào đều là “vô hiệu” và “chắc chắn sẽ thất bại”, bản tin của Reuters và The Beijing News cho biết.
“Trung Quốc sẽ thực thi mọi biện pháp cần thiết để bảo vệ vững chắc chủ quyền, các quyền và lợi ích của mình ở Trung Hoa Nam Hải [tức Biển Đông]”, ông Cảnh Sảng nói.
Theo quan sát của VOA, cho đến khi bản tin này được đăng, phía Việt Nam chưa đưa ra phản ứng chính thức nào về tuyên bố mới nhất của người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc.
Các tàu cảnh sát biển VN và TQ vờn nhau ở Biển Đông hồi tháng 5/2014
Trước đó, như VOA đã đưa tin, Việt Nam đã phản đối những nỗ lực bành trướng của Trung Quốc tại vùng biển tranh chấp, bao gồm cả việc gửi tuyên bố chủ quyền đến LHQ.
Rất có khả năng là lúc này, Trung Quốc có thể sẽ có hành động mạnh tay hơn ở khu vực Biển Đông.
Một số nhà phân tích và quan sát nhận định với VOA rằng cụm từ “mọi biện pháp cần thiết” trong tuyên bố hôm 21/4 của phía Trung Quốc là rất đáng lưu ý vì nó có hàm ý đe dọa, cũng như không loại trừ việc Trung Quốc tiến tới sử dụng biện pháp quân sự.
Đây là lần thứ hai chỉ trong vòng 4 ngày, Trung Quốc nói bóng gió đến việc sử dụng vũ lực, theo thạc sĩ luật Hoàng Việt, một nhà nghiên cứu lâu năm về Biển Đông.
Ông Việt nhắc đến công hàm hôm 17/4 của Trung Quốc gửi đến Tổng Thư ký LHQ để phản đối Việt Nam, trong đó có đoạn: “Trung Quốc kiên quyết đòi Việt Nam phải rút mọi lực lượng và phương tiện khỏi các đảo và đá mà nước này đã xâm lược và chiếm đóng bất hợp pháp” ở quần đảo Trường Sa.
Nhà nghiên cứu Hoàng Việt nhận định với VOA về những tín hiệu liên tiếp phát đi từ Trung Quốc trong ít ngày qua:
“Rất có khả năng là lúc này, Trung Quốc có thể sẽ có hành động mạnh tay hơn ở khu vực Biển Đông”.
Đối sách của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, theo ông Hoàng Việt, là “phải giữ vững được thực địa” kết hợp với các biện pháp ngoại giao, hòa bình. Ông nói thêm với VOA:
“Việt Nam đang chiếm giữ, kiểm soát tất cả là 21 cấu trúc ở Trường Sa, cũng như các giàn ĐK, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam, thì Việt Nam phải kiên quyết giữ vững được. Nếu không giữ vững được thì có thể bị đe dọa rất là lớn. Việt Nam cần tiếp tục gửi công hàm, và Việt Nam phải vận động các quốc gia trực tiếp liên quan như Malaysia, Philippines cũng phải gửi công hàm lên tiếng cho trường hợp này”.
Một điểm trú đóng của Việt Nam ở quần đảo Trường Sa (ảnh tư liệu, tháng 4/2010)
Trên bình diện rộng hơn, ông Việt, thành viên Ban Nghiên cứu luật Biển, thuộc Liên đoàn Luật sư Việt Nam, đề xuất Việt Nam tận dụng vị thế chủ tịch đương nhiệm của khối các nước Đông Nam Á (ASEAN) để làm việc cùng các thành viên và đưa ra một tuyên bố chung. Thêm vào đó, Việt Nam cần kêu gọi sự lên tiếng của các nước khác trong cộng đồng quốc tế, vẫn theo lời thạc sĩ Hoàng Việt.
Có những phân tích cho rằng Trung Quốc sẽ bao vây, chặn các đường tiếp tế của phía Việt Nam đến các đảo ở khu vực Trường Sa hoặc các dàn ĐK. Đấy là những việc Việt Nam phải tính đến, làm sao vừa bảo vệ được mình mà không mắc bẫy của Trung Quốc.
Biện pháp thứ tư trong số các đối sách là Việt Nam khởi kiện Trung Quốc ra tòa quốc tế, nếu cần thiết, ông Hoàng Việt nói với VOA.
Trong bối cảnh tình hình mỗi lúc một căng thẳng thêm, nhà nghiên cứu này cảnh báo rằng Việt Nam cần giữ bình tĩnh trước các hành vi khiêu khích, hay còn gọi là “dưới ngưỡng chiến tranh”, của Trung Quốc:
“Có những phân tích cho rằng Trung Quốc sẽ bao vây, chặn các đường tiếp tế của phía Việt Nam đến các đảo ở khu vực Trường Sa hoặc các dàn ĐK. Đấy là những việc Việt Nam phải tính đến, làm sao vừa bảo vệ được mình mà không mắc bẫy của Trung Quốc vào chuyện nổ súng trước hoặc khiêu khích Trung Quốc, để Trung Quốc tạo cớ”.
Về nguyên nhân Trung Quốc trở nên hung hăng hơn trong giai đoạn hiện nay, ông Hoàng Việt, thành viên Ban Nghiên cứu luật Biển, thuộc Liên đoàn Luật sư Việt Nam, nhận định với VOA rằng nhà lãnh đạo tối cao của Trung Quốc, ông Tập Cận Bình, có thể đã và đang gặp những thách thức chính trị nội bộ trong bối cảnh kinh tế năm qua sụt giảm vì thương chiến với Mỹ, nên ông Tập muốn hướng sự chú ý ra bên ngoài, đặc biệt nhắm đến Biển Đông.
Bên cạnh đó, vẫn theo thạc sĩ Hoàng Việt, tình hình quốc tế hiện cũng đang có thuận lợi cho Trung Quốc theo đuổi các mục đích của họ ở Biển Đông, khi các nước bận rộn đối phó với dịch Covid-19, trong đó, Hải quân Mỹ đang tạm thời suy giảm sức mạnh vì hai tàu sân bay có nhiều thủy thủ bị nhiễm bệnh, phải dừng hoạt động.
Phủ nhận sự tồn tại của Việt Nam Cộng Hòa đồng nghĩa với việc phủ nhận việc tuyên bố chủ quyền một cách liên tục của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa
Việt Nam Cộng Hòa là nơi kế nhiệm hợp pháp các danh nghĩa, các quyền và các yêu sách do Pháp để lại cho đảo. Với tư cách là quốc gia sở hữu danh nghĩa, họ đã tiến hành tổ chức hành chính, điều tra và khai thác kinh tế và bảo vệ hữu hiệu hai quần đảo.
Đối với Hoàng Sa, năm 1956, Bộ Kinh Tế của Việt Nam Cộng Hòa đã cấp giấy phép khai thác phân chim trên ba đảo Quang Ảnh, Hữu Nhật và Trường Sa cho ông Lê Văn Cang. Năm 1959, một giấy phép khác lại được cấp công ty phốt phát Việt Nam, công ty này đã tiến hành khai thác cho tới năm 1963. Năm 1973, mối quan tâm khai thác phân chim lại bùng lên dẫn đến tới cuộc nghiên cứu chung của công ty với đối tác Nhật Bản-Marubeni Corporation. Về mặt hành chính, quần đảo Hoàng Sa, trước thuộc địa tỉnh Thừa Thiên, đã được sát nhập vào tỉnh Quảng Nam bằng Nghị định N 174-NV ngày 13 tháng 7 năm 1961. Hải quân Sài Gòn vẫn tuần tiễu thường xuyên tại các vùng biển xung quanh các đảo.
Tháng 2 năm 1959, Bắc Kinh đã cử một nhóm quân giả dạng dân đánh cá xâm chiếm nhóm đảo phía Tây của quần đảo (trên các đảo Hữu Nhật, Duy Mộng và Quang Hòa). Đơn vị hải quân Sài Gòn đồn trú tại chỗ đã hành động ngay lập tức bắt 82 “ngư dân” và 5 “tàu cá” có vũ trang đưa về Đà Nẵng.
Đối với Trường Sa, các lực lượng hải quân Sài Gòn đã đổ bộ lên đảo chính Trường Sa ngày 22 tháng 8 năm 1956. Họ đã cắm cờ Việt Nam Cộng Hòa và dựng một bia chủ quyền trên đảo Trường Sa. Bằng Nghị định 143/VN ngày 20 tháng 10 về tên các tỉnh Nam Việt Nam, Sài Gòn ghép quần đảo vào tỉnh Phước Tuy. Năm 1961, từ ngày 11 đến ngày 16 tháng 6, các hộ tống hạm Vặn Kiếp HQ02 và Vân Đồn HQ06 đã được phái ra thị sát các đảo Song Tử Đông, Thị Tứ, Loai Ta và An Bang tại quần đảo Trường Sa. Các đơn vị hải quân Sài Gòn đã đổ bộ lên các đảo Trường Sa, An Bang, Loai Ta, Thị Tứ, Song Tử Đông và Song Tử Tây, Nam Yết vào năm 1962, 1963 và 1964, và đã dựng bia chủ quyền trên các đảo đó. Ngày 6 tháng 9 năm 1973, bằng Nghị định N 420-BNV/HCDP/26, chính quyền Sài Gòn đã sáp nhập quần đảo Trường Sa vào xã Phước Hải, quận Đất Đỏ, tỉnh Phước Tuy. Sài Gòn đã đối đầu tích cực với chiến dịch quân sự của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa ngày 19 tháng 1 năm 1974 nhằm xâm chiếm nhóm đảo phía Tây của quần đảo Hoàng Sa nằm dưới sự kiểm soát của họ. Quan sát viên thường trực của Sài Gòn bên cạnh Liên Hiệp Quốc đề nghị tiến hành các biện pháp thích hợp nhằm ngăn chặn cuộc tấn công quân sự của Trung Quốc vi phạm chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam đã dược đảm bảo bởi Biên bản cuối cùng của Hội nghị Paris về Việt Nam ngày 2 tháng 3 năm 1973. Tháng 3 năm 1974, tại Hội nghị Ủy ban Kinh tế Viễn Đông tổ chức tại Colombo, đại biểu Sài Gòn đã khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo. Ngay tại hội nghị lần thứ ba của Liên Hợp Quốc về Luật biển, khóa họp hai tổ chức tại Carasas ngày 2 tháng 7 năm 1974, đại biểu Sài Gòn cũng đã tố cáo sự chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa bằng vũ lực của Bắc Kinh và khẳng định lại rằng Hoàng Sa và Trường Sa là “bộ phận hữu cơ của lãnh thổ Việt Nam” và “chủ quyền của Việt Nam trên các quần đảo này là không thể tranh cãi và không thể chuyển nhượng”. Ngày 14 tháng 2 năm 1975, Bộ Ngoại Giao Việt Nam Cộng Hòa công bố “Sách trắng” về các quyền lịch sử và pháp lý của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Và cũng tháng 1 năm 1974, trước sự kiện tại Hoàng Sa, Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa miền Nam Việt Nam cũng đã đưa ra tuyên bố. Ngược lại với Việt Nam Cộng Hòa và Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa miền Nam Việt Nam, chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa không đưa ra bất kì tuyên bố nào và im lặng trước hành động quân sự của Trung Quốc tiến hành trên quần đảo Hoàng Sa vào năm 1974 Ghi chú: Các bạn có thể inbox fanpage Nghiên Cứu Quan Hệ Quốc Tế-IRR nếu muốn tìm kiếm thông tin về chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa theo công pháp quốc tế và lịch sử hoàn toàn miễn phí.
Chủ quyền Hoàng Sa: cần nhìn nhận vai trò của VNCH
một tuần nay, một số tờ báo trong nước đã cho đăng tải các bài viết về sự kiện Trung Quốc đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam vào ngày 19/1/1974, trong đó có một số bài nhấn mạnh đến thái độ “ngang ngược” của Trung Quốc với “mưu đồ bành trướng ra toàn bộ Biển Đông”. Động thái này của truyền thông trong nước có ý nghĩa gì đối với mối quan hệ Việt-Trung, vấn đề vốn được xem là nhạy cảm trong mắt của chính phủ Việt Nam từ trước đến nay?
Phản ánh thẳng thắn, mạnh dạn
Sáng 17/1/2019, tờ Thanh Niên trong nước cho đăng tải bài viết nhan đề 45 năm Trung Quốc cưỡng chiếm Hoàng Sa của Việt Nam: Mưu đồ độc chiếm Biển Đông của tác giả Khánh An được sự ủng hộ của hàng ngàn lượt chia sẻ trên mạng xã hội.
Một số mạng báo khác hôm 18/1/2019 cũng đồng loạt đăng tải các bài viết cùng chủ đề với tựa như Trung Quốc âm mưu thôn tính Hoàng Sa từ Hội nghị Geneva 1954? Trước đó trong tuần, báo Tuổi Trẻ cũng cho phát hành nhiều bài liên quan đến Hoàng Sa như Người Việt Nam vẫn luôn khắc cốt ghi tâm về ngày 19-1, Nghe Tổ quốc gọi tên mình bằng tiếng sóng Hoàng Sa, Trường Sa hay Nhà trưng bày Hoàng Sa là điểm hành hương về lòng yêu nước.
Nhận định về động thái này của truyền thông trong nước, Tiến sĩ Trần Công Trục, nguyên trưởng Ban Biên giới Chính phủ cho biết:
Đây là một hiện tượng đáng ghi nhận và một điều hết sức cần thiết. Sự kiện Hoàng Sa 1974, Gạc Ma 1988, thậm chí việc Trung Quốc gây ra cuộc Chiến Tranh Biên Giới 1979, và Chiến Tranh Biên Giới Tây Nam cũng vào thời điểm đó cần phải được đề cập. Đứng về mặt Lịch Sử phải khách quan. Đúng sai như thế nào? Ai là kẻ xâm lược? Ai đứng lên bảo vệ lãnh thổ của mình thì phải rõ ràng.
Tiến sĩ Trần Công Trục nhấn mạnh đây là một dấu hiệu tốt để đánh giá đúng bản chất các vấn đề, cũng như rút ra bài học của các sự kiện để Việt Nam sẽ có ứng xử tốt cho tương lai, giữ được hòa bình, hợp tác không chỉ ở Biển Đông và ở cả các khu vực khác trên thế giới.
Sự kiện Hoàng Sa 1974, Gạc Ma 1988, thậm chí việc Trung Quốc gây ra cuộc Chiến Tranh Biên Giới 1979, và Chiến Tranh Biên Giới Tây Nam cũng vào thời điểm đó cần phải được đề cập. -TS. Trần Công Trục
Trả lời RFA tối 18/1/2019, nhà báo Võ Văn Tạo, một cựu chiến binh cộng sản, chia sẻ:
Thực ra thì không phải đến năm nay báo chí mới nói đến sự kiện Hoàng Sa mà tôi nhớ năm 2014, báo Thanh Niên cũng đã đề cập tới chuyện này. Trong các tờ báo của Việt Nam phản ánh sự kiện này, tôi thấy báo Thanh Niên tương đối có một lối trình bày thẳng thắn, mạnh dạn mà báo Tuổi Trẻ không bằng được. Mặc dù số lượng phát hành của báo Tuổi Trẻ nhiều hơn báo Thanh Niên, nhưng độ can đảm không bằng trong vấn đề đấu tranh bảo vệ chủ quyền của Việt Nam ở Biển Đông.
Bài viết của tờ Thanh Niên đăng tải hôm 17/1/2019 khẳng định Trung Quốc đã có “hàng loạt hành động phi pháp” kể từ khi “ngang ngược cưỡng chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa” và đưa ra một loạt bằng chứng các hành động tuyên bố chủ quyền, quân sự hóa các đảo nhân và nói thẳng Trung Quốc muốn “tiếp tục bành trướng Biển Đông.”
Trả lời câu hỏi về vai trò của Ban Tuyên Giáo đối với bài viết trên của tờ Thanh Niên, nhà báo Võ Văn Tạo nói:
Về vấn đề báo chí, nhà nước Việt Nam trong chừng mực nào đó cũng có những nới lỏng nhất định. Nhưng lỏng ở chỗ này thì chật ở chỗ khác, nhưng không phải lỏng hoàn toàn đâu. Tôi cho rằng đây chủ yếu là do quan điểm, cách thức làm việc của tờ Thanh Niên.
Bộ Thông tin và Truyền thông Việt Nam tháng 7/2017 công bố cho biết có khoảng 1000 cơ quan báo, tạp chí được cấp phép hoạt động tại Việt Nam với hơn 17 ngàn nhà báo được cấp thẻ hành nghề.
Quyền Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng mới đây vào hôm 11/10/2018 tại Hội nghị Giao Ban Quản Lý Nhà Nước yêu cầu Cục Báo chí cần nắm chắc cơ sở dữ liệu cụ thể về số lượng phóng viên, cộng tác viên để “đo lường tin tốt, tin xấu.” Báo trong nước trích lời ông Hùng cho rằng “nếu tỷ lệ thông tin tiêu cực dưới 10% tổng số tin thì không cần bận tâm, 20% thì cảnh báo, 30% thì phải bắt đầu hành động.”
Vì sao?
Mối quan hệ Việt – Trung, trong đó vấn đề chủ quyền Biển Đông từ trước đến nay vốn là một trong những đề tài nhạy cảm đối với chính phủ Hà Nội.
Một cuộc biểu tình phản đối Trung Quốc cưỡng chiếm Hoàng Sa ngày 19/1/1974 được tổ chức tại Hà Nội vào năm 2017. AFP
Tình trạng người dân xuống đường biểu tình phản đối Trung Quốc vì tranh chấp các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa diễn ra từ nhiều năm trước thường xuyên bị đàn áp và bỏ tù. Năm 2007, cô Phạm Thanh Nghiên bị bắt và tuyên 4 năm tù vì ngồi tọa kháng tại nhà với biểu ngữ “Trường Sa, Hoàng Sa, Việt Nam.” Năm 2014, hàng nghìn công nhân ở Bình Dương xuống đường phản đối Trung Quốc đặt giàn khoan trái phép HD 981 trên cùng biển Việt Nam đã trở thành bạo loạn khiến 28 người bị khởi tố và 6 người bị án tù.
Việt Nam và Trung Quốc hiện nay vẫn đang có tranh chấp ở khu vực Hoàng Sa và Trường Sa ở Biển Đông. Quần đảo Hoàng Sa do Việt Nam Cộng Hòa cai quản đã bị Trung Quốc bắt đầu cưỡng chiếm từ những năm 1950 và chiếm toàn bộ vào ngày 19/1/1974. Hải quân Trung Quốc vào ngày 14/3/1988 cũng đã tấn công đảo Gạc Ma của Việt Nam ở Trường Sa giết chết 64 thủy thủ và chiếm đóng từ đó đến nay.
Tuy nhiên, các trận hải chiến nói trên giữa hai phía chỉ đến trong các năm gần đây mới được truyền thông trong nước chính thức mổ sẻ.
Lẽ ra cũng phải nói đúng vai trò của quân lực Việt Nam Cộng Hòa, cũng như chính phủ VNCH trong nỗ lực giữ gìn giang sơn của cha ông để lại. -Nhà báo Võ Văn Tạo
Nhà báo Võ Văn Tạo phân tích nguyên nhân:
Quan hệ Hà Nội – Bắc Kinh phụ thuộc vào hành xử của hai bên, nhất là sau khi sự kiện dàn khoan HD 981 vào tháng 5/2014 đã đẩy mâu thuẫn của hai nước lên mức mới. Ban lãnh đạo Ba Đình ở Hà Nội cũng nhìn nhận ông bạn láng giềng với bộ mặt hung hăng, dữ tợn hơn so với trước đây.
Sau Hội Nghị Thành Đô giữa Việt Nam và Trung Quốc ký kết vào tháng 9/1990, hai nước đã bình thường hóa quan hệ trên cùng cơ sở nền tảng chính trị Xã Hội Chủ Nghĩa. Giới quan sát chính trị Việt Nam cho rằng kể từ đó, quan chức Hà Nội có đôi lúc phải nhún nhường trước các hành động lấn lướt của Trung Quốc.
Tuy nhiên, nhà báo Võ Văn Tạo cho rằng năm 2014 đánh dấu sự tỉnh ngộ của các lãnh đạo cao cấp của đảng và nhà nước Việt Nam:
Ở cương vị đó, những lãnh đạo cán bộ cao cấp của Việt Nam mà không lên tiếng có thái độ dứt khoát với Trung Quốc thì chính họ cũng đánh mất tính chính danh đối với các cán bộ đảng viên trong bộ máy của họ, cũng như đối với quần chúng nhân dân. Điều đó có thể cũng là nguyên nhân khiến chế độ của họ không tồn tại được lâu dài.
Vai trò của Việt Nam Cộng Hòa
Thực tế cho thấy các bài viết về sự kiện Hoàng Sa 1974 của báo chí trong nước hiện nay vẫn chưa đề cập đến vai trò của chính phủ và các chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa, như lời của nhà báo Võ Văn Tạo:
Nếu tìm hiểu kỹ về trận đánh chớp nhoáng ngày 19/1/1974 thì thấy rằng ý chí của Việt Nam Cộng Hòa cũng đẩy lên rất cao để bảo vệ lãnh thổ; nhưng vì tương quan lực lượng quá chênh lệch cho nên việc giữ được Hoàng Sa là bất khả thi, thất bại. Cuối cùng dẫn đến mất cả quần đảo Hoàng Sa về tay Trung Quốc là rất đáng tiếc. Lẽ ra cũng phải nói đúng vai trò của quân lực Việt Nam Cộng Hòa, cũng như chính phủ VNCH trong nỗ lực giữ gìn giang sơn của cha ông để lại. Tôi cho rằng hệ thống tuyên truyền của nhà nước Việt Nam hiện nay làm chưa tốt vấn đề này.
Đồng quan điểm với nhà báo Võ Văn Tạo, Tiến sĩ Trần Công Trục chia sẻ quan điểm:
Tôi nghĩ tất cả những động thái đấu tranh trên phương diện ngoại giao, đấu tranh trên phương diện quân sự, và những người lính Việt Nam Cộng Hòa ra đó để chiến đấu bảo vệ đất nước dù tương quan lực lượng và những khó khăn như chúng ta đã biết đều có ý nghĩa về mặt pháp lý. Và giá trị về mặt pháp lý nghĩa là họ đã đại diện cho nhà nước Việt Nam trong việc quản lý chủ quyền thiêng liêng của nước Việt Nam nói chung đối với mảnh đất Trường Sa và Hoàng Sa.
Nói với RFA, nhà báo Võ Văn Tạo bày tỏ sự nuối tiếc và cho rằng tính “kiêu ngạo cộng sản” đến tận giờ vẫn còn ẩn vào trong đầu của nhiều người trong hệ thống tuyên truyền Việt Nam.
Khả năng đòi lại Hoàng Sa và Trường Sa trên phương diện pháp lý
Ngày 19 tháng 1, 2019 vừa qua, mùa tưởng niệm trận chiến anh dũng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa bảo vệ Hoàng Sa bắt đầu. Báo chí hải ngoại loan tin như: “Một số tờ báo lớn như Thanh Niên, Tuổi Trẻ, Sài Gòn Giải Phóng lần đầu tiên sau 45 năm đã dùng từ “cưỡng chiếm” đối với Trung Quốc khi nhắc đến trận hải chiến Hoàng Sa vào ngày 19 Tháng Giêng, 1974. (Người Việt)”
Tiếp theo đó, nhiều thức giả bình luận về lý do tại sao CSVN lại thay đổi chính sách kiểm duyệt đề tài nhạy cảm này.
Tuy nhiên có một điều chúng ta có thể khẳng định là, lịch sử đương đại cho thấy, nhiều đảng CS trên thế giới vẫn có khả năng tiếp tục tồn tại, sau khi chế độ CS toàn trị cáo chung, như tại Nga Sô và một số quốc gia Đông Âu, dưới tên nguyên thủy hoặc dưới một tên mới.
Xác xuất rất cao là ngay cả sau khi tiến trình dân chủ hóa hoàn tất tại Trung Quốc, Bắc Triều Tiên, Cuba thì các đảng CS liên hệ vẫn có khả năng sinh tồn như một chính đảng trong lịch sử, kể cả một đảng tàn ác như CS Bắc Triều Tiên.
Chỉ duy nhất đảng CSVN sẽ không thể tồn tại. Lý do đơn giản là vì trừ đảng CSVN, không có đảng CS nào công khai và hèn hạ bán nước để sinh tồn cả.
Đây cũng là nỗi kinh hoàng của Bộ Chính Trị và cũng là lý do tại sao đảng CSVN thà chết chứ không bao giờ gia nhập tiến trình dân chủ hóa đất nước.
Trong những vùng đất và lãnh hải đảng CSVN bán cho CSTQ thì Hoàng Sa và Trường Sa (Gạc Ma) là hiển nhiên nhất.
Hậu quả hành động bán nước của đảng CSVN di họa thật lâu dài cho toàn dân tộc. Câu hỏi trên vành môi của mọi công dân Việt Nam là gì?
Đó là chừng nào chúng ta mới lấy lại được những vùng đất và lãnh hải bị bán đứng cho CSTQ?
Câu trả lời thứ nhất là nếu chúng ta hùng mạnh hơn TQ cả về kinh tế lẫn quân sự thì chúng ta sẽ lấy lại bằng sức mạnh.
Xác xuất này quá thấp và sẽ không xảy ra.
Thế thì trên phương diện pháp lý, có xác xuất cao hơn hay không?
Câu trả lời sẽ phức tạp và tôi xin cố gắng như sau.
II. Trên phưong diện pháp lý:
Mặc dầu hệ thống luật pháp, nhất là nền luật pháp của Tây Phương, kể cả Công Pháp Quốc Tế, rất phức tạp. Tuy nhiên nếu nhìn kỹ thì cũng chỉ có 6 yếu tố quan trọng nhất liên hệ, khi giải quyết một sự tranh chấp giữa người và người hoặc quốc gia này và quốc gia kia:
1. Con người làm trọng tài hoặc quan tòa (mediator, arbitrator or judge)
2. Những định chế pháp lý (Legal institutions)
3. Những nguyên tắc pháp lý (legal principles)
4. Những sự kiện liên hệ (relevant facts)
5. Phong thái của mỗi bên (the conduct of each party)
6. Sức mạnh (kể cả tài chánh lẫn vũ lực) của mổi bên (relative strength of the parties)
Trong cuộc tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc, khả năng đòi lại HoàngSa và Trường Sa phần lớn lệ thuộc vào các yếu tố trên.
1. Một người hoặc nhiều người làm trọng tài hoặc quan tòa:
Những con người này trước hết, theo luật pháp Tây Phương, đều được quan niệm là những con “người biết phải chăng” (reasonable persons) Quan điểm thế nào là “a reasonable person” là căn bản của luật pháp tây phương. Ðịnh nghĩa của quan điểm này như sau:
“Một người biết phải chăng là một người có thể hành xử khả năng chú tâm, hiểu biết, thông minh và phán xét mà xã hội đòi hỏi nơi một thành viên của mình để từ đó bảo vệ cho quyền lợi của chính mình cũng như của tha nhân trong xã hội.”(Trích WikiAnswers)
Muốn dung hòa quyền lợi của mình và của tha nhân, để giữ quân bình trong xã hội, một reasonable person không bao giờ cứng nhắc và quá chấp nguyên tắc.
2. Những định chế có thể giúp giải quyết sự tranh chấp gồm có:
Theo nhiều bình luận gia quốc tế, sự tranh chấp giữa các quốc gia trong “South China Sea” có thể được giải quyết qua các phương thức sau đây:
a. Mời một nhóm người có uy tín quốc tế (Imminent persons group) để giúp các bên hòa giải.
b. Mời một đệ tam nhân được cả hai bên tôn trọng và đồng thuận đứng ra làm trọng tài hòa giải (Third Party mediation).
c. Ðưa ra Tòa Án Công Lý Quốc Tế để xử (The International Court of Justice).
d. Ðưa ra Tổ ChứcLòng Ðại Dương Quốc Tế để thương thảo và giải quyết (The International Seabed Authority).
e. Đưa ra Tòa Trọng Tài Thường Trực (Permanent Court of Arbitration) tại The Hague.
Thực ra, các bình luận gia nêu trên chỉ nói một cách vô thưởng vô phạt. Thực tế thì phương thức pháp lý nào nêu trên (trừ các Tòa Án Quốc Tế) cũng bất lợi cho chúng ta cả. Lý do là vì HS &TS là của chúng ta. Bây giờ có kẻ cướp vào đoạt lấy rồi lại đưa ra thương thuyết ngang hàng với chúng ta, làm sao gọi là công bằng cho được?
Tuy nhiên ngay cả Tòa Án Công Lý Quốc Tế cũng chưa chắc đã thuận lợi cho chúng ta vì phong thái hành xử vô cùng phi lý của đảng CSVN như sẽ chứng minh sau.
Trên bình diện chính trị thì vấn đề này phải được chính phủ Việt Nam nêu ra trong Hội Ðồng Bảo An LHQ và trong Ðại Hội Ðồng LHQ. Tuy nhiên, CSVN không muốn làm phiền lòng quan thầy TQ. Ðồng thời TQ lại là Ủy Viên thường trực của Hội Đồng Bảo An LHQ với quyền phủ quyết tuyệt đối. Thế của Việt Nam không thể nào bằng thế của TQ.
3. Những nguyên tắc pháp lý:
Các nguyên tắc pháp lý được cô đọng trong Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982 (The United Nations Convention on Law of the Sea). Bao gồm các nguyên tắc sau đây:
Nội thủy (internal waters): vùng biển nằm bên trong lằng thủy triều xuống thấp nhất thuộc chủ quyền tuyệt đối của quốc gia ven biển.
Lãnh hải (Territorial waters): vùng biển chạy ra 12 hải lý. Các quốc gia ven biển có chủ quyền. Tuy nhiên tàu bè quốc tế được quyền đi qua (right of innocent passage)
Vùng kinh tế đặc quyền (Exclusive economic zone): ra 200 hải lý tính từ lằng thủy triều xuống thấp nhất. Các quốc gia ven biển có quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên như đánh cá, dầu hỏa, khoáng sản v.v…
Thềm lục địa (continental shelf): Ðược định nghĩa như vùng biển 200 hải lý tính từ lằng thủy triều xuống thấp nhất, hoặc sự nối tiếp tự nhiên của thềm lục địa (nằm dưới biển) kéo dài cho đến bìa bên ngoài của thềm lục địa, cái nào dài nhất (whichever is greater), tuy nhiên không thể đi xa hơn 350 hải lý hoặc 100 hải lý ngoài 2,500 thước isobath. Các quốc gia ven biển có đặc quyền khai thác khoán sản (minerals & non-living material) từ tầng dưới (sub-soil) của thềm lục địa (continental shelf).
Phi Luật Tân đã chiến thắng vẻ vang CSTQ vào ngày 12 tháng 7, 2016 tại Tòa Trọng Tài Thường Trực, một phần lớn căn cứ trên công ước này và tính ngụy biện của chủ thuyết Đường Lưỡi Bò của TQ tại Biển Đông bị hoàn toàn hủy diệt trên pháp lý.
4. Những sự kiện liên hệ (relevant facts):
a. Ðịa dư & địa lý:
* Biển Nam Hải (the South Sea) còn gọi là biển Nam Trung Quốc (The South China Sea)
* Hoàng Sa cách Trung Quốc khoảng 270 hải lý, cách Việt Nam 155 hải lý.
* Trường Sa cách Trung Quốc khoảng 750 hải lý, cách Việt Nam 220 hải lý.
b. Lịch sử:
Từ 1816 thời Gia Long, nước Việt Nam đã có hải đội Hoàng Sa và Trường Sa.
Khi người Pháp xâm chiếm Việt Nam vào năm 1884 cũng đã xác nhận chủ quyền của Pháp qua chủ quyền Việt Nam (bia chủ quyền dựng năm 1938).
5. Phong thái của mỗi bên (conduct of each party)
Sau đây là phong thái và hành xử của các phe nhóm Việt Nam và TQ liên hệ:
a. Văn thư ngày 14 tháng 9 năm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Ðồng Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (Bắc Việt) gởi cho Thủ Tướng Chu Ân Lai thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc trên Hoàng Sa và Trường Sa.
b. Quốc Hội Việt Nam Cộng Hòa (Nam Việt) trong các năm 1956-66 đã xát quyết chủ quyền của Việt Nam. Ghi chú Hoàng Sa và Trường Sa được Pháp nhượng lại cho VNCH sau hiêp định Geneve 1954, không phải nhường cho Bắc Việt.
c. 1945 Trung Hoa xâm chiếm một số đảo thuộc HoàngSa.
d. 1958 CSVN công nhận chủ quyền Trung Quốc tại 2 quần đảo.
e. 1974 Hải Quân Trung Quốc đánh chiến toàn bộ Hoàng Sa bằng vũ lực. Hải quân Việt Nam Cộng Hòa anh dũng chiến đấu. CSVN lặng thinh chấp nhận sự chiếm đóng của TQ. Chính Phủ VNCH đã mạnh mẽ chính thức phản đối trước Liên Hiệp Quốc. Tuy nhiên lúc đó VNCH chỉ là quan sát viên, chưa phải là thành viên của LHQ nên không có hiệu quả. Ngày hôm nay, CSVN là ủy viên không thường trực của Hội Ðồng Bảo An LHQ. Ðến nay chưa thấy CSVN xử dụng tư cách này để bảo vệ HoàngSa và Trường Sa.
f. 1992 TQ chiếm bãi dầu khí Vạn An của Trường Sa, CSVN im lặng.
g. 2000 Trong hiệp Ước Vịnh Bắc Việt, CSVN nhượng Trung Quốc khỏang 21,000 cây số vuông lãnh hải.
h. 2/12/07 TQ thanh lập thanh phố Tam Sa thuộc tỉnh Hải Nam để chính thức quản trị Hoàng Sa và Trường Sa như là lãnh thổ của TQ.
i. Tháng 12, 2007, thanh niên Việt Nam rầm rộ biểu tình trong nước. Ðồng bào hải ngoại phản đối mạnh mẽ. CSVN im lặng chấp nhận và ngăn chận thanh niên và đồng bào phản kháng vì sợ mất lòng TQ.
6. Sức mạnh của mỗi bên (relative strength of the parties):
Trung quốc đang trên đà phát triển và xây dựng bá quyền. Việt Nam là một nước nhỏ hơn và uy thế trên trường quốc tế thua xa Trung Quốc.
Một sự thật phũ phàng là ngay cả trên bình diện công pháp quốc tế, kẻ có sức mạnh có nhiều quyền quyết định và ảnh hưởng hơn kẻ yếu. Câu nói trong thơ ngụ ngôn của Lafontaine: “la raison du plus fort est toujours la meilleure” (Cái lý của kẻ mạnh luôn luôn thắng) rất đáng lưu ý.
III. Kết Luận - Khả năng lấy lại:
Mặc dầu những nguyên tắc pháp lý và những sự kiện liên hệ đem lại cho chúng ta nhiều lợi điểm, tuy nhiên chúng ta vô cùng bất lợi vì những điểm sau đây:
1. Những người phân xử dù là những con người biết phải chăng, họ cũng chỉ là những con người bằng xương bằng thịt. Họ phải dung hòa quyền lợi và thậm chí còn phải nương theo kẻ mạnh để phân xử. Thêm vào đó, mặc dù những từ ngữ như South China Sea không có nghĩa là “cả vùng biển đó là của Trung Quốc”. Cũng như Japan Sea không có nghĩa là của Nhật Bổn, hoặc English Channel không có nghĩa là của Anh Quốc. Tuy nhiên dùng danh từ như thế có ảnh hưởng tâm lý trên con người.
2. Sự bất hạnh của dân tộc ta là CSVN từ thủa xa xưa đã quá sùng bái CSTQ như là một bật thầy, đã vay nợ TQ quá nhiều và bây giờ đang nương tựa TQ để bám víu độc quyền chính trị. Trong quá khứ họ đã nhân nhượng, và những chỉ dẫn bây giờ cho thấy họ chấp nhận mất chủ quyền trên lãnh thổ tổ tiên miễn là giữ được độc quyền chính trị.
Phong thái như thế của CSVN sẽ đem lại nhiều bất lợi pháp lý cho dân tộc, khi hai bên tranh tụng.
3. Có thể nói rằng những phản ứng của CSVN, trên phương diện pháp lý, đã đặt tổ quốc Việt Nam vào vị trí nhục nhã tương tự với một phụ nữ bị cưỡng dâm, mà không bày tỏ sự kháng cự nào. Trong trường hợp của CSVN vào thời Phạm Văn Ðồng (1958) còn bày tỏ sự đồng thuận nữa. Qua các hiệp ước sau đó về lãnh thổ và lãnh hải, lại nhường thêm đất đai và vùng biển, cũng như hợp tác thêm trên các vùng biển TQ chiếm được của dân tộc Việt Nam. Có khác nào một phụ nữ đã bị hiếp dâm, không phản kháng rồi sau đó lại hợp tác sống chung với kẻ đã cưỡng bức mình. Một nạn nhân như thế làm sao có thể yêu cầu tòa án, gồm những người “biết phải chăng” như trên, can thiệp để trả lại công lý và danh dự cho mình được?
Ðất nước và dân tộc Việt Nam tuyệt đối không có trách nhiệm trả lại món nợ lớn lao CSVN vay mượn từ CSTQ, nhất là bằng danh dự và sự vẹn toàn lãnh thổ của tổ quốc Việt Nam. Nếu có phải trả thì CSVN phải tự mình trả lấy.
Dĩ nhiên hàng ngũ lãnh đạo hiện nay trong đảng rất am tường một chân lý bất di bất dịch của lịch sử. Ðó là một tập đoàn cắt đất, cắt biển để đem dâng cho ngoại bang sẽ không còn chỗ đứng tương lai trong lòng dân tộc. Tuy nhiên các lãnh tụ này sẵn sàn hủy diệt tương lai của các thế hệ trẻ của chính đảng CSVN, miễn là trong thời gian ngắn hạn trước mắt, họ có thể bám víu quyền lực và đục khoét quyền lợi cho cá nhân mà thôi. Tương lai của đảng không phải là ưu tiên của họ.
Thêm vào đó TQ có đủ sức mạnh quân sự để uy hiếp và đủ sức mạnh tài chính để mua chuộc cả đồng minh lẫn đối thủ. Chính vì thế khả năng lấy lại của dân tộc Việt Nam rất cam go. TQ có dư tiền mua nguyên cả Bộ Chính Trị hoặc Trung Ương Ðảng Bộ CSVN dễ dàng.
Việt Nam cần phải lập tức tách rời TQ, xích lại gần với Hoa Kỳ và các nước Tây Phương. Xây dựng lại quân đội (nhất là Hải Quân và Không Quân) trang bị bằng vũ khí hiện đại nhất của Hoa Kỳ vì vũ khí của Hoa Kỳ phẩm chất cao hơn của Nga Sô hoặc Trung Quốc), xây dựng một chủ thuyết quân sự mới với mục tiêu rõ rệt là chống lại ngoại thù phương Bắc. Vì có biên giới chung với kẻ thù nguy hiểm như thế, chúng ta phải suy nghĩ đến sự kiện Việt Nam sở hữu hàng không mẫu hạm và võ khí nguyên tử. Chỉ có một nước Việt Nam hùng mạnh về kinh tế, uy lực về quân sự và có nhiều đồng minh tây phương như thế, TQ mới không còn ý định xâm lấn bờ cõi Việt Nam.
- Đây nguyên thủy là Bài thuyết trình cuả LS Đào Tăng Dực trong buổi Hội luận Paltalk ngày 22 tháng 12 năm 2007 tại diễn đàn “MatTruongSaHoangSaPhaiLamGi”
Phong trào khôi phục chế độ Việt Nam Cộng hòa là một phong trào có tổ chức của nhiều người Việt tại hải ngoại và một bộ phận người Việt tại quốc nội có lý tưởng vì một Việt Nam không theo chế độ cộng sản, hay còn gọi là Phục Quốc. Phong trào đã manh nha xuất hiện từ những năm 2000 và phát triển mạnh đầu những năm 2010. Phong trào khôi phục chế độ Việt Nam Cộng hòa chính thức được ra mắt vào năm 2012 và hoạt động thường xuyên từ năm 2015 đến nay.
Hoàn cảnh ra đời
Chính thể quốc gia Việt Nam Cộng hòa chính thức bị sụp đổ vào ngày 30 tháng 4 năm 1975 và đã bị kiểm soát hoàn toàn bởi miền Bắc. Tuy nhiên trong Hiệp định Paris 1973 có Điều 7B được xem là rất quan trọng đối với phong trào này, Điều 7B nói rõ trong thời gian lập lại hòa bình, quân đội của cả hai bên là Việt Nam Cộng hòa và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có sự hỗ trợ của Cộng hòa Miền Nam Việt Nam không được đưa quân xâm chiếm lãnh thổ của bên kia, tuy nhiên Quân đội nhân dân Việt Nam của Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa đã bị những người bên phía Quốc gia Việt Nam Cộng hòa cho là đã vi phạm hiệp định và đưa quân xâm chiếm Việt Nam Cộng hòa dẫn đến sự cáo chung của chế độ này. Sau hàng chục năm, những người Việt Nam sống ở chế độ Việt Nam Cộng hòa ngày xưa gồm có những nhân vật chủ chốt là giáo sư Nguyễn Ngọc Bích và nhạc sĩ Hồ Văn Sinh cùng nhiều nhân vật chủ chốt khác đã chính thức khởi động phong trào mang tên "Việt Nam Cộng hòa foundation".
Phong trào vận động khôi phục chế độ Việt Nam Cộng hòa chính thức được tổ chức một cách chính thức lần đầu tiên vào ngày 22 tháng 11 năm 2015, phong trào nhận được sự ủng hộ của nhiều người Việt.[2]
Từ khi thực hiện ngừng bắn cho đến ngày thành lập chính phủ quy định trong Điều 9(b) và Điều 14 của Hiệp định này, hai miền Nam Việt Nam không được nhận đưa vào miền Nam Việt Nam quân đội, cố vấn quân sự và nhân viên quân sự, kể cả nhân viên quân sự kỹ thuật, vũ khí, đạn dược và dụng cụ chiến tranh.
Hai bên miền Nam được phép từng thời gian thay thế vũ khí, đạn dược, dụng cụ chiến tranh đã bị phá huỷ, hư hỏng, hao mòn hoặc dùng hết từ sau khi ngừng bắn, trên cơ sở một đổi một, cùng đặc điểm và tính năng, có sự kiểm soát của Ban liên hợp quân sự hai bên miền Nam Việt Nam và của Ủy ban quốc tế kiểm soát và giám sát.
Phong trào đã đưa ra những nội dung thể hiện quan điểm của họ:
1-Không những có thể giải quyết những tranh chấp xung đột căng thẳng hiện nay tại Biển Đông mà Việt Nam Cộng Hòa còn có thể thu hồi lại Hoàng Sa và Trường Sa do Trung Quốc chiếm đóng.
2-Không những Việt Nam Cộng Hòa có thể thu hồi lại Hoàng Sa, Trường Sa mà VNCH còn có thể thu hồi lại lãnh thổ của VNCH cũng đã và đang bị Việt Cộng xâm lăng cưỡng chiếm bất chấp công pháp quốc tế trong thời điểm 30-4-1975.
3-Chúng ta không cần phải phát động chiến tranh, hy sinh xương máu. Không cần phải tổ chức cách mạng để lật đổ bạo quyền Việt Cộng, VNCH sẽ trở lại bằng Công Pháp Quốc tế. Đó là kết quả của một cuộc Hội nghị Quốc tế về Việt Nam do Liên Hiệp Quốc triệu tập để xét lại các điều khoản đã thi hành trong Hiệp Định Paris ngày 27 tháng 1 năm 1973 cũng như xét lại bản Định Ước Quốc tế về Việt Nam mà 12 nước thành viên đã ký kết và cam kết ngày 3 tháng 2 năm 1973 dưới sự chứng kiến của ông Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc.[note 1]
Chính phủ Việt Nam hiện hành có quan điểm chính trị không chấp nhận chế độ này:
Về cơ sở pháp lý
Sự thật của lịch sử đã ghi nhận: Chiều ngày 30-08-1945, tại cửa Ngọ Môn kinh thành Huế, Bảo Đại đã mặc triều phục, long trọng đọc chiếu thoái vị trao chính quyền cho chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.[7]
Có thể nói, ngay từ đầu,chính thể quốc gia“Việt Nam Cộng hòa”này vốn đã không hề có một chút cơ sở pháp lý vững vàng nào. Mãi tới tận năm 1955 nó mới ra đời và ra đời một cách bất hợp pháp trên nửa lãnh thổ phía nam của Việt Nam như một “sáng tạo” thuần túy của người Mỹ nhằm theo đuổi các mục tiêu phản ánh lợi ích riêng của họ. Trong khi đó Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập một cách chính danh trên toàn lãnh thổ Việt Nam vào năm 1945 sau cuộc Cách mạng tháng Tám của muôn triệu con dân đất Việt trước khi bất kỳ một lực lượng quân Đồng minh nào vào giải giáp quân Nhật.[8]
"...họ cũng như tôi cũng mong muốn sẽ có một chiến thắng cuối cùng để mà mình thống nhất được xứ sở chứ, bởi vì đó là nhiệm vụ lịch sử của mỗi người con dân Việt kia mà. Nhưng mà bây giờ tôi và họ đã không làm được việc đó, những người anh em ở phía bên kia đã làm được thì mình phải chấp nhận đó là lịch sử, và đất nước đã được thống nhất rồi. Thế giờ còn ngoái cổ lại nói phục quốc phục quốc, đất Việt Nam có mất cho Tây cho Tàu đâu mà nói là phục quốc..."[9]
Mặc dù Bảo Đại đã thoái vị ngôi vua nhà Nguyễn vào ngày 30-8-1945 để rồi trao chính phủ cho Mặt trận Việt Minh và chấp nhận làm cố vấn cho Hồ Chí Minh, tuy nhiên không được bao lâu thì vua Bảo Đại ngừng hợp tác với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và nhờ sự giúp đỡ của Pháp để đi thành lập Chính phủ Quốc gia Việt Nam do ông đứng đầu vì ông cảm thấy Hồ Chí Minh và chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đang lại ngày càng có ý định củng cố quyền lực của Đảng Cộng sản Việt Nam, tuy nhiên sau đó ít lâu việc tham chính của vua Bảo Đại thất bại trước sự cạnh tranh gay gắt của chính quyền mà Ngô Đình Diệm lập ra.
Chính phủ Quốc gia Việt Nam của Bảo Đại (tiền thân của Việt Nam Cộng hòa về sau) tuy được thành lập vào năm 1949 nhưng chỉ 1 năm sau đó (1950) thì Chính phủ Quốc gia Việt Nam đã được 35 quốc gia độc lập có chủ quyền trên thế giới công nhận, Hoa Kỳ trước đó đã kí riêng hiệp định thương mại với Chính phủ Quốc gia Việt Nam của vua Bảo Đại, còn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa của Hồ Chí Minh được thành lập năm 1945 nhưng phải tới 5 năm sau (1950) chỉ mới được 2 quốc gia độc lập trên thế giới công nhận đó là đất nước Liên Xô và đất nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.[
Trung cộng gia tăng ảnh hưởng ở Liên Hiệp Quốc
Vũ Ngọc Yên (Danlambao) - ...Việc Trung cộng có ảnh hưởng ở các tổ chức quốc tế không phải là chuyện tình cờ. Các chính trị gia Mỹ và Âu châu từng quan sát cách can dự chiến lược của Trung cộng. Họ đều có quan điểm là giao trách nhiệm cho Trung cộng để ràng buộc Trung cộng vào những chương trình đối tác rộng lớn mà không cần phân biệt thể chế. Họ xem nguyên tắc tiếp cận này là khôn ngoan. Ngoài ra nhiều người còn tin tưởng những tiến bộ kinh tế sẽ thúc đẩy tiến trình dân chủ hoá tại Trung cộng. Nhưng thực tế đã phản ảnh hoàn toàn khác. Chế độ cộng sản dưới sự lãnh đạo của chủ tịch cộng đảng Tập Cận Bình lại còn mạnh bạo, độc đoán ngày càng nhiều. Trên phương diện quốc tế, Tập có tham vọng mở rộng ảnh hưởng chính trị...
*
Liên Hiệp Quốc (United Nations - UN) với trụ sở tại New York - Mỹ là một tổ chức liên chính phủ gổm 193 quốc gia thành viên có nhiệm vụ duy trì hòa bình và an ninh quốc tế, phát triển quan hệ hữu nghị giữa các quốc gia. LHQ được thành lập và hoạt động trên cơ sở điều ước quốc tế (Hiến chương Liên hợp quốc) ký ngày 26/6/1945 tại thành phố San Francisco.
LHQ có các cơ quan chính gồm: Đại hội đồng, Hội đồng Bảo An, Hội đồng kinh tế và xã hội, Ban thư ký, Tòa án Quốc tế vì Công lý. Các tổ chức đặc biệt thuộc hệ thống LHQ như Ngân hàng Thế giới WB, Tổ chức Y tế Thế giới WHO, Lương nông Thế giới FAO, Văn hóa UNESCO và Nhi đồng UNICEF. Ông A. Guterres, nguyên thủ tướng Bồ Đào Nha và nguyên chủ tịch Quốc tế Xã hội được Đại hội đồng bầu làm Tổng Thư ký, vị trí cao nhất của LHQ từ năm 2017.
Hậu quả của đại dịch Corona Vũ Hán
Theo số liệu của WorldOmeters tính đến ngày 21.4, tổng số ca nhiễm Covid-19 do virus corona chủng mới (SARS-CoV-2) gây ra trên toàn cầu lên tới 2.499.011 người nhiễm và 171.335 người tử vong. Hiện có 210 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới bị ảnh hưởng bởi virus SARS-CoV-2. Mỹ là quốc gia có nhiều ca nhiễm nhất với 792.938 và 42.518 tử vong, chiếm hơn 31% trong tổng số gần 2,5 triệu ca nhiễm trên toàn cầu tính đến thời điểm này.
Trong khoảng 30 năm trở lại đây, kinh tế thế giới đã trải qua 3 chu kỳ khủng hoảng, suy thoái (năm 1987, 1997, 2008) và năm 2020 được dự báo khởi đầu cho một cuộc khủng hoảng kinh tế mới vì đại dịch Covid-19 bùng phát ở thành phố Vũ Hán, Trung Quốc và lây lan nhanh chóng ở châu Âu, Mỹ và châu Á... từ giữa tháng 3-2020. So với cuộc khủng hoảng tài chính 2008-2009 thì lần này thế giới khó khăn hơn nhiều.
Đại dịch Covid-19 đang trở thành một “thảm họa toàn cầu”, tác động rất nghiêm trọng đến nền kinh tế thế giới. Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc, Tổng Giám đốc Quỹ Tiền tệ thế giới (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB) và các Ngân hàng đầu tư, thương mại quốc tế lớn đều cảnh báo thế giới khó tránh khỏi một cuộc suy thoái toàn cầu. Tổ chức thẩm định tín nhiệm tín dụng Fitch gần đây dự báo trong năm 2020, tăng trưởng GDP toàn cầu âm 1,9%, Mỹ âm 3,3%, EU âm 4,2%, Trung Quốc chỉ tăng trưởng hơn 1,5%... IMF thì dự báo một loạt các quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế âm trong năm 2020 như Đức (-3,4%), Pháp (-3,9%), Anh (- 3,1%)..
Một mạng lưới quyền lực
Trong cuộc chiến chống dịch, Tổ chức Y tế Quốc tế (WHO) bị chỉ trích đã thiên vị Trung cộng. Không riêng WHO còn nhiều tổ chức khác của LHQ cũng đã bị Trung cộng thao túng một cách có hệ thống từ chục năm qua.
Bài học rút ra từ cuộc khủng hoảng Corona cho thấy mức độ hiểm nguy cho thế giới một khi Trung cộng chiếm ưu thế trong các tổ chức quốc tế như trong trường hợp WHO.
Có nhiều bằng chứng đại dịch Corona sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế thế giới và cần phải ngăn chận. Nhưng tổ chức WHO lại quá xem trọng việc giữ thể diện cho Trung cộng thay vì tìm hiểu kỹ lưỡng để đề ra chương trình y tế hướng dẫn để bảo vệ vệ sức khoẻ cho cộng đồng thế giới. WHO đã khen Trung cộng trong các biện pháp chống dịch rất cực đoan, như phong tỏa toàn bộ thành phố, cô lập xã hội, giám sát mọi sinh hoạt, bưng bít thông tin và đến nay WHO cũng chưa lên tiếng chỉ trích cách xử lý thô bạo của lãnh đạo Trung cộng đối với người dân. Ngay đầu năm 2020 khi Đại dịch đang bùng phát, nhà chức trách Trung quốc đã bằng mọi cách ngăn chặn phân tán ra công luận các công trình nghiên cứu phân tích và kiểm duyệt mọi báo cáo về vi khuẩn SARS mới.
Ngày 31.12.2019 WHO đã được cảnh báo loại vi khuẩn mới này có nhiều dấu hiệu nguy hiểm tương tự như vi khuẩn SARS. Công việc của WHO là điều tra và phát hiện nhưng tiếc rằng WHO chỉ lập lại những tuyên bố chưa có bằng chứng cụ thể là Virus sẽ truyền từ người qua người. Trong vụ dịch SARS 2003, Trung cộng đã từng bị chỉ trích. Nhưng vào ngày 9.11.2006. Bà Margaret Chan lại được bầu làm tân Tổng giám đốc WHO. Cựu tổng thống Cộng hoà George W. Bush và nhiều lãnh đạo Âu châu đã chấp thuận sự thay đổi nhân sự này ở WHO. Sau nhiệm kỳ đầu 5 năm, Chan được tái tín nhiệm và chẳng có ai, kể cả Tổng Thống Mỹ Obama lên tiếng phản đối.
Trong thời gian 10 năm tại chức, Chan đã thu nhận nhiều viên chức có thiện cảm với Trung cộng vào làm việc cho đến lúc Trung cộng tìm được Tedros Adhanom, người Ethiopia kế vị. Ông này tiếp tục duy trì liên hệ tốt với Trung cộng và có lần ngợi khen sáng kiến Trung Cộng muốn xây dựng một "Con đường tơ lụa y tế".
Tổ chức WHO chỉ là một trong nhiều tổ chức quốc tế nằm dưới sự chi phối và lũng đoạn của chính quyền Trung quốc. Tạp chí Mỹ Politico đã đưa ra danh sách những tổ chức khác của LHQ đang bị TQ thao túng.
Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Quốc tế (FAO) do Qu Dongyu, nguyên thứ trưởng nông nghiệp Tàu lãnh đạo từ 2019.
Liên minh Viễn thông Quốc tế (ITU), có trụ sở ở Geneve do Yhao Houlin lãnh đạo từ năm 2015. Yhao nguyên là viên chức của công ty Huawei.
Trưởng phòng Vụ Kinh tế và Xã hội, cơ quan LHQ chống bất công xã hội và trái đất nóng, từ 2017 được lãnh đạo bởi Liu Zhenmin.
Tổng thư ký tổ chức Hàng không Dân sự Quốc tế ( ICAO), trụ sở ở Montreal do Nữ luật gia Fang Lu lãnh đạo từ 2015. Bà này trong thời gian qua đã bị chỉ trích vì ngăn tthông tin của Đài Loan báo động về sự lan rộng nạn dịch. Trung cộng xem Đài Loan là một tỉnh ly khai.
Tàu có đông dân nhất thế giới và một nền kinh tế lớn hạng nhì trên toàn cầu nên chủ trương tìm cách bành trướng ảnh hưởng thông qua lãnh đạo các tổ chức quốc tế cũng chỉ là hành động bình thường như Mỹ và Âu châu đang làm.
Dùng tiền viện trợ để gia tăng vị thế ở LHQ thì Trung cộng có vẻ phóng khoáng hơn Mỹ. Tổng Thống Mỹ Trump mới đây đưa ra quyết định cắt tài trợ cho WHO. Trung cộng phản ứng ngược lại tài trợ thêm thêm 20 triệu USD cho chương trình chống dịch của WHO.
Chuyển giao trách nhiệm một cách nguy hiểm
Việc Trung cộng có ảnh hưởng ở các tổ chức quốc tế không phải là chuyện tình cờ. Các chính trị gia Mỹ và Âu châu từng quan sát cách can dự chiến lược của Trung cộng. Họ đều có quan điểm là giao trách nhiệm cho Trung cộng để ràng buộc Trung cộng vào những chương trình đối tác rộng lớn mà không cần phân biệt thể chế. Họ xem nguyên tắc tiếp cận này là khôn ngoan. Ngoài ra nhiều người còn tin tưởng những tiến bộ kinh tế sẽ thúc đẩy tiến trình dân chủ hóa tại Trung cộng.
Nhưng thực tế đã phản ảnh hoàn toàn khác. Chế độ cộng sản dưới sự lãnh đạo của chủ tịch cộng đảng Tập Cận Bình lại còn mạnh bạo, độc đoán ngày càng nhiều. Trên phương diện quốc tế, Tập có tham vọng mở rộng ảnh hưởng chính trị.
Nền dân chủ Tây phương được xem là mô hình chính trị đang bị lấn cấn trước tuyên truyền của Cộng sản Trung quốc. Họ quảng bá sự thành công của các chính sách chống dịch, thí dụ chỉ 10 ngày đã xây xong một bệnh viện. Nền kinh tế đã trở lại bình thường nhờ Ngân hàng Nhà nước ưu tiên tài trợ các công ty, xí nghiệp sản xuất thay vì bơm tiền vào thị trường tài chính, chứng khoán. Các công ty nhận tiền tài trợ không bị ràng buộc, tuân thủ những giá trị nhân quyền, môi sinh... như các công ty ở các quốc gia dân chủ.
Tờ Hoàn cầu Thời báo của đảng cộng sản hôm 30 tháng 3 tuyên bố một cách đắc thắng, "Lỗi lầm nghiêm trọng trong COVID-19 là tín hiệu kết thúc 'Thế kỷ Mỹ'" và cao ngạo cho rằng phản ứng của Trung Quốc đối với coronavirus biểu hiện được "tính ưu việt của hệ thống Trung Quốc và kinh nghiệm này là đáng để các nước khác noi theo".
Bắc Kinh đã thực hiện một cuộc trình diễn lớn "tặng" thiết bị y tế và bộ dụng cụ chẩn đoán, cho nhiều nước trên thế giới.
Vấn đề lưu tâm ở đây là sự thay đổi những giá trị mà Tây phương theo đuổi làm chuyển dịch cán cân quyền lực trên lãnh vực quốc tế. Các chuyên gia chính trị đã cảnh báo công việc bảo vệ nhân quyền, dân chủ, tự do trên toàn cầu sẽ bị giới hạn vì những biện pháp kiểm soát của các chế độ độc tài, độc đảng như ở Trung quốc, Bắc Hàn và Việt Nam...
Chẳng hạn, vào tháng 11.2019 ở LHQ, Trung cộng đã thành công ngăn chặn nghị quyết chống tội phạm Cyber. Theo họ các biện pháp kiểm duyệt, hạn chế thông tin mạng, cấm đoán tự do ngôn luận là hợp pháp là vì lợi ích nhân dân. Đại dịch Corona mà thế giới đang gánh chịu hiện nay là hậu quả của chính sách bóp nghẹt dư luận của Trung cộng.
Các quốc gia dân chủ Tây phương đã nhượng bộ và cho thấy thiếu khả năng đẩy lùi ảnh hưởng của Trung cộng trong các tổ chức quốc tế, đặc biệt các tổ chức quan trọng của LHQ.
Ngay tại LHQ mọi các quốc gia dân chủ ở phe đa số phải có tiếng nói chủ yếu. Nhưng cấu trúc tổ chức LHQ lại không phản ảnh tính chất dân chủ. Quyền phủ quyết (Veto) vẫn ở trong tay các cường quốc nguyên tử và đã từng là đế quốc và thực dân.
Muốn chấm dứt tình trạng lũng đoạn của Trung cộng cũng như kết thúc cái gọi là hoà bình Trung quốc (Pax Sinica) mà Trung cộng đang quảng bá, Liên Hiệp Quốc phải cải cách cấu trúc. Tổ chức liên quốc dân chủ phải thực sự được lãnh đạo bởi các quốc gia có chế độ dân chủ.
CTV Danlambao (Danlambao) - Khởi đi từ Vũ Hán, đạo quân vi rút made in China mở cuộc tấn công toàn cầu. Trong khi cả thế giới tê liệt với đại dịch, hàng không mẫu hạm USS Theodore Roosevelt nằm ụ với gần 700 thuỷ thủ đoàn nhiễm vi khuẩn Tàu, Bắc Kinh tiến hành tiếp cuộc xâm lược biển Đông bằng nhiều hình thức.
Ngày 18/4, Bộ Dân chính Tàu cộng thông báo Quốc Vụ viện Tàu đã phê chuẩn thành lập 2 quận đảo Tây Sa và Nam Sa, ngang nhiên khiêu khích, xâm lược chủ quyền lãnh hải Việt Nam và chai lì chà đạp luật pháp quốc tế.
Hành động này cũng là một cái tát vào mặt đàn em Việt Cộng, xé bỏ cái gọi là "tinh thần và nội dung của Thỏa thuận về các Nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa Việt cộng và Tàu cộng đã được ký kết theo chủ trương 4 vàng 16 tốt vào tháng 10/2011.
Từ năm 2002, Tàu cộng và các thành viên ASEAN ký kết thông qua DOC trong đó Điểm 5 của hiệp ước nêu rõ: “Các bên cam kết thực hiện tự kiềm chế trong việc tiến hành các hoạt động có thể gây phức tạp hoặc leo thang tranh chấp, ảnh hưởng tới hòa bình và sự ổn định..."
Ngày hôm nay, toàn bộ ASEAN trong bối cảnh bị dịch Tàu hoành hành đã im lặng vô tuyến trước hành vi nâng cấp bành trước của Bắc Kinh.
Phía CSVN, người đứng đầu đảng và nước là Nguyễn Phú Trọng giữ đúng truyền thống ngậm miệng bán nước ăn tiền. Đứng đầu chính phủ là Nguyễn Xuân Phúc chống dịch (không) như chống giặc (Tàu) và lên đồng với tinh thần giải phóng miền Nam mặc cho Tàu cộng giải phóng biển Đông. Đứng đầu Quốc hội là Nguyễn Thị Kim Ngân vẫn đang đứng trước gương chiêm ngưỡng chiếc áo dài mới. Chỉ có con két của bộ "ngại" giao Lê Thị Thu Hằng hót lại bài hót cũ mèm:
"Việt Nam đã nhiều lần mạnh mẽ khẳng định Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Lập trường nhất quán của Việt Nam là phản đối mạnh mẽ việc thành lập cái gọi là 'thành phố Tam Sa' và các hành vi có liên quan vì đã vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam, không có giá trị và không được công nhận, không có lợi cho quan hệ hữu nghị giữa các quốc gia và gây thêm phức tạp tình hình Biển Đông, khu vực và thế giới. Việt Nam yêu cầu Trung Quốc tôn trọng chủ quyền của Việt Nam, hủy bỏ các quyết định sai trái liên quan đến những việc làm đó và không có những việc làm tương tự trong tương lai".
Bên cạnh việc thành lập Tây Sa và Nam Sa, Bắc Kinh đã đưa tàu khảo sát Hải Dương địa chất 8 cùng nhóm tàu hải cảnh hộ tống quay lại Biển Đông, di chuyển vào vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Việt Nam. Cho đến nay HD-8 đã hoàn tất đường khảo sát thứ 4 và bắt đầu đường khảo sát thứ 5 và xem biển Đông như là ao nhà.
Đại dịch Tàu không phân biệt biên giới. Không phân biệt đất liền và biển đảo. Cũng không phân biệt đồng chí anh em, 16 vàng 4 tốt. Tất cả chỉ quy về một - Wuhanvirus + Beijingvirus = CPCvirrus. Vi khuẩn Tàu cộng.
Bạo chúa Tập Cận Bình: Tấn thảm họa của Trung Hoa và thế giới
Đặng Tự Do
27/Feb/2020
Mã Kiến (Ma Jian -马建) là một nhà văn quê ở Thanh Đảo (Qingdao -青岛), Trung Quốc. Ông rời Bắc Kinh chạy sang Hương Cảng vào năm 1987, xin tị nạn với tư cách là một nhà bất đồng chính kiến; và sau khi bán đảo này bị bàn giao lại cho Trung Quốc, ông chuyển đến London. Tất cả sách của ông đều bị cấm ở Trung Quốc.
Trên tờ The Guardian của Anh, ông đã viết một bài có nhan đề “Xi Jinping has buried the truth about coronavirus” nghĩa là “Tập Cận Bình đã chôn vùi sự thật về coronavirus.”
Nguyên bản tiếng Anh có thể xem tại đây. Dưới đây là bản dịch toàn văn sang Việt Ngữ.
Trong 70 năm qua, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã hết lần này đến lần khác đẩy đất nước vào các thảm họa do con người gây ra, từ trận Đại đói kém kinh hoàng, đến cuộc Cách mạng Văn hóa và vụ Thảm sát Thiên An Môn; từ việc đàn áp mạnh mẽ nhân quyền ở Hương Cảng và Tây Tạng, đến việc giam cầm người Duy Ngô Nhĩ ở Tân Cương trong các trại tập trung khổng lồ. Các vụ che đậy và tham nhũng của các quan chức đã nhân lên gấp bội số người chết vì thiên tai, từ virus Sars đến trận động đất ở Tứ Xuyên.
Giờ đây, việc đối phó sai lầm trước dịch bệnh coronavirus của Tập Cận Bình phải được thêm vào danh sách các tội ác nhục nhã của đảng cộng sản. Với những vụ bùng phát nghiêm trọng xảy ra ở Nhật Bản, Hàn Quốc, Iran và Ý, rõ ràng con virus là chế độ toàn trị của Tập đang đe dọa sức khỏe và quyền tự do không chỉ của người dân Trung Quốc, mà của tất cả chúng ta ở khắp mọi nơi.
Tầm nhìn ngớ ngẩn, tự phóng đại huênh hoang của Tập nằm ở trung tâm của cuộc khủng hoảng toàn cầu này. Khi được bổ nhiệm làm lãnh đạo đảng vào năm 2012, hắn tuyên bố “giấc mơ Trung Quốc” xoay quanh khái niệm trẻ hóa quốc gia, hứa hẹn rằng đất nước sẽ khá giả vào dịp kỷ niệm bách chu niên thành lập đảng cộng sản vào năm 2021, và hoàn toàn tiên tiến đến mức bá chủ kinh tế toàn cầu trước dịp kỷ niệm bách chu niên thành lập cộng hòa nhân dân Trung Quốc 2049. Tập thề rằng, đến lúc đó, thế giới sẽ phải cúi đầu nhìn nhận rằng chế độ độc tài độc đảng của hắn vượt trội hơn so với mớ hỗn độn của nền dân chủ tự do.
Bằng cách tự bổ nhiệm mình thành “đại đế suốt đời”, Tập hiện nay có quyền lực hơn bất kỳ nhà lãnh đạo đảng nào kể cả Mao Trạch Đông, và đã nghiền nát tất cả những thành phần bất đồng chính kiến bằng cách cố gắng để xây dựng một nhà nước độc tài công nghệ cao. Đảng Cộng sản là một mầm bệnh xảo quyệt đã lây nhiễm cho người dân Trung Quốc kể từ năm 1949. Nhưng dưới sự cai trị của Tập, nó đã đạt tới hình thức độc ác nhất của nó, cho phép chủ nghĩa tư bản phát triển mạnh mẽ trong khi tái khẳng định sự kiểm soát xã hội của chủ nghĩa Lênin. Lời hứa về sự giàu có và vinh quang quốc gia đã khiến nhiều người dân Trung Quốc mù quáng không nhìn thấy những sợi xích quanh chân họ, và những hàng rào dây thép gai quanh các trại tập trung ở các vùng xa xôi hẻo lánh.
Trong một bài phát biểu hôm 31 tháng 12 năm 2019, Tập báo trước một năm mới đầy hân hoan như “một cột mốc đầy ý nghĩa trong việc thực hiện mục tiêu một trăm năm đầu tiên!” Đương nhiên, hắn không đề cập gì đến dịch viêm phổi bí ẩn được báo cáo trước đó bởi cơ quan y tế ở Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc. Mặc dù Tổ chức Y tế Thế giới đã được thông báo, nhưng người dân Trung Quốc phần lớn bị giữ chặt trong bóng tối. Làm thế nào những con siêu vi vô hình có thể được phép làm giảm bớt vinh quang trong giấc mơ Trung Quốc của Tập?
Trong bất kỳ thời kỳ khủng hoảng nào, đảng luôn luôn đặt sự sống còn của mình lên trên phúc lợi của người dân. Lý Văn Lương, một bác sĩ nhãn khoa tại bệnh viện trung ương Vũ Hán, đã trở thành biểu tượng bi thảm của thảm họa này. Vào ngày 30 tháng 12, anh ta đã thông báo cho các bạn học cũ của mình trên WeChat rằng bảy người bị nhiễm coronavirus bí ẩn, khiến anh ta nhớ đến Sars (loại virus đã giết chết gần 800 người vào năm 2003), đang bị cách ly tại bệnh viện của anh ta và khuyên họ nên tự bảo vệ mình. Trong bất kỳ xã hội bình thường nào, điều này sẽ không thể bị coi là âm mưu lật đổ chính quyền - nhưng ở Trung Quốc, ngay cả một hành động nhỏ của lòng tốt, một cảnh báo thận trọng và riêng tư cho đồng nghiệp, có thể khiến một người gặp nguy hiểm chính trị. Vào ngày 3 tháng Giêng, bác sĩ Lương bị cảnh sát cảnh cáo - sau đó anh ta quay trở lại làm việc và trong vài ngày bị nhiễm virus.
Trong hai tuần sau đó – tức là thời gian mong manh của cơ hội ngăn chặn dịch bệnh- bọn cầm quyền tuyên bố vấn đề đã được kiểm soát. Nhưng coronavirus lạnh lùng với những ham muốn duy ý chí của những kẻ đê tiện. Không bị khống chế, nó tiếp tục lây lan. Tới lúc mà Tập quyết định cho dân chúng biết về các ổ dịch, tức là ngày 20 tháng Giêng, và ra lệnh “kiên quyết ngăn chặn”, tình trạng đã trở nên quá muộn.
Vào ngày 23 tháng Giêng, Vũ Hán đã bị cô lập. Tuy nhiên, cùng ngày hôm đó, tại một buổi tiếp tân tại Bắc Kinh, Tập chỉ nhấn mạnh sự cần thiết phải “chạy đua với thời gian và theo kịp với lịch sử để thực hiện mục tiêu một trăm năm đầu tiên của giấc mơ Trung Quốc là trẻ hóa dân tộc”. Các videos trên WeChat và Weibo đã tiết lộ sự rỗng tuếch trong tham vọng của Tập. Có những thước phim về những đại lộ vắng vẻ trong những thành phố bị ảnh hưởng. Các xác chết trên hè phố. Một phụ nữ trên ban công của một tòa nhà sang trọng gõ vào một cái chiêng và kêu la hốt hoảng giữa thinh không: “Mẹ tôi đang hấp hối, cứu chúng tôi với!”
Khi bác sĩ Lương nằm trên giường hấp hối vào ngày 30 tháng Giêng, anh đã tiết lộ sự thật về trải nghiệm của mình đối với dịch bệnh. Anh đã nói chuyện với tờ New York Times về thất bại của các quan chức trong việc công bố các thông tin quan trọng về virus cho công chúng, và nói với tờ Tài Tân có trụ sở ở Bắc Kinh rằng: “Một xã hội lành mạnh không thể chỉ có một tiếng nói.” Trong chỉ một câu đó thôi, anh đã xác định được nguyên nhân gốc rễ của bệnh tật Trung Quốc. Tập ngăn chặn sự thật và thông tin để tạo ra hoang tưởng về một xã hội “hài hòa”. Nhưng sự hòa hợp chỉ có thể nổi lên từ một số lượng lớn các tiếng nói khác nhau, chứ không phải từ lời độc thoại của một tên bạo chúa.
Sau sự bùng nổ nỗi đau và sự tức giận của công chúng trước cái chết của bác sĩ Lương, vào ngày 06 tháng Hai, bọn cầm quyền nhượng bộ, và ca ngợi chính vị bác sĩ mà họ đã từng bịt miệng như “một anh hùng”. Nhưng đằng sau hậu trường, sự bách hại vẫn tiếp tục: một số người đã lên tiếng về cách thức bọn cầm quyền đối phó với dịch bệnh đã bị giam giữ.
Trong màn sương dày đặc của thảm họa, mọi người cuối cùng cũng hiểu rằng nếu bọn cầm quyền không quan tâm đến cuộc sống hay quyền tự do của con người, thì có tiền cũng không thể cứu được mạng sống mình. Cơ man các gia đình đã bị virus giết chết hết khi hơn 70 triệu người bị giam giữ trong nhà. Các quan chức Trung Quốc hôm nay đã báo cáo 78,500 ca nhiễm trùng và 2,744 trường hợp tử vong, chủ yếu ở Hồ Bắc. Nhưng không ai tin tưởng vào các số liệu của đảng. Điều chắc chắn duy nhất về những con số, do nó đưa ra, là chúng chỉ là những con số mà đảng cộng sản muốn bạn phải tin. Trong một nỗ lực để thay đổi câu chuyện sau cái chết của bác sĩ Lương, đảng đã kêu gọi chiến tranh nhân dân chống lại virus, và đã hô hào các nhà báo hãy thay thế các “nội dung tiêu cực” trên các phương tiện truyền thông xã hội với những “câu chuyện cảm động từ tuyến đầu của cuộc chiến chống căn bệnh này”. Đã từng chôn vùi sự thật về tai họa của Cách mạng Văn hóa và các tội ác khác trước đó, giờ đây đảng lại đang lôi kéo quốc gia trở về quá khứ Maoist của mình.
Ngôn ngữ chính thức đang bị ô nhiễm một lần nữa với những biệt ngữ quân sự; xã hội đang bị chia rẽ một lần nữa thành các nhóm đối kháng - không phải là giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản, mà là những người bị nhiễm chống lại những người chưa bị nhiễm bệnh. Cảnh sát nông thôn hãnh diện đăng các videos về các cuộc tấn công tàn bạo của họ vào những công dân dám mạo hiểm ra khỏi nhà mà không đeo khẩu trang y tế.
Các phương tiện truyền thông nhà nước đã đăng tải hình ảnh một y tá mang thai trong bộ đồ hazmat phục vụ ở tiền tuyến. Rồi cũng có những bệnh nhân đeo khẩu trang y tế trong một bệnh viện dã chiến khác được kết nạp đảng trên giường bệnh của họ, vui vẻ giơ nắm đấm lên trời khi họ cam kết trung thành với Tập. Đối với bất cứ ai có lương tâm, những cá nhân buồn thảm này trông giống như nạn nhân của một giáo phái vô nhân đạo. Chính cái niềm tin mù quáng cho rằng những hình ảnh như thế có thể thúc đẩy một “năng lượng tích cực” nào đó, cho thấy cái vực thẳm đạo đức mà chủ nghĩa toàn trị đã dìm dân tộc Trung Hoa vào.
Trong khi dịch bệnh vẫn đang tiếp tục hoành hành, Tập đã ra lệnh cho đất nước phải quay trở lại làm việc, tất cả nhằm bảo đảm rằng các mục tiêu kinh tế trong kế hoạch cho thế kỷ 21 của hắn ta phải được được đáp ứng. Tất nhiên, tên bạo chúa vẫn đang cố giữ cho giới tinh hoa chính trị được an toàn, bằng cách hoãn Đại hội Nhân dân Toàn Quốc vào tháng Ba. Có còn cần thêm bằng chứng nào nữa không, để cho thấy giấc mơ Trung Quốc cho mọi người dân của Tập chỉ là một sự giả tạo?
Bản Án Kết Tội Cộng Sản Việt Nam Bán Nước
Hồng Lĩnh
Việt Nam mất đất do công hàm 14/09/1958 vời hai ký kết 30/12/1999 và 25/12/2000
Từ năm 1909 tới nay, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là một mối bất hòa hay yêu sách của một số quốc gia Đông-Nam Thái Bình dương. Đột nhiên gần đây, Trung Cộng ngang xương tuyên bố sát nhập hai quần đảo nầy vào huyện Tam Sa thuộc tỉnh Hải Nam. Biến cố gây nhiều xúc đông nơi người Việt. Nhất là người Việt hải ngoại. Trong khi đó, bọn lãnh đạo Hà Nội ú ớ như chó loãng hơi và cấm dân trong nước biểu tình chống xâm lăng Trung Cộng.
Nhưng trước biến cố nầy, đã có một công hàm, đính kèm theo đây (1), của Phạm Văn Đồng gửi Đồng Chí Tổng Lý Chu Ân Lai vào ngày 14/09/ 1958, và tiếp theo là một trận hải chiến tại Hoàng Sa vào năm 1974 giữa Trung Cộng và QLVNCH. Trong trận đánh ấy. Bộ đội CSVN án binh bất động hay có thái độ a dua với quân xâm lăng Trung Cộng.
Tiếp theo công hàm ấy là hai ký kết vào ngày 30/12/1999 và ngày 25/12/2000 giữa Trung Cộng và CSVN. Với ký kết đầu, CSVN cúng Bắc triều 720 km2 đất liền ở biên giới hai nuớc. Làm mất luôn hai di tích lịch sử ngàn năm của Việt Nam. Đó là Ải Nam Quan và thác Bản Giốc. Với ký kết thứ hai, lần nầy không mất đất liền. Nhưng lại mất cả hàng ngàn km2 lãnh hải của Việt Nam tại vịnh Bắc bộ có diện tích 123’ 700 km2. Nói chung chỉ có mất mát di sản của cha ông để lại.
Thấy mất mát quá nhiều (2), Đảng viên với 54 tuổi đảng Đỗ Việt Sơn lo lắng và công phẫn đã gửi một bức thư cho TTK Nông Đức Mạnh, chủ tịch nhà nước Trần Đức Lương, chủ tịch quốc hội Nguyễn Văn An và thủ tứơng Phan Văn Khải, yêu cầu quốc hội, đang nhóm họp khóa 10 từ ngày 20/11/2001, không thông qua hai thỏa ước trên. Ông Đỗ Việt Sơn tố cáo lỗi lầm trầm trọng bán nước và phản quốc của đàng CSVN đã ký vào hai thỏa ước ấy. Sau đó 20 trí thức gửi thêm một lá thư nữa cho các đại biểu quốc hội để phãn đối. Nhưng vô ích.
Cũng nên nhắc lại, vào năm 1958, CSVN cần khí cụ và quân viện của Trung Cộng để tạo nồi da xáo thịt giữa nguời Việt với nhau. Mục đích phục vụ Đệ III Quốc Tế CS mà ông Hồ là một công cụ. Cho nên công hàm ấy là văn kiện dâng đất lấy khí cụ chiến tranh. Còn hai ký kết sau có mục đích nhường đất để cứu đàng CSVN. Tất cả ba nhượng bộ đều thiệt thòi cho đất nước Việt Nam. Nhưng đã mang lại cho CSVN hai món lợi: cộng sản hóa đuợc Việt Nam và bảo đàm cho tới nay sự tồn của đàng CSVN trên đầu và trên cổ dân Việt.
Địa lý quần đảo Hoàng Sa
Theo Pierre-Bernard Lafont (3), người ta tìm thấy tên gọi ấy trong các văn kiện của các thủy thủ phương tây viết trẹ (Parcels) trên bản đồ của người Bồ Đào Nha. Người Tàu gọi là Xisha. Trong văn chương Việt Nam gọi là Cát Vàng hay Tây Sa và nay gọi là Hoàng Sa. Một quần đảo gồm 15 đảo và bại cát cũng như đá ngầm san hô. Cách Đã Nẵng và cách đảo Hải Nam 314.84 km (170 milles, 1 mille = 1852 m).
Địa lý quần đảo Trường Sa
Quần đảo nầy có tên Nam Sa (4). Nằm phía nam quần đảo Hoàng Sa. Chiều dài 810 km từ bắc tới nam, và 900 km từ đông sang tây. Gồm 300 trăm đảo, cồn, bãi cát và đá ngầm san hô. Chỉ có vài đảo ở được. Nhưng không có nước ngọt và cây cối. Hàng năm thường có từ 9 đến 10 cơn bão tố. Các đảo thường rất nhỏ và thủy triều làm ngập. 1’100 km cách đảo Hải Nam, 1’700 km cách Đài Loan, 800 km cách Sài Gòn, 400 km cách đảo Palawan Phi Luật Tân.
Vai trò kinh tế:
Các tài nguyên nhiều và đa dạng (4). Phosphate khoảng 10 triệu tấn khai thác đuợc. Nhiều phân chim. Nhiều cá do đáy biển không sâu. Nhất là quần đảo Trường Sa chứa rất nhiều dầu lửa và khí đốt. Các cuộc thăm dò khởi sự bắt đầu vào năm 1968. Bột trưởng địa chất và quặng mỏ Trung Cộng tiên đoán có tiềm năng về dầu hỏa nguyên chất khoảng 17.7 tỉ tấn, trong khi Koweit chỉ có 13 tỉ thôi.
Vị trí chiến lược:
Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đang mất dần vào tay Trung Quốc.
Không kể lợi ích kinh tế của hai quấn đảo nầy. Một địa điểm chiến lược liên quan tới vận chuyển, phòng thủ và tấn công từ hai quần đảo nầy thật vô giá.
Hai quần đảo nầy nằm trên hải lộ ngắn nhất giữa Bắc Thái Bình dương và Ấn Độ dương. Nơi qua lại của một phần tư trao đổi hàng hải thế giới và nhất là của 70% nhập cảng dầu của Nhật. Các đường bay của Nam Thái Bình duơng thường bay xuyên qua các đảo của hai quần đảo nầy. Nhất là khi quân lực Mỹ hay Nga đã bỏ Cam Ranh, căn cứ hải quân Subic Bay và căn cứ không quân Clark Phi Luật Tân. Thì sự Trung Cộng chiếm cứ hai quần đảo nầy sẽ là một tai ương cho các quốc gia lân cận. Các căn cứ quân sự, các đài quan sát sẽ được xây trên mồt số đảo của hai quần đào nầy. Một hệ thống tiền đồn liên tục bảo về phía nam cho Trung Cộng và đẩy ra xa hạm đối số VII Thái Bình dương của Mỹ vế phía các đào Carolines hay Mariannes.
Nếu vì một lý do nào đó, Trung Cộng, chủ các quần đảo nầy, phong tỏa bằng phi đạn và tàu ngầm các lộ trình chuyển vận qua hai quần đảo nầy. Một nguy ngập sẽ tới cho nhiều nước trong vùng. Nhất là việc tiếp tế dầu hỏa và khí đốt cho Nhật từ Trung Động về.
Ngay từ hồi triều Nguyễn, Vua Gia Long đã thân hành ra dựng cờ tại quần đảo Hoàng Sa (5). Thời vua Minh Mạng đã bao lần phải dùng thủy quân săn đuổi bọn cướp nấp tại một số đảo của quần đào Hoàng Sa để tấn công ven biển của Việt Nam.
Khi người Pháp tới Đông Nam Thái Bình dương đã xô quân chiếm ngay một số đảo quần đảo nầy. Khi quân đội Thiên Hoàng xô quân chiếm vùng Nam Thái Bình dương đã chiếm trọn hai quần đảo nầy.
Để phục vụ tham vọng xâm chiếm theo chiến lược vết dầu loang tiến thật sâu về phía nam. Trung Cộng đã lợi dụng được sự ngu dốt của đám lãnh đạo CSVN để làm chủ trên hai quần đào nầy. Đối với Việt Nam, không những mất mát từ kinh tế tới vận chuyển, mà còn là một mối nguy về quân sự. Một dao nhọn chọc vào sườn phía đông và một bao vây bọc hậu nhờ một số đường chiến lược mà Trung Cộng đã xây đắp ở Bắc Lào. Cũng như các cuộc đỗ bộ cắt Việt Nam ra thành nhiều mãnh; phía dưới, Campuchia cò thể là một đồng minh của Trung Cộng, vì qúa khứ hiềm khích giữa hai láng giềng, thì Việt Nam nên xem như con cá nắm trên thớt của Trung Cộng khi có binh biến.
Các sự kiện lịch sử tạo chủ quyền cho quốc gia Việt Nam Hai quần đảo Hoàng Sa- Trường Sa:
Hiện nay (5) quần đảo Hoàng Sa có dang díu tới các nước sau đây về vấn để chủ quyền: Việt Nam, Đài Loan, Mã Lai, Phi Luật Tân, Brunei, Indonésie. Trung Cộng muốn thay mặt Đài Loan. Còn quần đảo Trường sa có: Trung Cộng, Việt Nam, Đài Loan, Mã Lai, Phi Lật Tân, Brunei, Indonésie.
Trên phương diện lịch sử cũng như pháp lý chủ quyền. Cần nêu ra các sự kiện sau đây. Liên quan tới quần đảo Trường Sa, vào năm 1909, Tàu chính thức sát nhập quần đảo nầy (6). Nhưng không chiếm đóng thực sự – sự kiện chiếm đóng có lẽ đã cho Tàu chủ quyền – Tuy không chiếm đóng, nhưng không có quốc gia nào trong vùng phản đối cả. Nên Tàu xem như có sự chấp thuận việc sát nhập nầy.
Vào năm 1929, Pháp sát nhập quần đảo nầy vào quản lý của tỉnh Ba Rịa. Nước Pháp, qua công báo ngày 26/07/ 1933, tuyên bố làm chủ hai đảo Itu và Thi Tu của quần đảo. Mặc cho Tàu phản đối cho tới khi Nhật đầu hàng đồng minh năm 1945. Từ đó về sau cuộc tranh chấp bước vào giai đoạn mới vì lý do trống trải chính trị do Nhật bại trận, cũng như do chiến tranh lạnh và thái hóa chế độ thuộc địa. Vì các biến cố ấy, cũng như sự xuất hiện nhiều kép rất năng nổ, sự tranh cãi trở nên phức tạp hơn.
Lãnh hải tại vịnh Bắc bộ
Về lãnh hải ở vịnh Bắc bộ, vào cuối thể kỳ 18, đương quyền Việt Nam đã từ chối (6) không cho các tàu bè của Tàu tới gẩn bờ biển Việt Nam và đậu lại. Sau đó vào năm 1832, Vua Minh Mạng không cho phép đương cục Tàu (Guandong) cho tàu bè vào hải phận Việt Nam để săn đuổi các tên cướp biển tới từ nam nước Tàu. Vào năm 1833, vua Minh Mạng ra lệnh cho cho tàu bè của Tàu phải rới khỏi Vân Đồn.
Qua các biến cố trên, hồi ấy người ta có vẻ tin tường là vấn để lãnh hải giữa Tàu và Việt Nam tại vịnh Bắc bộ đã đuợc đề cập. Nhưng phải đợi Pháp mang tới cho Việt Nam các thói quen pháp lý Âu Tây.
Ngay vừa khi đặt nền đô hộ. Pháp lo lắng đặt vấn đề giới hạn lãnh hải giữa Tàu và Việt Nam tại Vịnh Bắc bộ. Tại đây có tới cả ngàn đảo nhỏ. Chỗ nấp của cướp biển. Không những cướp nầy tấn công các thương thuyển ở biển khơi, mà còn đột kích vào các làng ven biển. Các thương thảo dẫn tới ký kết quy ước Constan ngày 26/06/1887 mà Pháp nhân danh Việt Nam ký kết với Tàu. Việt Nam chiếm 62% và Tàu 38% của diện tích khoảng của vịnh Bắc bộ (123’ 700 km2). Nhưng trớ trêu, đường phân ranh không phải là một kinh tuyến thẳng, mà là một đường gãy lồi lõm không lợi cho Việt Nam (7). Ngày nay Trung Cộng đang khai thác điểm nầy.
Quốc gia Việt Nam thừa kế của Pháp
Qua hai thỏa ước 6/1948 tại vịnh Hạ Long và 3/1949 tại Paris ký kết giữa chính phủ Pháp và Hoàng Đề Bảo Đại, tượng trưng uy quyền quốc gia Việt Nam, Pháp trao trả độc lập và chuyển nhượng lại các thừa kế lãnh hải hay đất liền cho quốc gia Việt Nam. Lúc Pháp rút lui, lãnh thổ Việt Nam còn nguyên vẹn như từ hồi 1933 và thứa kế là VNCH.
CSVN bán nuớc
Nay CSVN đã dâng cho Trung Cộng: Hai quần đảo TS-HS Mất Ải Nam Quan, Bản Giốc, 720 km2 đất đai dọc biên giới, hàng ngàn km2 lãnh hải của vịnh Bắc bộ (123’ 700 km2). Ngoài ra Việt Nam mất rất nhiều tài nguyên về hải sản cho chài lưới, quặng chất và dầu lửa cũng như khí đốt.
CSVN phản bội Việt Nam và chạy theo Trung Cộng
Theo cách tổ chức của CSVN, Phạm Văn Đồng đã thi hành lệnh cũa Ông Hồ Chí Minh và Bộ Chính Trị của đàng CSVN, cho nên CSVN đã phản bội dân tộc. Theo tài liệu của Paoling (8) của Institut International pour les Études Stratégiques de l’Universíté Georgetown và tờ magazine de Pékin ngày 30/03/1979, ông Phạm Văn Đồng, bất chấp hiển nhiên, đã tuyên bố vào năm 1956 “Trên phương diện lịch sử, các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc vế Tàu”. Một hành xử của một chư hầu tôi mọi. Ngày 15/06/1956, dựa vào tuyên bố của ông Phạm Văn Đồng trước đó, các nhà trách nhiệm bộ ngoại giao CSVN, trong một buổi tiệc đón tiếp đại sứ Trung Cộng tại Hà Nội còn xác nhận: “Thể theo các tài liệu mà VN có, các quần đảo TS-HS thuộc về Tàu”. Từ đó các sách báo hay giáo khoa của Hà Nội có ghi nhiều lần chủ quyền của Tàu trên các quần đảo ấy. Các xác nhận liên qua tới các lãnh thổ khi ấy thuộc về VNCH là có hậu ý lôi kéo Tàu vào cuộc chiến chống Mỹ. Tố cáo Mỹ đã xâm phạm lãnh thổ Trung Cộng là hai quần đảo ấy.
CSVN giấu diếm dân tộc Việt Nam các nhượng bộ
Vào ngày 01/06/2003, nhà nứớc CSVN, qua phát ngôn viên Phan Thủy Thanh, tuyên bố: “Bất kỳ việc làm nào của một nước khác đối với hai quần đảo TS-HS cũng như tron vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam mà không được sự chấp thuận của Việt Nam đều là vi phạm chủ quyền và các quyền của Việt Nam đối với các khu vực nầy”. Một tuyên bố gian trá nhằm khỏa lấp tội bán nước và giấu diếm dân chúng.
Trước sự phẫn nỗ của đồng bào trong nuớc, CSVN bắt buộc phải giả vờ phản đối qua lời tuyên bố úp mở và gừi thư phản đối. Nhưng lại thêm một màn trò hề hỡm hĩnh: Thay vì gửi thư thẳng cho chính phủ Trung Cộng, lại gửi cho “Quốc Vụ Viện” như muốn nói việc sát nhập HS-TS vào Nam Sa là “không phù hợp với nhận thức của lãnh đạo hai nườc”. Một hành động xem như chó loãng hơi và vô nghĩa. Thực ra Trung Cộng luôn có thể phủ nhận bằng câu nói “Việt Nam hoàn toàn đồng ý với các quyết về hai quần đảo và hải phận của Trung Quốc”. Điều nầy đã đuợc ghi trên giấy trắng mực đen. Theo tin tức từ các sinh viên biểu tình. Chỉ có báo Tuổi Trẻ nói tới Trung Cộng xâm lăng hai quần đảo. Nhưng không nói là CSVN đã nhượng bộ hai quần đảo ấy cho Trung Cộng. Dân chúng không hay biết gì cả. Toàn bôi bác và dối trá cho qua chuyện.
Ý kiến của tác giả
Dựa trên các sự kiện lịch sử, câu chuyện các đảo và vịnh Bắc bộ do Pháp tự đứng ra hay nhân danh Việt Nam tranh dành hay ký kết với Tàu. Theo hai thỏa ứơc mà cố Hoàng Đế Bảo Đại ký kết với Pháp. Quốc Gia Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Cố Hoàng Đế Bào Đại là thừa kế các quyền của Pháp để lại về các lãnh thổ ấy. Cho nên ông Phạm Văn Đồng đã nhượng cho Trung Cộng cái mà ông không có. Sau cuộc hải chiến năm 1974. Trung Cộng chiếm Hoàng Sa, đó là xâm lăng đúng nghĩa. Sự xâm lăng bao giờ cũng sai trái về pháp lý. Nếu có chấp nhận ba nhượng bộ trên có một căn bản pháp lý. Thì không thể xem Trung Cộng là xâm lăng. Vì các nhượng bộ do CSVN làm có giấy tờ hẵn hoi, cho nên CSVN là kẻ bán nước. Cò lẽ phải có hậu VNCH mới có đủ tư cách pháp lý để đem vấn để ra trước HĐBA LHQ xin can thiệp. Vì trong vị trí nầy. Trung Cộng lả kẻ xâm lăng. Còn CSVN không làm gì được. Và chúng sẽ không làm gì. Vì là tôi mọi của Trung Cộng để bảo vệ đàng CSVN.
Hồng Lĩnh
Tham chiếu: (1)- Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về Việt Nam. Ngô Nhân Dũng, thongtin.brinkster.net, trang 5. (2)- Việt Nam: Paracels et Spratley dans le cadre des frontières maritimes sino-vietnamiennes, www.lmvntd.org, page 1. (3)- Việt Nam: Paracels et Spratley dans le cadre des frontières maritimes sino-vietnamiennes, www.lmvntd.org, page 7. (4)- Les îles Spratleys: Une Source de Conflit en Asie du Sud-Est. Instiut de Stratégie Comparée, Commision Française d’Histoire Militaire, Institu d’Histoire des Conflits. Audrey Hurel, page 1. (5)- Le serveur de “Sources d’Asie”. Les sources de conflitd en Asie, asie.espace.free, les pages (1,2). (6)- Les îles Spratleys: Une Source de Conflit en Asie du Sud-Est. Instiut de Stratégie Comparée, Commision Française d’Histoire Militaire, Institu d’Histoire des Conflits. Audrey Hurel, page 2. (7)- Việt Nam: Paracels et Spratley dans le cadre des frontières maritimes sino-vietnamiennes, www.lmvntd.org, page 6. (8)- vietnam: l’éternel conflit des archipels de Paracels et Spratley. www.lmvntd.org, page 1.
Duyệt lại giá trị pháp lý của công hàm Phạm Văn Đồng
Luật sư Đào Tăng Dực (Danlambao) - ...Khi thủ tướng nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ký công hàm 1958 thì văn kiện này gặp trở ngại lớn lao về pháp lý. Đó là nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, như một quốc gia, không có tư cách pháp lý, nhường một phần lãnh thổ (Hoàng Sa và Trường Sa) thuộc chủ quyền của một đệ nhị quốc gia là nước Việt Nam Cộng Hòa, cho một đệ tam quốc gia là nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa...
*
Đại dịch Vũ Hán đang tàn phá Trung Hoa Lục Địa và toàn thể nhân loại. Tuy thế, tai họa này vẫn không giảm thiểu tham vọng bá quyền xâm lược của đảng CSTQ đối với Việt Nam qua các hoạt động tập trận, xâm phạm lãnh hải và vùng kinh tế cũng như hiếp đáp gây thiệt hại cho ngư dân Việt Nam.
Nhà cầm quyền CSVN gần đây đã gởi 3 công hàm (30/3, 10/4 và 14/4) cho Liên Hiệp Quốc khẳng định chủ quyền Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa.
Phía Trung Quốc trả đũa bằng cách trưng ra Công Hàm của cố thủ tướng CSVN Phạm Văn Đồng ký ngày 14 tháng 9 năm 1958 như là một biện minh cho chủ quyền TQ tại Hoàng Sa và Trường Sa.
Hầu đả phá toàn diện biện minh này của TQ, chúng ta cũng phải duyệt lại một lần nữa giá trị pháp lý của công hàm Phạm Văn Đồng. Tôi đã nêu ra lập luận này ngày 3/8/2016:
Nội dung của công hàm này là gì?
Công hàm của thủ tướng Phạm Văn Đồng ký ngày 14 tháng 9 năm 1958, gởi cho Chu Ân Lai, Tổng Lý Quốc Vụ Viện, tương đương thủ tướng Trung Quốc, nội dung như sau:
“Thưa Đồng chí Tổng lý,
Chúng tôi xin trân trọng báo tin để Đồng chí Tổng lý rõ: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4 tháng 9 năm 1958, của Chính phủ nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, quyết định về hải phận 12 hải lý của Trung Quốc.
Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa trên mặt biển. Chúng tôi xin kính gửi Đồng chí Tổng lý lời chào rất trân trọng.
Phạm Văn Đồng
Thủ tướng chính phủ
Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa”.
Câu hỏi mà mọi công dân Việt Nam yêu nước luôn nêu ra là: liệu công hàm Phạm Văn Đồng có giá trị pháp lý, trước một pháp đình nghiêm chỉnh hay không?
Để trả lời câu hỏi này, chúng ta phải qua một quá trình phân tách như sau.
Trước hết, người CSVN cho đến bây giờ, vẫn luôn biện minh rằng, công hàm này chưa từng nhắc đến Hoàng Sa và Trường Sa. Vì thế không thể kết luận rằng công hàm xác nhận hai quần đảo này thuộc TQ.
Tuy nhiên người TQ sẽ phản biện rằng, công hàm này tán thành tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Trung Quốc “quyết định về hải phận 12 hải lý” của họ. Tuyên bố của TQ ghi rõ:
“Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa nay tuyên bố:
1. Bề rộng lãnh hải của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là 12 hải lý. Ðiều lệ này áp dụng cho toàn lãnh thổ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, bao gồm phần đất Trung Quốc trên đất liền và các hải đảo ngoài khơi, Ðài Loan (tách biệt khỏi đất liền và các hải đảo khác bởi biển cả) và các đảo phụ cận, quần đảo Bành Hồ, quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa, và các đảo khác thuộc Trung Quốc.”
Hoàng Sa thì TQ gọi là Tây Sa và Trường Sa thì TQ gọi là Nam Sa.
Người CSVN có thể lập luận rằng, công hàm này chỉ giới hạn ở vấn đề hải phận 12 hải lý.
Trong khi đó, người CSTQ sẽ lập luận rằng, trong một văn kiện quan trọng như thế, nếu muốn giới hạn thì ông Phạm Văn Đồng đã ghi rõ rằng Hoàng Sa và Trường Sa là thuộc chủ quyền của Việt Nam. Khi Phạm Văn Đồng không làm điều đó thì đã chứng minh sự công nhận chủ quyền TQ trên hai quần đảo này.
Điểm thứ nhì cần phân tích là một văn kiện nhường chủ quyền của một thành phần máu huyết của tổ quốc, cho một ngoại bang như TQ, như công hàm này, đã thông qua những thủ tục hiến định cần thiết hay chưa?
Để giải quyết vấn nạn này, chúng ta cần duyệt lại nội dung hiến pháp có hiệu lực vào thời điểm ông Phạm Văn Đồng ký công hàm. Người CSVN kinh qua nhiều hiến pháp khác nhau. Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992 và 2013.
Thời điểm ký phù hợp với Hiến Pháp 1946 vì Hiến Pháp 1959 chỉ được Quốc Hội thông qua ngày 31 tháng 12, 1959 và Ông Hồ Chí Minh công bố ngày 1 tháng 1, năm 1960.
Khi phân tích Hiến Pháp 1946, thì Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa theo quốc hội chế. Quốc hội lúc đó gọi là Nghị Viện Nhân Dân và theo điều 23 có trách nhiệm chuẩn y các hiệp ước ký với nước ngoài. Theo điều 32 Những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa ra nhân dân phúc quyết, nếu hai phần ba tổng số nghị viên đồng ý. Sau cùng theo điều 49 chỉ có chủ tịch nước, tức ông Hồ Chí Minh mới có quyền “ký hiệp ước với các nước”.
Trong Hiến Pháp 1946, chức vụ thủ tướng hoàn toàn chịu sự lãnh đạo của chủ tịch nước và không có quyền ký một văn bản quan trọng liên hệ đến vận mệnh hoặc chủ quyền quốc gia. Ngay cả trong trường hợp ông Hồ Chí Minh đích thân ký công hàm này, cũng không thể có hiệu lực vì nhân dân chưa có phúc quyết theo điều 32 và Nghị Viện Nhân Dân chưa chuẩn y.
Dĩ nhiên cả hai ông Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng và Bộ Chính Trị lúc đó đều ý thức điều này. Nếu muốn công hàm có hiệu lực, họ phải khơi động (invoke) các điều khoản hiến pháp liên hệ và thông qua những thủ tục hiến định. Sau đó đích thân ông Hồ Chí Minh, thừa ủy nhiệm của Nghị Viện Nhân Dân, theo điều 49 hiến pháp, ký vào công hàm. Tuy nhiên, một là lãnh đạo các đảng CS kể cả CSTQ có thói quen coi thường hiến pháp. Thói quen này này của họ vô hình trung trở thành một lợi điểm pháp lý cho chúng ta. Hai là cả Hồ Chí Minh lẫn Phạm Văn Đồng muốn lập lờ đánh lận con đen với cả Trung Quốc lẫn nhân dân Việt Nam, hầu nhận sự Viện trợ của Trung Quốc.
Dĩ nhiên Trung Quốc có thể vin vào điều 27 của Công Ước Vienna về Luật các Hiệp Ước (Vienna Convention on the Law of Treaties) quy định rằng một quốc gia không thể viện dẫn một luật nội địa để không thi hành một hiệp ước. Tuy nhiên điều 27 có thể bị điều 46 phủ quyết và điều 46 ghi rõ như sau:
“Một quốc gia không thể viện dẫn sự kiện rằng sự đồng ý của mình để bị ràng buộc bởi một hiệp ước đã được thể hiện qua sự vi phạm một điều khoản của luật nội địa liên hệ đến thẩm quyền ký kết hiệp ước, như là yếu tố vô hiệu hóa sự đồng ý này, trừ khi sự vi phạm là hiển nhiên và liên hệ đến một quy luật nội tại có tầm mức quan trọng nền tảng”. (A State may not invoke the fact that its consent to be bound by a treaty has been expressed in violation of a provision of its internal law regarding competence to conclude treaties as invalidating its consent unless that violation was manifest and concerned a rule of its internal law of fundamental importance.)
Hiến pháp 1946 là luật nền tảng và sự vi phạm nó là là hiển nhiên và sẽ bị điều 46 Công Ước nêu trên chế tài và sẽ bị cho là vô hiệu lực.
Đó là chưa kể lập luận của chúng ta sẽ là: vì vi phạm những nguyên tắc căn bản nêu trên, không có một hiệp ước nào được thành lập ngay từ khởi thủy (ab initio) nhường Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc cả.
Tức là lập luận của chúng ta sẽ vững chãi trên cả hai bình diện nêu trên và một bình diện quan trọng thứ 3:
1. Một là không có hiệp ước công nhận Hoàng Sa và Trường Sa là của Trung Quốc ngay từ đầu;
2. Hai là nếu có, thì sẽ bị vô hiệu hóa chiếu theo điều 46 của Công Ước Vienna nêu trên;
3. Điểm thứ ba vô cùng quan trọng là vào thời điểm đó, Việt Nam Cộng Hòa là một quốc gia có cương thổ, quân đội, chủ quyền pháp lý lẫn thực tế trên Hoàng Sa và Trường Sa. VNCH được Hoa Kỳ và 87 quốc gia khác công nhận. Nếu Liên Bang Xô Viết không phủ quyết thì năm 1957, VNCH đã trở thành một quốc gia thành viên của LHQ. Tuy thế VNCH đã là thành viên của nhiều Ủy Ban của Liên Hiệp Quốc.
Bắc Việt tức nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa bị phần lớn các quốc gia tự do tẩy chay. Chỉ được các nước cộng sản khác công nhận.
Chính vì thế khi thủ tướng nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ký công hàm 1958 thì văn kiện này gặp trở ngại lớn lao về pháp lý. Đó là nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, như một quốc gia, không có tư cách pháp lý, nhường một phần lãnh thổ (Hoàng Sa và Trường Sa) thuộc chủ quyền của một đệ nhị quốc gia là nước Việt Nam Cộng Hòa, cho một đệ tam quốc gia là nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa.
Phán quyết ngày 12 tháng 7, 2016 của Tòa Trọng Tài Thường Trực tại The Hague, Hà Lan, chiếu theo Công Ước Liên Hiêp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) trong cuộc tranh chấp giữa Trung Quốc và Philippines, vô hiệu hóa Đường Lưỡi Bò 9 đoạn của Trung Quốc và giới hạn các quyền lợi liên hệ đến các quần thể trên Biển Đông trong vòng hải phận 12 hải lý, cũng là một án lệ quốc tế vô cùng thuận lợi cho Việt Nam.
Với các lý do nêu trên, chúng ta có thể kết luận rằng, trước một pháp đình có thẩm quyền nghiêm chỉnh, công hàm liên hệ đến chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của cựu thủ tướng CSVN Phạm Văn Đồng ký ngày 14 tháng 9 năm 1958 sẽ không có giá trị pháp lý và nhà cầm quyền CSVN cần phải đưa Trung Quốc ra tòa càng sớm càng tốt, hầu bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của tổ quốc Việt Nam.
Năm nay và một vài năm sắp tới sẽ là thời điểm mà uy tín trên chính trường cũng như vũ trường công pháp quốc tế của đảng CSTQ sẽ suy yếu rõ rệt và sẽ là thời điểm tốt nhất để khởi kiện CSTQ.
Biển Đông: Các bản đồ cổ giúp gì VN trong cuộc chiến pháp lý với TQ?
Mỹ Hằng BBC News Tiếng Việt
Bản quyền hình ảnhHOANG DINH NAM/GETTY IMAGESImage captionMột tài liệu Hán Nôm từ thế kể 17-18 được trưng bày ở Hà Nội năm 2014 nhằm hỗ trợ tuyên bố chủ quyền của Việt Nam ở Biển Đông
Hàng chục năm qua chính phủ Việt Nam đã cho người đi khắp thế giới sưu tập bản đồ để có chứng cứ hỗ trợ cho tuyên bố chủ quyền của mình trên Biển Đông, nhưng giá trị pháp lý của chúng đến đâu?
Một trong những người từng được báo Mỹ gọi là "Người săn bản đồ", nhà nghiên cứu Trần Đức Anh Sơn, đã tìm thấy nhiều bản đồ quý hiếm, và bằng chứng trong hơn 50 cuốn sách bằng tiếng Anh, Pháp, Hà Lan, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha - về việc một nhà thám hiểm Việt Nam thời Nguyễn đã cắm cờ ở Hoàng Sa và Trường Sa vào những năm 1850.
Một số nhà nghiên cứu khác, như ông Nguyễn Đình Đầu, cũng sưu tập được khoảng 200 bản đồ quý.
Những bản đồ này đã được chính phủ Việt Nam cho triển lãm trong và ngoài nước để dư luận được tận mắt nhìn thấy Hoàng Sa, Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam.
Nhưng nếu mang ra cuộc chiến pháp lý với Trung Quốc thì những bản đồ này có đủ sức nặng không?
'Cần kèm theo các văn kiện nhà nước'
Bản quyền hình ảnhHOANG DINH NAM/GETTY IMAGES
Trao đổi với BBC News Tiếng Việt, nhà nghiên cứu Đinh Kim Phúc cho hay các bản đồ Việt Nam sưu tập được cho tới nay chủ yếu dùng cho mục đích tuyên truyền, động viên, để mọi người biết Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam.
Nhưng nói về độ xác thực, ông cho rằng quan trọng nhất là bản đồ phải đi theo các văn bản pháp lý, các văn kiện của nhà nước thời bấy giờ.
"Các văn kiện này phải phù hợp với hoàn cảnh lịch sử của một quốc gia đã chiếm hữu vùng đó một cách hòa bình, và khai thác liên tục một cách có hiệu quả," ông Đinh Kim Phúc nói.
"Không thể chỉ dùng mỗi bản đồ để đấu tranh pháp lý vì nếu vậy, mang ra tòa quốc tế thì không có giá trị."
"Ví dụ tờ Lệnh Lý Sơn do vua Minh Mạng ban năm 1834, điều động quân và dân các làng chài ở Quảng Ngãi đi coi sóc, thám sát vùng biển Hoàng Sa của Việt Nam. Đó là văn kiện có tính chất nhà nước."
Bản quyền hình ảnhDINH KIM PHUCImage captionMột bản đồ cổ
"Giả sử bây giờ chúng ta mang bản đồ ra tòa quốc tế, thì phải dùng các bản đồ được thừa nhận dưới góc độ của công pháp quốc tế. Như tôi nói ở trên, tức là phải đi kèm theo các pháp lệnh của nhà nước thời bấy giờ. Còn sử dụng bản đồ của các nhà hàng hải phương Tây hoặc của các thuyền nhân lúc bấy giờ đi ngang qua khu vực Biển Đông thì sẽ không có giá trị pháp lý."
'Bản đồ phải do bên thứ ba vẽ'
Trong khi đó, giảng viên luật, nhà nghiên cứu Biển Đông Hoàng Việt đưa ra một số nhận định khác về các yếu tố làm nên giá trị pháp lý của một tấm bản đồ.
Ông Hoàng Việt nói với BBC News Tiếng Việt: "Nói về bản đồ với ý nghĩa là bằng chứng pháp lý thì không đơn giản."
"Nó tuỳ thuộc nhiều thứ, như bản đồ đó được vẽ khi nào? Ai vẽ? Nó có các tỷ lệ chính xác như của phương Tây hay không?"
"Trong nhiều án lệ quốc tế về tranh chấp biên giới, lãnh thổ thì việc đưa ra bản đồ cổ chỉ là nhằm hỗ trợ thêm cho các bằng chứng pháp lý khác, chứ bản đồ không đóng vai trò quyết định."
Trong nhiều yếu tố khác nhau để xem xét giá trị pháp lý một tấm bản đồ, ông Hoàng Việt cho rằng quan trọng nhất là tính khách quan.
"Ví dụ, bản đồ phải được vẽ bởi một bên thứ ba, chứ không phải do hai bên tranh chấp vẽ. Nếu bên tranh chấp đưa ra bản đồ, thì nó phải dựa trên công ước hay hiệp ước nào đó đã ký kết giữa hai bên."
"Ví dụ, trong lịch sử, Pháp từng đại diện cho người Campuchia ký với người Thái một hiệp ước công nhận một vùng đất gần biên giới hai nước là lãnh thổ Campuchia, trong đó có kèm theo một số bản đồ. Sau này người Thái đòi lại khu vực biên giới đó thì không được vì nó đã được thể hiện trong hiệp ước rồi."
"Tương tự như vậy, quá trình phân định biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc phải dựa chủ yếu vào biên giới đã được phân định thời Pháp-Thanh và các bản đồ kèm theo hiệp ước được ký kết lúc đó."
Vì sao dựa trên tiêu chuẩn phương Tây?
Bản quyền hình ảnhHOANG DINH NAM/GETTY IMAGESImage captionMột biểu ngữ phản đối Trung Quốc của người biểu tình tại Việt Nam năm 2012
Lý giải vì sao lấy mốc thời Pháp-Thanh và tiêu chuẩn châu Âu để đánh giá độ tin cậy của bản đồ, ông Hoàng Việt phân tích:
"Trước khi bị đô hộ, nhiều quốc gia châu Á trong đó có Trung Quốc và Việt Nam không vẽ bản đồ theo chuẩn phương Tây. Cả Việt Nam và Trung Quốc thời đó đều chưa có tư duy về mốc giới hay đương biên giới, mà chỉ có khu vực biên giới."
"Sau khi phương Tây sang đô hộ, họ mang theo các tiêu chuẩn phương Tây chặt chẽ, khoa học hơn. Chẳng hạn người Pháp thời đô hộ Việt Nam, khi đại diện Việt Nam ký một hiệp ước phân định các quốc gia trên bộ, đã áp đặt tư duy phương Tây và đưa ra một đường biên giới rõ ràng, với các cột mốc có kinh độ, vĩ độ."
Về phân định đường biên giới trên Biển Đông, ông Hoàng Việt nhận định đây là câu chuyện 'phức tạp hơn nhiều'.
"Với các bộ sưu tập bản đồ của Việt Nam mà tôi được tiếp cận, như bộ 200 bản đồ của nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu, cá nhân tôi cho rằng chúng có giá trị nhất định."
"Theo đánh giá sơ bộ của cá nhân tôi, đa phần bản đồ trong 200 chiếc này là của các giáo sỹ phương Tây. Như vậy nó đảm bảo tính khách quan vì không phải của Việt Nam vẽ. Chúng cũng đảm bảo một số tiêu chí như tính chính xác, bởi được đo đạc bằng thiết bị và tư duy của các nhà khoa học phương Tây lúc đó."
"Các bản đồ này bác bỏ quan điểm của Trung Quốc về chủ quyền của họ ở Hoàng Sa và Trường Sa rằng đó là lãnh hải của họ. Bởi cả các bản đồ của Trung Quốc và phương Tây mà chúng ta có đều không cho thấy như vậy. Chứng tỏ lập luận của Trung Quốc là không có cơ sở."
'Việc đưa ra tòa quốc tế còn hạn chế'
Bản quyền hình ảnhGETTY IMAGESImage captionViệt Nam từng tổ chức triển lãm, trưng bày các bản đồ cổ để chứng minh chủ quyền đối với các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa
Bàn về mức độ ảnh hưởng của bản đồ nếu Việt Nam kiện Trung Quốc ra tòa quốc tế, nhà nghiên cứu Đinh Kim Phúc nhận định rằng chúng đóng góp "20%" vào khả năng thành công.
"Tôi nghĩ rằng bản đồ đi kèm với văn kiện của nhà nước thì chiếm khoảng 20% giá trị pháp lý khi đấu tranh chủ quyền trước các nhà tài phán quốc tế."
"Cái quan trọng nhất là phải dựa vào Hiến Chương Liên Hiệp Quốc, các nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc, và Luật Biển của Liên Hiệp Quốc, thì mới có khả năng chiến thắng trước Trung Quốc," nhà nghiên cứu Đinh Kim Phúc nói.
Nhà nghiên cứu Hoàng Việt thì cho rằng dù Việt Nam đã sưu tầm được một bộ bản đồ đồ sộ, nhưng tính chính xác của chúng tới mức độ nào cần phải nghiên cứu thêm.
"Philippines trước khi kiện Trung Quốc ra tòa trọng tài thường trực năm 2013 đã xuất bản một tập bản đồ trong đó có các bằng chứng về chủ quyền. Và đã được tuyên thắng kiện năm 2016."
"Điều đó để nói rằng bản đồ có những giá trị nhất định trong cuộc chiến pháp lý, mang tính chất hỗ trợ các bằng chăng pháp lý khác. Chứ không phải là bằng chứng độc lập đủ sức chứng minh Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam.
"Việc đưa ra tòa quốc tế còn rất hạn chế do Trung Quốc không chấp thuận vai trò của tòa quốc tế. Như thế tòa quốc tế sẽ không có thẩm quyền giải quyết. Cho nên hiện Việt Nam vẫn tập trung vào vấn đề tuyên truyền và tâm lý nhiều hơn."
"Đánh giá các bản đồ này đóng góp bao nhiêu phần trăm thành công thì khó vì chưa biết sẽ ra tòa nào. Nhưng tôi cho rằng, không chỉ bản đồ, Việt Nam cần xem xét lại tổng thể về mặt bằng chứng xem mình hiện đang có những gì."
"Còn riêng với bộ sưu tập bản đồ mà Việt Nam thu thập được qua nhiều dự án cử người đi nước ngoài sưu tầm, tôi cho rằng cần thành lập một ban đánh giá chất lượng."
"Ban này cần tập hợp các chuyên gia lịch sử, địa lý và luật pháp quốc tế. Đến nay tôi chưa rõ một ban như vậy từng được thành lập hay chưa."
Đảng bán nước cho TQ:
Công hàm 1958, ông Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị không thể vô can
Võ Ngọc Ánh (Danlambao) - ...Đảng Cộng Sản Việt Nam tôn ý thức hệ của mình lên trên tất cả, đưa chủ quyền quốc gia xuống hàng thứ yếu. Điều này đang mang đến nhiều bất lợi trong việc đấu tranh chủ quyền lãnh hải của Việt Nam trước sự tham lam lãnh hải của Trung Cộng. Vì thế, Bộ Chính trị đảng Cộng Sản, ông Hồ Chí Minh người có ảnh hưởng quyết định trong lúc này không thể vô can. Để mình ông Đồng gánh tội không chưa đủ. Cần nhìn nhận thẳng thắng đây là sai lầm nghiêm trọng của đảng Cộng Sản và cả Hồ...
*
Công hàm vào tháng 9/1958, do ông Phạm Văn Đồng, thủ tướng Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (Việt Cộng) ký là sự tiếp tay cho Trung Cộng trong việc xâm chiếm lãnh hải của Việt Nam.
Ngày 17/4 vừa rồi Trung Cộng đã gởi công hàm gởi đến Tổng thư ký Antonio Guterres phản đối công hàm phía Việt Nam đã gởi vào ngày 30/3/2020. Một lần nữa lại đưa ‘bảo bối’ công hàm do ông Đồng ký vào năm 1958 để khẳng định Cộng Sản Việt Nam đã thừa nhận Hoàng Sa, Trường Sa thuộc về họ.
Công hàm 1958, không thể một mình ông Phạm Văn Đồng gánh tội
Ngày 4/9/1958 nhà cầm quyền Trung Cộng công bố quyết định về hải phận 12 hải lý của Trung Quốc. Theo bản tuyên bố này, hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa thuộc về quốc gia này.
10 ngày sau nhà cầm quyền Việt Cộng nhanh chóng đồng ý với nội dung công bố trên của Trung Cộng.
Trong cuộc chiến tranh ý thức hệ với người anh em miền Nam, chính quyền miền Bắc nghĩ rằng Hoàng Sa, Trường Sa thuộc về các đồng chí Trung Cộng còn hơn để trong tay chính quyền Việt Nam Cộng Hòa. Có thể lãnh đạo miền Bắc trao lợi thế cho Trung Cộng để đạt được lợi thế chính trị nào đó với Việt Nam Cộng Hòa. Và có lẽ họ chưa nghĩ đến khi đất nước thống nhất lãnh hải sẽ rơi vào tay đồng chí láng giềng.
Với cách làm chính trị các lãnh đạo miền Bắc, rõ ràng ông Đồng không thể tự ý ký công hàm này mà chưa có sự đồng ý, chỉ đạo của ông Hồ Chí Minh cùng Bộ Chính trị đảng Lao Động Việt Nam. (Đảng Cộng Sản lúc này đã tự đổi tên thành đảng Lao Động Việt Nam vào tháng 2/1951, và quay lại tên cũ vào vào tháng 12/1976).
Do đó, hành động chính xác cho công hàm này là bán nước trong sự ngây thơ của cả bộ máy lãnh đạo cao cấp nhất đảng Cộng Sản Việt Nam lúc đó. Đảng Cộng Sản Việt Nam tôn ý thức hệ của mình lên trên tất cả, đưa chủ quyền quốc gia xuống hàng thứ yếu. Điều này đang mang đến nhiều bất lợi trong việc đấu tranh chủ quyền lãnh hải của Việt Nam trước sự tham lam lãnh hải của Trung Cộng.
Vì thế, Bộ Chính trị đảng Cộng Sản, ông Hồ Chí Minh người có ảnh hưởng quyết định trong lúc này không thể vô can. Để mình ông Đồng gánh tội không chưa đủ. Cần nhìn nhận thẳng thắng đây là sai lầm nghiêm trọng của đảng Cộng Sản và cả Hồ.
Cũng không thể giải thích mập mờ như ông Trần Duy Hải, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Biên giới Quốc gia, thuộc Bộ Ngoại giao Việt Nam vào ngày 23/5/2014. Theo đó, ông Hải gọi công hàm của ông Đồng là “công thư”. Một văn bản ngoại giao mà không giải thích nó có tính pháp lý, thừa nhận gì không, hay chỉ hỗ trợ ngoại giao.
Đến tháng 2/1974, khi Trung Cộng đánh chiếm Hoàng Sa từ tay Việt Nam Cộng Hòa, báo chí, sách vở, tuyên truyền của miền Bắc vẫn bịt mắt giữ vững lòng tin, lừa dân, “Trung Quốc lấy Hoàng Sa cũng vì lấy cho ta”!
Công hàm không có giá trị pháp lý
Người Việt có thể vin vào điều kiện thực tế lúc đó để lý giải có lợi cho mình. Công hàm được chính quyền Việt Cộng đồng ý với Trung Cộng không thể có giá trị pháp lý. Bởi vì quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa lúc đó thuộc sự quản lý của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa theo hội nghị tại San Francisco, Mỹ vào tháng 9/1951 về lãnh thổ sau chiến tranh thế giới thứ hai.
Trên thực tế quân đội Việt Nam Cộng Hòa đã đồn trú tại hai quần đảo trên. Trung Cộng chưa có gì.
Do đó, tuyên bố của nhà cầm quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không thể có giá trị. Bởi Việt Cộng không thể thừa nhận cho cái đang không phải của mình.
Để đấu tranh trong chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa hiện nay, nhà cầm quyền Việt Nam đương thời không thể phủ nhận Việt Nam Cộng Hòa không phải là một quốc gia. Tuy nhiên, việc thừa nhận này lại gặp phải một vấn đề khác. Hóa ra quốc gia miền Bắc đi xâm chiếm quốc gia khác chứ không phải là sự giải phóng như họ đã rêu rao suốt hơn 66 năm qua!?
Cho dù cho quốc gia có tính kế thừa, tiếp diễn điều đó không có nghĩa người dân Việt Nam phải chấp nhận việc chủ quyền do một nhóm người độc tài cai trị biếu không cho quốc gia khác để gia tăng lợi thế chính trị.
Không ngừng xâm chiếm, quấy phá
Sau chiếm Hoàng Sa, Trung Cộng không ngừng mở rộng việc đánh chiếm thêm các đảo ở Trường Sa. Xây dựng, cơi nới thêm trên các đảo chiếm của Việt Nam để biến thành những tiền đồn vững chắc. Cùng với đó, Bắc Kinh gia tăng việc quấy nhiễu lãnh hải Việt Nam, bắn giết ngư dân. Từ đặt giàn khoan Hải Dương 801 vào năm 2014, đến tàu Hải Dương Địa Chất liên tục quấy phá trong những năm gần đây.
Trong hơn 20 năm qua, chưa năm nào không có ngư dân Việt bị các lực lượng hung hăng hải cảnh, dân quân bán vũ trang của Trung Cộng vây bắt, đâm chìm. Của mất. Người thương tích. Nhiều xác người Việt vẫn vùi dưới biển sâu bởi sự tàn ác của Trung Cộng. Dân Việt bực tức, nhà cầm quyền Việt Nam chẳng dám gọi thẳng tên kẻ ác mà cứ “tàu lạ”, “nước lạ”.
Ngày 18/4 vừa rồi Trung Cộng tuyên bố thành lập hai quận Tây Sa (tức Hoàng Sa của Việt Nam), và Nam Sa (tức thuộc Trường Sa của Việt Nam). Hai quận mới này thuộc thành phố Tam Sa đã được thành lập vào tháng 7/2012.
Trước đó, Việt Nam đã hai lần gởi công hàm phản đối việc tự nhận chủ quyền lãnh hải quá mức của Trung Cộng lên các cơ quan của Liên Hiệp Quốc. Lần thứ nhất vào là Công hàm 257-HC năm 2016, lần thứ hai là Công hàm A/72/692 năm 2018. Và gần đây nhất vào cuối tháng ba vừa rồi.
Ngay sau đó Trung Cộng cũng gởi lu loa bằng nhiều cách, theo cách vừa ăn cướp vừa la làng. Trưng ‘bảo bối’ Việt Nam từng tán đồng với chủ quyền lãnh hải của Trung Cộng tuyên bố vào năm 1958.
Muốn bảo vệ chủ quyền, nhà cầm quyền CSVN phải để người dân lên tiếng về chủ quyền chứ không thể cấm người dân lên tiếng, phản đối theo cách của họ để làm đẹp lòng Trung Quốc.
Dân tộc Việt Nam quyết không để đảng Cộng Sản đem dân tộc này trói vào Trung Cộng như trong hội nghị Thành Đô vào năm 1990. Bởi khủng hoảng do virut Vũ Hán hiện nay trên thế giới đang trao thêm cho quốc gia Việt Nam cơ hội để thoát khỏi Trung.
Trương Nhân Tuấn (Danlambao) - Việc “leo thang” lý lẽ mấy hôm rày trong nội dung các công hàm giữa VN và TQ gởi Tổng thư ký LHQ làm “căng thẳng” khu vực Biển Đông. “Tiếng súng” có thể thay “tiếng nói” bất cứ lúc nào. “Leo thang” trong ngôn từ sẽ đưa “bàn cờ Biển Đông” vào thế “triệt buộc”.
Việc này làm "nóng" lại công hàm 1958 của Phạm Văn Đồng. TQ gởi công hàm ngày 17 tháng 4 năm 2020, vịn nội dung công hàm 1958 để khẳng định chủ quyền của TQ ở HS và TS.
Công hàm 1958 có giá trị pháp lý như lập luận lâu nay của TQ hay không? Nếu có thì làm thế nào để "hóa giải" hiệu lực?
Giữa VN và TQ không đơn thuần chỉ có tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ HS và TS mà còn có những yêu sách đối nghịch như về "quyền lịch sử" của TQ ở biển Đông. VN còn gặp nhiều khó khăn, một mặt đối thủ là "đại cường", có thể sử dụng vũ lực để "cả vú lấp miệng em". Còn có việc yêu sách vùng biển và thềm lục địa sinh ra từ các đảo. Việc này cũng đặt VN vào tư thế bất lợi.
Các đảo HS và TS hiển nhiên thuộc VN. Nhưng nếu VN yêu sách vùng biển và thềm lục địa phát sinh từ các đảo này rộng 200 hải lý như đất liền, thì VN có thể bị "gậy ông đập lưng ông". Nếu công hàm 1958 có hiệu lực, VN có thể mất cả chì lẫn chài, mất chủ quyền HS và TS là một. Mất vùng biển và thềm lục địa phát sinh chung quanh các đảo là hai.
VN cũng kẹt nếu hủy bỏ yêu sách “vùng biển phát sinh từ đảo”. Bởi vì, nếu đảo đó của mình, thì rõ ràng là phi lý, chuyện này không ai làm.
Ta thấy rõ sự lúng túng của VN trong các tuyên bố của VN về chủ quyền lãnh thổ và yêu sách hải phận.
Thí dụ năm 1977 VN ra bản đồ (gọi là bản đồ bụng chữa). VN yêu sách vùng nước và thềm lục địa chung quanh HS và TS, theo đó các đảo HS và TS có đầy đủ hiệu lực “đảo”, theo điều 121 Luật biển 1982.
So sánh ta thấy “bản đồ bụng chữa” của VN không khác mấy bản đồ chữ U chín đoạn của TQ.
Tuyên bố của VN ở các năm sau thông thường là "thả nổi", hiểu sao cũng được, kiểu "Luật Quốc tế về Biển 1982 là cơ sở pháp lý duy nhứt, toàn diện và triệt để, về phạm vi quyền được hưởng vùng biển giữa VN và TQ".
Theo tôi lựa chọn này là "thông minh". Bởi vì VN có thể bị vướng nguyên tắc "estoppel", nguyên tắc "không được nói ngược". VN không thế phản bác yêu sách đường chữ U của TQ trong khi VN cũng có yêu sách “bản đồ bụng chữa” tương tự. Ngay cả khi VN tuyên bố hủy bỏ yêu sách vùng biển 1977 thì việc bài bác yêu sách "đường chữ U" của TQ, trước một tòa quốc tế, cũng có thể làm VN phạm nguyên tắc "estoppel".
Anh không thể cấm người khác có quan điểm y chang như anh.
VN còn có tranh chấp do chồng lấn vùng biển kinh tế độc quyền và thềm lục địa, bề rộng 200 hải lý phát sinh từ đường cơ bản ven bờ.
Ngoài ra, làm như chưa đủ phức tạp, lại có vụ “thềm lục địa mở rộng”, theo điều 76 của Luật quốc tế về Biển. Quốc gia nào có thềm lục địa “có thể mở rộng được”, thì có thể mở ra đến 350 hải lý. Việc chống lấn vì vậy, ngoài vùng biển và thềm lục địa 200 hải lý, còn có chồng lần “thềm lục địa mở rộng”.
Hiển nhiên câu hỏi cần phải đặt (mà không thấy ai đặt) là VN "phác họa" chiến lược tranh tụng với TQ ra sao?
Nếu kiện TQ thì kiện về cái gì? Kiện ở đâu?
Ải đầu tiên nếu VN muốn đi kiện TQ, là phải chắc chắn tòa “có thẩm quyền phân xử”. Việc này có hai cái khó. Thứ nhứt, hai bên phải ký nhận thẩm quyền của tòa. Thứ hai, nội dung phân xử không bị “loại trừ” do việc “bảo lưu” của một bên.
Vụ Phi đơn phương kiện TQ ra Tòa Trọng tài thường trực ở La Haye (Hòa lan). Tòa tuyên bố có thẩm quyền và ra phán quyết ra ngày 14 tháng 7 năm 2016. Theo nội dung “giải thích và cách áp dụng Luật Biển khu vực nam Biển Đông”, Phi thắng kiện. Vấn đề là TQ không tham gia, vì cho rằng Tòa không có thẩm quyền. TQ không nhìn nhận và dĩ nhiên không tuân thủ phán quyết.
Hoc giả VN luôn “lên gân” muốn VN “kiện” TQ. Nếu có ai đó hỏi “sách lược kiện tụng của VN ra sao, kiện ở đâu, kiện cái gì”? Câu trả lời coi bộ khó!
Tuy nhiên, nói vậy là “hạ thấp” trình độ của học giả VN. Lâu nay học giả VN cũng rất siêng năng, rất chuyên chú ở việc tìm kiếm bản đồ.
Làm như khi ra tòa, VN ôm một chồng bản đồ TQ trong đó không có vẽ HS và TS là đủ chứng minh TQ không có chủ quyền ở HS và TS vậy.
Vụ “hiệu lực các bản đồ” từ 10 năm trước tôi đã có bài nghiên cứu, cho thấy là trước tòa, bản đồ không hề là một “bằng chứng”. Bản đồ chỉ có giá trị “thông tin”, giúp tòa làm rõ một vấn đề (còn mù mờ) nào đó.
Ngay cả việc bất nhất trong lập luận, về tư cách pháp nhân các thực thể VNDCCH, VNCH, CPLTMTGPMN... các học giả vẫn lọng cọng. Trong khi việc lựa chọn “tư cách pháp nhân” của VNCH và VNDCCH mới là điều quan trọng nhứt, là “yếu tố nền tảng”, quyết định VN “thắng” hay “thua” trong vụ kiện.
Chưa nói tới nội dung các “sách lược” phòng thủ và tấn công (vì đâu ai biết nó hình dáng ra sao?). Các học giả VN hiện nay hầu hết có quan niệm VNCH và VNDCCH là hai “quốc gia, độc lập có chủ quyền”.
Việc này tôi có nói (vô số lần) là “nguy hiểm”. Làm vậy là toàn bộ lịch sử VN, kể cả giai đoạn 1954-1975, đều được xét dưới ánh sáng của luật quốc tế.
Tức là khi đặt nền tảng hồ sơ kiện, với VNDCCH và VNCH là “hai quốc gia”. Bất kể lập luận ra sao, bằng chứng “chắc như bê tông”, tôi nghĩ rằng VN thua kiện 99%, ở bất kỳ một mục đích nào ghi ở trên.
Hồ sơ do tôi đề nghị từ nhiều năm nay, theo đó VNCH và VNDCCH là hai thực thể chính trị thuộc về một quốc gia “duy nhứt”, theo định nghĩa của hiệp định Genève 1954, khẳng định lại qua hiệp định Paris 1973. Tức là VN có tư cách pháp nhân là “quốc gia bị phân chia - divided state”. VNCH và VNDCCH là hai “quốc gia chưa hoàn tất”. Đây là cách nói khác của pháp nhân “quốc gia hai chế độ”.
Nếu ta xét thực tế lịch sử, từ 1954 tới 1975, VNDCCH chưa bao giờ là thành viên của bất cứ một định chế, một tổ chức nào thuộc LHQ. VNDCCH không có ghế đại diện LHQ đã đành. VNDCCH cũng không phải là thành viên của bất kỳ một công ước quốc tế nào hết cả. Không phải là VNDCCH “không muốn” gia nhập. Mà bởi vì VNDCCH không có “tư cách pháp nhân” để gia nhập.
Thực tế lịch sử nó là như vậy. VNDCCH không phải là đối tượng của công pháp quốc tế. Điều này không thể phản bác.
Tức là tất cả những hành vi, thái độ bất kỳ của VNDCCH, trước một vấn đề “quốc tế” thể hiện từ 1954 đến 1975, hiển nhiên không thể soi sáng bằng luật pháp quốc tế.
Cũng nên nhắc lại chi tiết, sau khi TQ xâm lăng Hoàng Sa của VN tháng giêng 1974, VNCH vận động Hội đồng bảo an LHQ can thiệp cũng như lập hồ sơ “sách trắng” tung ta Đại hội đồng LHQ để kiện TQ lên tòa Công lý Quốc tế. Ngay cả có hay không có sự “chống lưng” của Mỹ, VNCH bất lực, thất bại trong tất cả các cuộc vận động.
Không quốc gia nào can thiệp, hay tỏ thái độ với VNCH, ngoại trừ các tuyên bố phản đối của LX và các quốc gia khác lên án việc sử dụng vũ lực của TQ.
Đơn giản vì VNCH không có tư cách pháp nhân của “Quốc gia”. VNCH cũng như VNDCCH không phải là đối tượng của luật quốc tế.
Cả hai bên, VNCH và VNDCCH, đều không phải (hay chưa phải) là “quốc gia độc lập có chủ quyền”.
Nhưng trước một tòa án, các học giả VN vẫn có thể khẳng định rằng VNDCCH là “quốc gia”, như ý muốn. Vì từ khi “lập quốc” lãnh đạo VNDCCH đã nói như vậy rồi. Hệ quả ra sao? Thì thử làm rồi sẽ biết.
Khi các học giả VN không phản biện được hai bài viết tôi dẫn trên, ý kiến của một “tay mơ” về luật, thì các học giả đỉnh cao vô phương “cãi” lại lập luận các học giả TQ.
“Chiến lược” phòng thủ của tôi hết sức đơn giản. Biết mình biết người.
Biết mình đuối lý, không thể cãi với TQ bằng luật quốc tế. Thì mình kéo địch thủ qua một “mặt trận” pháp lý khác, mà trong đó luật quốc tế không thể áp dụng được, trong khoảng thời gian 1954-1975. Đâu ai có thể cấm mình được? Thực tế lịch sử nó là như vậy mà!
Tức là, chỉ cần “điều chỉnh” lại lập trường một chút, học giả đỉnh cao và đảng viên CSVN bớt “lên gân một chút”, khiêm nhượng một chút, can đảm một chút để nhìn thực tế lịch sử. Thì công hàm 1958 của Phạm Văn Đồng không có hiệu lực trước công pháp quốc tế.
Đơn giản chỉ có vậy.
Nhưng sau khi tôi đăng lại hai bài viết về “giá trị pháp lý” của công hàm 1958, khối người phản biện bằng những lý do hết sức buồn cười. Có người hỏi rằng khi TQ ra công hàm 1958 khẳng định chủ quyền và hải phận 12 hải lý thì VNCH phản ứng ra sao? Điều tương tự cũng thường thấy, đặc biệt trên BBC. Khi không thể phản biện được các lập luận của TQ bèn đỗ thừa trách nhiệm VNCH làm mất HS.
Cũng có người không thấy rằng các bài viết của tôi, các bài nói về hiệu lực pháp lý của công hàm 1958, có thể xem như là một hai miếng “puzzle” trên một tấm hình to lớn là “hồ sơ” chủ quyền lãnh thổ, hải phận và vùng biển của VN ở Biển Đông. Họ dẫn một vài đoạn trong bài viết đó rồi cho rằng đó là lập trường của tôi. Hiển nhiên là lấy chữ bỏ miệng người!
Trong khi chờ đợi công hàm của VN sẽ gởi tổng thư ký LHQ để phản biện các yêu sách của TQ. Tôi viết tóm lược ý kiến của tôi trong bài này. Hy vọng bộ ngoại giao VN tiếp nôi lập luận phản biện như đã thấy trong nội dung các công hàm năm 2016. Các học giả đỉnh cao cũng làm ơn bớt “lên gân”. Quí vị nói sướng cái miệng nhưng hệ quả có thể làm cho TQ có lý do trả lời bằng súng.
CTV Danlambao - Tài liệu sau đây do phái đoàn thường trực CSVN gửi Liên Hiệp Quốc vào ngày 25.08.2016 đã xác nhận Việt Nam Cộng Hoà là một quốc gia độc lập và Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam Cộng Hoà.
Do đó, chính Ba Đình đã công nhận rằng công hàm bán nước của Phạm Văn Đồng và bán nước của quốc gia khác.
Việt Nam Cộng Hòa, một quốc gia đích thực, quan trọng và không thể chối bỏ trong việc khẳng định chủ quyền tại Hoàng Sa và Trường Sa Như đã biết, Hoàng Sa và Trường Sa nằm ở phía Nam vĩ tuyến 17, do vậy theo các điều khoản của Hội nghị Geneve 1954 về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình tại Đông Dương, các quần đảo này tạm thời thuộc quyền tài phán của chính quyền Nam Việt nam trong khi chờ đợi một cuộc trưng cầu dân ý nhằm thống nhất đất nước. Câu hỏi đặt ra là: Nam Việt Nam có phải là một quốc gia trên thực tế (de facto)? Không nghi ngờ gì, câu trả lời là khẳng định. Nó được khẳng định thêm bởi lập trường của các bên hữu quan.
Bản ghi nhớ ngày 4 tháng 3 năm 1966 của Phòng Pháp lý bộ Ngoại Giao Mỹ dưới tên: “Tính hợp pháp của sự tham gia của Mỹ vào phòng thủ Việt Nam” có viết: “Các thỏa thuận Geneve năm 1954 quy định chia Việt Nam thành hai vùng vĩ tuyến 17. Mặc dù ranh giới này được hiểu tạm thời, nó được ấn định bởi một thỏa ước quốc tế, đặc biệt ngắn cấm sự xâm lược của một vùng này chống lại một vùng khác. Việt Nam Cộng Hòa ở phái Nam đã được công nhận như một thực thể quốc tế riêng bởi gần 60 chính phủ trên thế gới. Việt Nam Cộng Hòa đã được chấp nhận là thành viên của nhiều tổ chức chuyên môn của Liên Hiệp Quốc. Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc năm 1957 đã biểu quyết đề cử Nam Việt Nam là thành viên của tổ chức, và việc kết nạp chỉ bị ngăn cản bởi quyền phủ quyết (veto) của Liên Ban Xô Viết trong Hội Đồng Bảo An.
Trong cuốn sách của mình, chương “Các quốc gia như các thực thể quốc tế hiện đại”, Giáo sư Lauterpacht đã coi Việt Minh (Bắc Việt Nam), Việt Nam (Nam Việt Nam), Bắc Triều Tiên và Nam Triều Tiên là các quốc gia bị chia cắt phù hợp với luật quốc tế trước khi ký kết các thỏa thuận tại Geneve. hoàng sa và trường saĐừng gọi Việt Nam Cộng Hòa là NGỤY, vì đây là một chính thể được thừa nhận bởi luật pháp quốc tế và là mấu chốt quan trọng trong việc Việt Nam khẳng định một cách liên tục chủ quyền trên 2 quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.Friedmann, Mc Dougal, J.N Moore và UnderWood đều có chung một ý kiến: “Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và Việt Nam Cộng hòa hành động không sai lầm như các thực thể riêng biệt trên trường quốc tế. Họ có chính phủ riêng, các đại diện quốc tế riêng, có hiến pháp riêng, lãnh thổ riêng, dân chúng riêng, quân đội riêng và đã phát triển trong một thời gian dài theo những tư tưởng riêng biệt. Dù Việt Nam Dân Chủ Cộng HÒa và Việt Nam Cộng Hòa có là các quốc gia đầy đủ về mặt pháp lý hay không theo luật quốc tế và có những niềm tin chủ yếu rằng họ hợp pháp, thì ít nhất họ cũng là các thực thể quốc tế riêng biệt…”
Liên Bang Xô Viết, trong cuộc tranh luận về việc kết nạp thành viên mới của Liên Hiệp Quốc, qua phát biểu của ba đại biểu của họ, cũng đã công nhận quy chế quốc gia của Nam Việt Nam. “Cả tại Triều Tiên và tại Việt Nam đều tồn tại hai quốc gia riêng biệt khác nhau cả về cơ cấu chính trị cũng như kinh tế… Thực tế có hai quốc gia tại Triều Tiên và hai quốc gia tại Việt Nam… Quan điểm thực dụng nhất là chấp nhận có hai quốc gia với hệ thống chính trị đối kháng tại cả Triều Tiên và Việt Nam. Trong hoàn cảnh này, chỉ có một giải pháp có thể là kết nạp đồng thời cả bốn nước tạo thành Triều Tiên và Việt Nam… Hai quốc gia hoàn toàn độc lập và riêng biệt đã được thiết lập tại từng nước (Triều Tiên và Việt Nam) với hệ thống chính trị, xã hội và kinh tế khác nhau.
Về lập trường của Trung Quốc nhằm duy trì hai quốc gia Việt Nam để đảm bảo an ninh cho họ hỏi sự can thiệp của Mỹ, chỉ cần nhắc tại đây lời đề nghị ngày 22 tháng 7 năm 1957 của Thủ tướng nước Cộng hòa Nhân Dân Trung Hoa Chu Ân Lai với đại điện Nam Việt Nam tại Hội nghị Geneve, ông Ngô Đình Luyện, về việc lập cơ quan đại diện Nam Việt Nam tại Bắc Kinh, một ngày sau khi ký kết Hiệp định Geneve. Lúc đó, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa từ chối việc có một quốc gia Nam Việt Nam riêng biệt tồn tại mặc dù Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã ký Hiệp định Geneve mà điều 27 cho phép chính quyền Ngô Đình Diệm thừa kế các quyền và nghĩa vụ của Pháp trên phần lãnh thổ phía Nam vĩ tuyến 17. Tuy nhiên, lập trường cứng rắn này trên phương diện lý thuyết đã có thay đổi trên thực tế do sự xuất hiện của phong trào giải phóng dân tộc tại Nam Việt Nam. Xuất hiện khả năng của phong trào giải phóng dân tộc Việt Nam như một quốc gia riêng biệt. Tháng 3 năm 1965 Ủy ban Trung ương Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam tuyên bố: “Nhân dân miền Nam Việt Nam anh hùng đã quyết định…giải phóng lãnh thổ của mình và lập nên một quốc gia độc lập.”
Năm 1965, chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa trong chương trình bốn điểm của mình, liên quan tới các cố gắng nhằm thúc đẩy việc giải quyết xung đột ở Việt Nam bằng việc giải quyết xung đột ở Việt Nam bằng con đường đàm phán, đã chỉ khẳng định chủ quyền của mình trên phần lãnh thổ nằm ở phía Bắc của vĩ tuyến 17 khi nhấn mạnh rằng các vấn đề của miền Nam vượt ra ngoài thẩm quyền của mình.
Tài Liệu Việt Cộng Bán Nước Mẹ Cho Tàu Cộng
Chệt ơi ! Cho thiếp hỏi chàng: Thiếp đâu có đẹp dịu dàng như Nga Cũng không giàu giống Qatar… Tại sao chàng vẫn cứ sà vào yêu? Việt ơi ! Nàng chớ hỏi nhiều Tuy em không đẹp yêu kiều, mộng mơ Nhưng ta yêu nét ngây thơ Ngây thơ đến mức ngu ngơ của nàng Bao phen ta lỡ sỗ sàng Thế nhưng em vẫn nhẹ nhàng bỏ qua Còn dâng ta cả song Sa Mặc cho con cái lu loa khóc gào ! Thân em ta cũng sờ vào Đầu, chân, ngực, rốn… chỗ nào cũng ngon Vân Phong, Phú Quốc, Vân Đồn… Nàng đều bịt miệng các con dâng mình Chệt ơi ! Chàng quả có tình Để em chờ đợi tình hình bớt căng Em cho chàng 99 năm Chàng tha hồ đến ăn nằm với em ! Thích gì chàng cứ dựng lên Các con khóc mãi cũng quen thôi mà Mai sau thống nhất một nhà Con chàng – con thiếp đều là họ Trung ! Cảm ơn nàng nhé Việt cưng Anh thề suốt kiếp chẳng ngừng yêu em ! Mong trời xe chỉ, kết duyên Vợ chồng Chệt-Việt đổi tên thành Tàu !
Mới đây, một anh bạn của tôi tỏ ý không tin là có Thành Đô. Anh lập luận, chỉ còn một tháng rưỡi nữa là đến năm 2020, đâu thấy có dấu hiệu gì Việt Nam trở thành một tỉnh của Trung Quốc đâu ?
Tôi không hẳn chỉ muốn phản bác lại anh, mà là cố gắng xâu chuỗi lại các sự kiện để cùng anh đi đến kết luận : nguy cơ mất nước đang hiển hiện 100% và đảng cộng sản Việt Nam phải chịu tội này trước dân tộc Việt Nam.
Tôi đã nhắc lại với anh :
– Cuộc gặp bí mật tại Thành Đô – Trung Quốc là có thật 100%. Họ đến đó để cầu xin, quy phục cộng sản Trung Quốc. (Tôi muốn anh tìm đọc Hồi ký của Thứ trưởng Ngoại giao Trần Quang Cơ).
– Khi nhắc đến Hiệp ước Thành Đô thì ta không nên hiểu đó chỉ là một văn bản Hiệp ước được ký kết ngay cuộc gặp này, mà phải hiểu là tổng hợp tất cả những cam kết bằng miệng và bằng giấy tờ tại Thành Đô và tại những cuộc trao đổi giữa hai bên những năm sau đó trong quá trình đạt được bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc.
– Bức tường Berlin sụp đổ. Đảng cộng sản Việt Nam thấy rõ nguy cơ đe dọa. Họ đã chọn giải pháp quy hàng cộng sản Trung Quốc để có thể tiếp tục tồn tại. Trong ngoại giao chúng tôi gọi đó là giải pháp đỏ (hợp tác giữa những người cộng sản tại CPC và giữa TQ – VN).
– Họ chả có gì đủ mạnh để hy vọng đổi được sự che trở của TQ ngoài việc hứa đưa Việt Nam về chung ngôi nhà với Trung Quốc, tiến tới một thế giới cộng sản đại đồng. (Tôi khẳng định 100% đây là suy tính của những người lãnh đạo chóp bu lúc bấy giờ).
Tôi cũng chia sẻ thêm với anh:
– Lãnh đạo Việt Nam là những kẻ tiểu nhân, hứa thật cao để đạt được mục đích, sau nuốt hoặc trì hoãn thực hiện lời hứa là chuyện bình thường.
– Tuy nhiên, thâm nho như Tàu thì có mà chạy đằng giời, mọi món nợ đã trói chặt VN trong vòng kiểm soát của TQ. Những sự kiện cho thấy việc dần phải quy tụ lại với TQ, trong những năm qua, là rất rõ ràng:
+ Nhượng đất, nhượng biển đảo. + Cờ 6 sao (cố tình hay nhầm lẫn mà những ba bốn lần) + Chuyển đổi quân phục quân đội giống y TQ. + Bắt buộc học tiếng Trung. + Liên minh ngân hàng, tiêu tiền TQ trên lãnh thổ VN. + Hợp tác truyền hình, phát sóng tiếng Trung. + Hiệp định dẫn độ. + Người TQ tự do tràn ngập, có cả khu tự trị của người TQ, người VN không được vào. + Mọi dự án quan trọng đều lọt vào tay TQ.
(Danh sách này vẫn còn chưa đủ, mời quý độc giả bổ sung).
Bây giờ, tôi mới quay lại chủ đề chính của bài viết: Thành Đô – đặc khu – sách trắng quốc phòng.
Như chúng ta đều biết, vào năm ngoái Luật đặc khu bị người dân phản đối kịch liệt. Người dân chả cần phải cao siêu gì người ta cũng đều nhận xét, ký luật đặc khu là bán nước. Và mọi người đều biết suy luận, đó là hậu quả của Thành Đô. Tưởng chừng trước sức ép của người dân như vậy lãnh đạo Việt Nam cũng phải dè chừng trong câu chuyện đặc khu. Nhưng không, với bản chất của những kẻ tiểu nhân, chẳng bao giờ biết thành thật, chỉ biết dối trá, lừa dối cả chính nhân dân mình, họ đã đánh tráo khái niệm, thay đổi câu chữ, thay đổi quy trình, giữa tháng 11/2019, thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã lấp liếm ký rất „nhanh lẹ“, „kín đáo“ câu chuyện đặc khu.
Cùng với nó, quốc hội VN, ngày 25/11/2019, đã thông qua luật sửa đổi cho phép người nước ngoài được miễn thị thực khi họ đến các „khu kinh tế đặc biệt trên biển“. Thật là một sự phối hợp „nhịp nhàng“ và thông điệp cũng khá dễ để suy luận: những đặc khu này chỉ là dành cho Trung Quốc.
Câu hỏi đặt ra là tại sao họ phải làm mọi cách để thông qua câu chuyện đặc khu một cách mau lẹ như vậy, câu trả lời chỉ có thể là đặc khu là thành tố rất quan trọng trong quy trình quy tụ VN về với TQ và với sức ép từ phía TQ, nó không thể chần chừ thêm được nữa.
Như chúng ta đều biết, một hai tháng trước đây, câu chuyện TQ xâm phạm lãnh hải VN ở bãi Tư Chính đẩy quan hệ hai nước căng như dây đàn, tưởng chừng như sắp có chiến tranh đến nơi giữa VN và TQ. Nhưng rốt cuộc rồi mọi chuyện lại đâu vào đấy. Quan hệ hai nước lại quay về chỗ cũ như thể „chưa từng có một cuộc… ra tay“.
Tại sao lại như vậy? Rất khó hiểu và cũng rất dễ hiểu. Thông điệp dằn mặt, nắn gân của TQ với VN thì chỉ có người VN hiểu, hoặc phải cam chịu mà hiểu. Thông điệp phản đối, đáp trả của phía VN thì cũng rất „khôn khéo“ chỉ đủ để cho người TQ hiểu là được. Tóm lại, VN đã rất hài lòng chấp nhận với chính sách „gác tranh chấp cùng khai thác“ mà TQ từng đưa ra, có thể bỏ qua câu chuyện chủ quyền. Những phản ứng của ngoại trưởng Phạm Bình Minh tại LHQ thực chất cũng chỉ để nhằm đối phó với nhân dân mà thôi. Đại diện phía TQ vẫn ngồi nguyên trong diễn đàn để nghe phản ứng của ngoại trưởng Phạm Bình Minh cơ mà. Phải chăng thông điệp chính thức của phía VN muốn gửi cho phía TQ đã đi đêm qua kênh khác rồi.
Kế tiếp, cũng trong ngày 25/11/2019, Bộ quốc phòng VN cho công bố sách trắng quốc phòng. Người quan sát tình hình, chả cần phải quá thông thái mới nhận ra rằng : công bố sách trắng khẳng định chính sách 4 không lúc này là không đúng lúc. Trong khi TQ ngang ngược phản đối VN xâm phạm chủ quyền của TQ tại bãi Tư Chính, trong khi TQ đang làm hết sức, khiêu khích công khai, để khẳng định đường lưỡi bò của mình, thì VN lại ra sách trắng công khai tuyên bố chính sách 4 không, khẳng định không liên minh quận sự.
Tại sao từ chính sách ba không chuyển thành bốn không, chả có gì thật sự là mới mà VN lại phải ra sách trắng vào thời điểm này? Câu trả lời chỉ có thể là họ muốn chính thức chuyển một thông điệp làm yên lòng TQ: chúng tôi chấp nhận không liên minh với Mỹ để chống TQ, Hiểu một cách khác, chúng tôi sẽ không làm gì với những tranh chấp chủ quyền mà TQ mới tuyên bố tại biển Đông, chúng tôi gác vấn đề chủ quyền để cùng TQ khai thác hưởng lợi tại biển Đông.
Cuối cùng, tại sao VN phải hối hả làm cùng một lúc một loạt những việc liên quan đến TQ như kiểu „cưới chạy tang“ vào thời điểm cuối năm 2019 như vậy? Câu trả lời dễ chỉ có thể là năm 2020 đã quá gần, sức ép ông chủ TQ ngày càng lớn. Những gì thuộc quy trình Thành Đô như: đặc khu kinh tế trên biển, miễn thị thực, cam kết lời hứa năm xưa phải được thực hiện, để chứng minh sự trung thành với TQ.
Tóm lại, tôi và anh bạn của tôi thống nhất khẳng định: nói về Thành Đô là nói đến việc, đảng cộng sản VN vì sự tồn tại của mình, đã lấy đất nước VN ra để ngã giá, đổi lại sự che trở của đảng cộng sản TQ.
Tôi đoán biết, các bạn tôi tại Bộ Ngoại giao, trước sau cũng sẽ đọc được bài viết này của tôi. Tôi thiển nghĩ, các bạn nên đưa những gì tôi viết ở trên ra mổ xẻ, phân tích, tìm ra lối tránh vết xe đổ mù quáng của lớp lãnh đạo trước đây. Nếu để đất nước chìm sâu vào sự lệ thuộc TQ, chính các bạn là người có lỗi đầu tiên, như tướng Lê Mã Lương nhận định, vì các bạn là những người hiểu biết, tỉnh táo và sáng sủa nhất trong giới lãnh đạo hiện nay.
Mật Nghị Thành Đô, con đường tuyệt vời để thôn tính Việt Nam
Nguyên Thạch (Danlambao) – Nhiều câu hỏi dấy lên từ phía dân chúng Việt Nam lẫn cả một số quan chức, tướng tá trong bộ máy cầm quyền cộng sản Việt Nam (CSVN) rằng tại sao Tàu cộng lại hung hăng và cương quyết dồn mọi nỗ lực để hiện diện tại Biển Đông nói chung và bãi Tư Chính hôm nay nói riêng? Và tương lai gần thì những bước kế tiếp của Tàu cộng là gì?
Những biểu dương lực lượng hùng hậu, đông đảo hải lục không quân cùng các chiến hạm, tàu ngầm, tên lửa hành trình, đạn đạo tối tân và kể cả cái gọi là “Dân quân biển”, một bộ phận thuộc lực lượng dân quân Trung Quốc, hầu hết đã dồn vào mặt trận này.
Với lòng tham không đáy, cộng thêm tham vọng bá chủ hoàn cầu thì Biển Đông, nơi có tiềm năng về dầu khí, khoáng sản, hải sản… là những tố chất củng cố cho sự vững mạnh của quốc gia này về mặt vật chất. Ngoài ra, về mặt tinh thần cho một giống dân luôn tự mãn là nước TRUNG của thế giới, họ sẽ được các nước khác “xin phép” ông chủ Trung Quốc về vấn đề Không lưu và Hải Lưu khi muốn bay hoặc vận chuyển hàng hóa qua khu vực này, vùng mà trữ lượng hàng hải có giá trị hơn 5.000.000.000.000 (5 ngàn tỉ USD) mà nước này nắm chủ quyền.
Để trả lời cho những câu hỏi trên thì sở dĩ Trung cộng có thái độ hung hãn và ngang nhiên như vậy là vì Tàu cộng đã nắm trong tay bản ký kết của “Mật Nghị Thành Đô 1990 tại Thủ phủ Tứ Xuyên Trung Quốc vào hai ngày 3 và 4 tháng 9-1990 do Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười và Phạm Văn Đồng thay mặt ĐCSVN. Về phía Trung Quốc có Giang Trạch Dân, Lý Bằng cùng các đại diện BCT-ĐCSTQ.
Ai cũng biết là câu tuyên bố của cựu Tổng bí thư đảng cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) Nguyễn Văn Linh:
Lời tuyên bố cùng sự lựa chọn của một Tổng bí thư từ một đảng mà Hiến pháp nước CHXHCNVN trong điều 4 đã ghi rõ “ĐCSVN là cơ quan lãnh đạo toàn diện và triệt để” thì ý định của đảng CSVN không còn gì rõ hơn thế nữa.
“Việt Nam đã thua toàn diện trước Trung Quốc trong cuộc chiến ngoại giao Thành Đô. Một trận thua mà ông Nguyễn Cơ Thạch phải kinh sợ: “Một thời kỳ Bắc thuộc rất nguy hiểm đã bắt đầu!”
Cho dù mang ý nghĩ chủ bại, hèn hạ và phản bội với đất nước, với dân tộc, nhưng Nguyễn Văn Linh vẫn khăng khăng với tinh thần chủ bại và hèn hạ đó: “Tôi vẫn nghĩ thế là đúng. Tôi không thấy ân hận…” (1)
Cùng một thái độ hèn mạt ấy, hôm nay Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Thị Kim Ngân cùng các HÈN TƯỚNG trong quân đội và côn an lại không khác gì với tên phản quốc Nguyễn Văn Linh.
Giữ chức Thượng tướng, Thứ trưởng Bộ quốc phòng, Tổng cục trưởng Tổng cục 2 (2002-2009) Nguyễn Chí Vịnh là nhân vật chính trong chủ trương 3 Không:
– Không tham gia các liên minh quân sự, không là đồng minh quân sự của bất kỳ nước nào.
– Không cho bất cứ nước nào đặt căn cứ quân sự ở Việt Nam.
– Không dựa vào nước này để chống nước kia.
Trong tình thế ở Biển Đông, cũng như trên đất liền hiện nay mà Tàu cộng với tiềm năng vũ lực đông, vũ khí mạnh đã và đang hung hãn lấn chiếm các đặc khu kinh tế ở Biển Đông có trữ lượng dầu khí lớn, các cứ điểm quan trọng trên đất liền và nắm chủ đạo về nền kinh tế Việt Nam thì 3 KHÔNG trên là chủ ý CÔ LẬP Việt Nam vốn dĩ đã yếu lại càng cô độc hơn. Đây được xem là mưu đồ vô cùng thâm độc của bá quyền Trung cộng nhằm cô lập Việt Nam với các nước hùng mạnh trên thế giới, trong đó đặc biệt là Hoa Kỳ.
Nắm trong tay những tài liệu, chứng cứ tày trời của ĐCSVN đã van lạy và ký kết, Tàu cộng sẽ chẳng ngần ngại gì mà không tiếp diễn những bước hung hãn kế tiếp sau vụ bãi Tư Chính như xâm chiếm nốt những đảo còn lại do QĐVN còn đang trấn giữ, hoặc ngay cả tiến hành khai thác dầu khí ngay trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam (EEZ) là những điều không thể tránh khỏi, vì đảng cùng guồng máy cầm quyền CSVN đã tạo cơ hội rất thuận lợi cho chuyện thôn tính này. (2)
Nếu các tướng lãnh và quan chức cao cấp của Việt Nam không thức tỉnh kịp thời để sát cánh toàn diện về mọi sách lược với Hoa Kỳ và xem Mỹ cùng các quốc gia tiên tiến vững mạnh là những Đồng Minh chiến lược để giải trừ Tàu cộng thì Việt Nam xem như đã mất và dân Việt lại chìm vào trong chuỗi ngày nô lệ.
18/8/2019
Ghi chú:
(1) Trần Quang Cơ và Nguyễn Văn Linh
(2) Trung Quốc sẽ không bao giờ từ bỏ dã tâm thôn tính Việt Nam
Điện thoại Huawei công khai xem Việt Nam như là thuộc Trung cộng
(Không một lời phản đối của VC)
*****
Vua Lê Thánh Tông (1442 – 1497) từng căn dặn triêu thân và toàn dân:
“Ta phải giữ gìn cho cẩn thận, đừng để ai lây mât 1 phân núi, 1 tâc sông do vua Thái Tổ để lại”.
Cũng cái kiểu ‘ăn căp’ đó, cách đây 60 năm, tại Đên Hùng, cáo Hô có tuyên bô:
“Các Vua Hùng đã có công dựng nước – Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lây nước”!!!!!!!!
Và rât ư là trung thành với Đảng trưởng, bọn thảo khâu VC nay đang ‘nói một đường, làm một nẻo’ (một trong những lý do chính mà đã khiên Vi Đức Hôi, một Milovan Djilas Việt Nam như Bùi Tín, như Trân Anh Kim hay Tô Hải, NHỮNG NGƯỜI mà chúng tôi RÂT KÍNH PHỤC),
đã phải tuyên bô trong chương trình Trên Cánh Đông Mây ngày 18 tháng 4 năm 2015, là lý do từng khiên ông từ bỏ cái Đảng mà ông đã mên yêu kính phục từ khi lọt lòng, sau khi ĐƯỢC THÔNG TIN ĐÂY ĐỦ và KHÔNG CÒN BỊ BÍT MĂT!).
Một trang sử NGÀN NĂM Ô NHỤC, ĐƯA VOI VÊ DÂY MẢ TỔ: Ôi, đau thương!
Rât ư là ngu si và lạc hậu, chúng đã NÚP LÉN băt tay với Tàu Cộng để bán đứng Đât Nước Việt Nam Yêu Quý Ngàn Năm của chúng ta.
Nhưng làm sao nói được?
Những đâu óc ‘đỉnh cao trí tuệ loài Người’, những sinh vật mà chịu cho con gái đi XIN nhập quôc tịch của cái thăng Mỹ mủi lỏ măt xanh mà cái đảng thảo khâu của mình đã từng khoe khoang đánh cút đi, hay là có cái cung điện lát vàng hâu hoang dâm với ngay con dâu của mình, thì làm sao thây được là thê giới ngày nay đã tiên, và chúng sẽ chỉ là những con chó đói đứng trên sân ga nhìn đoàn tàu Việt Nam ra đi (nêu chúng sẽ không bị băn bỏ như vợ chông Nicolae Ceaușescucủa Lổ-ma-ni dạo 1989).
Tuy đây chỉ là một hành vi và thái độ LÃO HÓA THÂT HỌC lạc lỏng từ thời thuộc địa của bọn VC, chúng ta cũng nên lưu ý và phổ biên cho toàn dân biêt, hâu SỚM ĐỨNG LÊN quét nhà rữa sạch Đât Nước!
SỰ THẬT ĐAU ĐỚN BỌN VC TRONG SUÔT QUÁ TRÌNH HIỆN DIỆN TỪNG ĐÃ DÂNG NƯỚC MẸ CHO TÀU CỘNG vẫn bị tô cáo công khai trên diễn đàn quôc tê, qua rât nhiêu công trình nghiên cứu tường tận công phu và khoa bảng như là:
North Vietnam Today: Profile of a Communist Satellite, (tác già J. P. Honey, nhà xuât bản New York: Frederick A. Praeger, 1962)
From Colonialism to Communism, (tác giả Hoàng Văn Chí, nhà xuât bản New York: Frederick A. Praeger, 1964)
Vietnam and China, 1938-1954, (tác giả King Chen, nhà xuât bản Princeton, New Jersey: Princeton University Press, 1969)
La Bureaucratie au Vietnam: Vietnam-Asie débat, (tác giả George Boudarel, nhà xuât bản Paris: L’Harmattan, 1983)
Following Ho Chi Minh: Memoirs of a North Vietrnamese Colonel, (tác giả Bùi Tín, nhà xuât bản Honolulu: University of Hawaii Press, 1995)
China and the Vietnam Wars, 1950-1975, (tác giả Qiang Zhai, nhà xuât bản Chapel Hill: University of North Carolina Press, 2000)
Và gân đây, vân đê đã càng CÂP THIÊT BI ĐÁT qua các tài liệu chúng tôi tạm thu thập được sau dây:
1/
Dưới đây là loại bài mà đang cung câp rât ư là nhiêu dữ kiện bí mật vê sự kiện Quôc Nhục này, và vẫn đang được tiêp tục đăng trên:
(LƯU Ý: Nêu Ctrl+Click trên mây ‘links’ đường nôi mà không thành công, thì người đọc phải chịu khó ‘Copy+Paste’ (Sao y+Găn) lại vô khung ‘browser’ của mình!).
Ngoài ra, thì cũng đang có khá nhiêu tài liệu cho thây tham vọng vô bờ bên của bọn Trung Cộng (mà đám VC bán nước vẫn đang tự ‘bịt măt’, chỉ vì cứ lo bảo vệ cái miêng ‘đỉnh chung’, mà chúng ngu si nghỉ là có thể kéo dài mãi mãi!).
Chẳng hạn như ngay tài liệu của tay TƯỚNG VC NGUYỄN TRỌNG VĨNH VẠCH MẶT CŨNG MỘT TAY TƯỚNG VC KHÁC LÀ NGUYỄN CHÍ VỊNH BÁN ĐỨNG GIANG SƠN CHO TÀU CỘNG (Ây cũng lạ, VC gộc mà cũng biêt thức tỉnh ta?) tại
Dưới đây là bài bình luận của Ian Bremmer, Chủ Tịch củaEurasia Group, một nhóm chuyên gia quôc tê ước lượng vê các hiểm nguy hiện tại trong những liên hệ trên toàn thê giới, bình luận gia vê mục thời sự thê giới đang cộng tác không toàn thời gian với báo Time, vào ngày 22 tháng giêng năm 2015.
Băc Kinh quả có đẩy mạnh được các môi liên lạc vê giao thương,
nhưng vẫn không thể tạo được những đông minh khả tín.
Trong khi Trung Quôc tiêp tục tăng trưởng, Băc Kinh sẽ cũng phải cân những đông minh đáng giá mà thôi. Nhưng đây quả là một vân đê, bởi vì họ không hê có được bât kỳ đông minh nào cả. Đúng, quả thật là Trung Quôc đã trở thành quôc gia đang có giao thương vào hàng chính yêu với hơn cả 100 quôc gia trên thê giới. Nhưng khi đê cập đên tiêu chuẩn thê nào là mới có được ảnh hưởng quyêt định vê chính sách đôi ngoại của một cường quôc thì quả đang có một sự khác biệt to lớn giữa những ai mới là bạn và ai mới là đông nghiệp vê kinh doanh của ai đó mà thôi.
Đang có bao nhiêu là chính phủ, mà ít ra, cũng chia xẻ phân nào cùng ý thức hệ với Trung Quôc? Nêu có chăng thì chúng chỉ toàn là đám quôc gia vô lại như là Băc Triêu Tiên, Venezuela, Sudan và Zimbabwe mà đang đứng đâu cái danh sách này. Quả không thể nào sẽ là một đội ngũ có tính cách quyêt định và ảnh hưởng trên chính trường quôc tê được. Và rôi, thì sẽ cũng không thể có được điêu gì khá hơn được nữa, khi mà Trung Quôc lại cứ can thiệp và lũng đoạn tại các nước đây rôi răm này.
Vậy thì Nga-sô thì sao? Moscow có thể cung câp cho Băc Kinh những nguôn năng lượng trong trường kỳ và giúp Trung Quôc kêm chê được Mỹ ở châu Á. Nhưng Châu Âu, Mỹ và Nhật Bản mới sẽ vẫn là các nước giao thương lớn nhât với Trung Quôc trong một tương lai gân đây. Nga thì không đáng kể đên, và chính điêu này đã khiên Trung Quôc từng không sẵn sàng tham gia cùng Vladimir Putin trong những nỗ lực phá đám phương Tây. Hơn nữa, Trung Quôc và Nga sô cũng vẫn thường xuyên tranh dành ảnh hưởng tại các nước Trung Á năm giữa họ.
Và cũng đang có quá ư là điêu để mà Băc kinh phải bận tâm.
Venezuela là trường hợp tiêu biểu của một cái thùng rỗng không đáy
Vào đâu tháng Giêng, Trung Quôc đã đông ý để đâu tư 20 tỷ Mỹ kim hâu hỗ trợ chính phủ Venezuela. Nhưng quả thật là Băc Kinh chỉ đang đem muôi bỏ biển mà thôi. Mức độ ủng hộ Tổng thông Nicolás Maduro đã xụp đổ nát tan và xuông tới mức tận cùng, chỉ còn là 22% thôi. Kinh tê quôc gia thì đang tan hoang và tỷ lệ lạm phát cũng là một trong những tỷ lệ cao nhât trên toàn thê giới. Nêu giá dâu thô vẫn bị rẻ rê như hiện nay, thì Venezuela sẽ chăc chăn phải bị phá sản mà thôi.
Sri Lanka thì lại đang chuyển hướng
Trung Quôc đã đặt cọc canh phé lớn vào việc liên kêt với Tổng thông Sri Lanka Mahinda Rajapaksa, với hơn cả 4 tỷ Mỹ kim tiên đâu tư. Vào năm 2014, lân đâu tiên, tàu ngâm Trung Quôc đã tới được để neo bên tại Sri Lanka – ngay tại một hải cảng cũng thuộc quyên sở hữu của Trung Quôc – và nhân đó, cũng đã gây ra lục đục ngoại giao giữa Trung Quôc với đôi thủ Ân Độ. Nhưng trong một cuộc bâu cử mới đây thôi, cựu Bộ trưởng Bộ Y tế Maithripala Sirisena đã vận động mạnh mẽ theo tôn chỉ là cân phải chông lại các chính sách thân Băc Kinh của Rajapaksa, và rôt cuộc đã chiên thăng, khiên Trung Quôc mât đi một đông minh rât ư là đáng tin cậy từ lâu nay.
Băc Hàn thì đang đói kém
Hiện thì quả không có được một quôc gia nào khác mà lại chêt sông và lệ thuộc kinh tê vào Trung Quôc hơn được cả, vì Băc Hàn đang được cung câp tới gân cả 90% năng lượng, cũng như hâu hêt thực phẩm của họ từ Trung Quôc. Ngay trong năm 2013, Trung Quôc cũng đã chiêm đên gân 80% của toàn trị giá giao thương quôc tê là 8 tỷ 6 Mỹ kim của Băc Triêu Tiên. Vậy thì Trung Quôc đã nhận lại được gì? Tương đôi thì chỉ là một tình trạng hòa bình tạm thời. Nhưng rôi sẽ cho đên ngày nào đây?
Sudan thì đúng là ‘bù lủng’
Trung Quôc đã đâu tư rât ư là nhiêu vào Sudan trong những thập niên gân đây, và đã chi tiêu cả hàng tỷ Mỹ kim để có thể đưa cho được loại dâu thô, băng các ông dẫn từ các vùng miên Nam đên các hải cảng phía Băc, hâu chuyển vê cho Trung Quôc. Sau đó, một cuộc nội chiên đã đe dọa chương trình đâu tư của Trung Quôc, và vào năm 2011 thì Sudan lại bị chia ra làm thành hai quôc gia. Nay thì Băc Kinh lại phải đôi phó với những xung đột trong vùng nội địa với nhiêu dâu mỏ nhưng không có ngỏ để thông thương ra biển phía dưới của Nam Sudan, nơi mà một tình trạng tăng gia đây bạo lực đã giêt chêt hơn 10.000 người và khiên hơn 1 triệu người phải đành phải lìa bỏ nơi chôn nhau căt rún. Một đội tiên phong để gìn giữ hòa bình của Trung Quôc cũng đã đên đó vào đâu tháng Giêng, và khoảng 700 bộ đội Trung Quôc thì dự trù cũng sẽ đên vào tháng tư này.
Cu-ba và Miên-điện thì lại đang đi tìm đông minh khác thôi
Một sô chê độ mà đã từng cương quyêt tự cô lập nhât trên thê giới, thì hiện lại đang tự mở cữa ra và đang cô thoát bỏ tình trạng từ lâu nay họ đã từng phải quá bị lệ thuộc vào Băc Kinh. Trung Quôc đang là quôc gia giao thương lớn nhât của Cuba mà cũng là tay chủ nợ lớn nhât của họ, nhưng nêu họ thiêt lập được những môi quan hệ bình thường với Mỹ thì rôi một hoàn cảnh hoàn toàn khác biệt giữa Havana và Washington sẽ phải xẩy ra mà thôi. Trung Quôc thì vẫn đang là quôc gia giao thương lớn nhât của Miên Điện và cũng là quôc gia chính đang cung câp mọi loại vũ khí cho họ. Nhưng kể từ khi nước này đưa ra những cải cách dân chủ vào năm 2011 thì những quôc gia chủ trương dân chủ như Nhật Bản và Singapore cũng đã dành xong được những vị trí vững chăc nhờ đã đâu tư tại đó từ lâu mât rôi.
4/
Cũng như dưới đây là một tài liệu cân xem để ý thức được ĐẠI VÂN NẠN QUÔC GIA hiện nay:
Giám Đôc Trung Quôc Sự Vụ của Viện Pháp-Á tiêt lộ động trời: Hô Chí Minh và Ðảng CSVN đã bán nước Việt cho Trung Quôc như thê nào?
LGT.- Tác giả Yên Tử Cư Sĩ Trân Đại Sỹ hiện là Bác Sĩ Giám Đôc Trung Quôc Sự Vụ tại Viện Pháp-Á (IFA), Thành Viên trong Y Sĩ Đoàn Pháp Quôc. Ông là người câm bút nổi tiêng trước và sau năm 1975, đã ân hành được hơn 100 ngàn trang sách vê lịch sử và y học. Sự kiện Đảng CSVN đã hiên đât dâng biển cho Trung Quôc ra sao? Bí mật của vụ này đã được Bác Sĩ Trân Ðại Sỹ trình bày trong Bản Ðiêu Trân trước cơ quan IFA và được Saigon HD Radio trích đoạn các phân quan trọng sau đây:
Bác sĩ/Tác giả Trân Đại Sỹ hội ngộ cùng 3 cựu Sĩ Quan Võ Bị Dalat tại Dallas (Texas) ngày 26 tháng 5 năm 2012. Hình từ trái qua phải: Thi văn sĩ Quôc Nam (Khóa 22 VB), BS Trân Đại Sỹ, cựu Trung Tá Nguyễn Quang Vinh (Khoá 14 VB), và cựu Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng Bình-Tuy Nguyễn Ngọc Ánh (Khóa 16 VB).
Bản điêu trân nêu lên nhiêu chi tiêt đau lòng. Theo BS Trân Ðại Sỹ, “Vụ căt đât ký ngày 30-12-1999 thì tôi được biêt tin chi tiêt do hai ký giả Trung-quôc là bạn với tôi thông báo vào ngày 9-1-2000 nghĩa là 10 ngày sau, hai anh thuật, theo tinh thân bản hiệp định thì: Việt-Nam nhường cho Trung-quôc dọc theo biên giới 789 cây sô vuông (chứ không phải 720 như tin lộ ra trong nước) thuộc hai tỉnh Cao-băng, Lạng-sơn”.
Trong khi đó, Bộ Giao Thông CSVN lặng lẽ sơn lại các cọc cây sô và Bộ Ngoại Giao CSVN cũng lặng lẽ lên trang web sửa thành câu văn mới: “lãnh thổ Việt-Nam khởi từ cây sô không ở phía Băc”.
Lý do, theo BS Sỹ, vì “Cái cây sô không đó là cây số 5 cũ đâỵ.
Cột cây sô Zéro bây giờ ở phía Nam cột Zéro cũ 5 cây số. Từ cây sô Zéro đên cây sô 5 nay thuộc Trung-quôc”.
Các phân quan trọng trong bản văn ghi như sau:
Bí ẩn vê việc đảng CSVN, Lãnh đạo nhà nước căt lãnh thổ, lãnh hải cho Trung-quôc
Bản điêu trân của Yên-tử cư-sĩ Trân Ðại Sỹ
BS Trân Ðại-Sỹ, 5, place Félix Éboué 75012 PARIS, FRANCE.
LGT: Trong mây tháng gân đây, nội địa Việt-Nam cũng như hải ngoại đêu rúng động vì tin nhà nước hay nói đúng hơn là đảng Cộng-sản Việt-Nam đã nhượng lãnh thổ, lãnh hải cho Trung-quôc. Ðau đớn nhât là địa danh lịch sử Nam-quan đi vào tâm tư là niêm tự hào của tộc Việt nay đã ở trong lãnh thổ Trung-quôc.
Ngay cả hang Pak-bo là thánh địa của đảng Cộng-sản, trước kia ở cách biên giới Hoa-Việt trên 50 km, nay đứng ở đây gân như nhìn vào lãnh thổ Trung-quôc. Trong suôt 25 năm qua, Bác-sĩ Trân Ðại-Sỹ vì ký khê ước làm việc với Liên-hiệp các viện bào chê châu Âu (CEP) và Ủy-ban trao đổi y học Pháp-hoa (CMFC), trong đó có điêu căn bản là “không được viêt, được thuật những gì với báo chí vê Trung-quôc, Việt-Nam hiện tại; không được tham gia các đoàn thể chính trị chông đôi Trung-quôc, Việt-Nam” nên không bao giờ ông tiêt lộ bât cứ điêu gì măt thây tai nghe trong những lân công tác tại Trung-quôc hay Việt-Nam. Tuy nhiên, ông đã được một cơ quan (chúng tôi giâu tên) triệu hôi để điêu trân vê vụ này. Theo luật lệ hiện hành mà Bác-sĩ Trân phải tuân theo, rât mong các vị đứng đ6u CEP-CMFC thông cảm với chúng tôị (IFA).
Thực là hân hạnh, khi mới ngày 17-3 vừa qua, chúng tôi được cử đên đây để trình bây những vụ việc đang diễn ra tại vùng Á-châu Thái-bình dương. Hôm nay, chúng tôi lại được gửi tới trình bây vê diễn biên trong vụ việc chính phủ Cộng-hòa Xã-hội Chủ-nghĩa Việt-Nam (CHXHCNVN) căt nhượng lãnh thổ, lãnh hải cho Trung-hoa Nhân-dân Cộng-hòa quôc (THNDCHQ), gọi tăt là Trung-quôc. Ðây là một việc cực kỳ tê nhị, cực kỳ khó khăn cho tôi, làm thê nào giữ được tính chât vô tư vì:
– Thứ nhât, tôi gôc là người Việt, hơn nữa thuộc giòng dõi một vị Vương đứng hàng đâu trong lịch sử Việt, vì ngài thăng Mông-cổ liên tiêp trong ba lân vào thê kỷ thứ 13 mà nay tôi phải nói vê những người đem lãnh thổ Việt nhượng cho Trung-quôc, khó mà diễn tả lời lẽ vô tư cho được.
– Thứ nhì, ngoài chức vụ giáo-sư Y-khoa ra, tôi là một tiểu thuyêt gia, đã viêt trên mười bôn nghìn trang, thuật huân công của các anh hùng tộc Việt trong việc dựng nước, giữ nước mà suôt trong năm nghìn năm lịch sử, chỉ duy năm 1540, giặc Mạc Dăng-Dung căt đât dâng cho triêu Minh của Trung-quôc bị tộc Việt đời đời nguyên rủa. Vậy mà nay phải chứng kiên tận măt lãnh thổ Việt bị căt cho Trung-quôc.
– Thứ ba, các sinh viên Việt-Nam muôn du học Pháp thường bị vài tổ chức đòi phí khoản 20 nghìn USD mỗi đâu người. Một vị Ðại-sứ của Việt-Nam tại châu Âu mời tôi vê nước (tât cả chi phí do tiên của IFA) để giúp sinh viên Việt-Nam du học Pháp. Với sự hướng dẫn của tôi, từ nay sinh viên muôn du học Pháp, họ đã biêt rât rõ những gì phải làm, những gì phải chứng minh. Họ không phải tôn một đông nào cả nhưng khi trở vê Pháp, lúc lên phi cơ tại phi trường Tân-sơn-nhât, tôi bị ba sĩ quan cao câp của Công-an chờ sẵn, hạch sách, khám xét trong khoảng 98 phút băng những câu hỏi có tính cách nhục mạ, ngớ ngẩn, lời lẽ cục súc. Tôi cho đây là một hình thức khủng bô. Thưa Quý-vị, hôm đó tôi chỉ cười nhạt, khinh rẻ vì tôi biêt rât rõ kiên thức, mục đích của họ trong khi họ không đủ khả năng bịa ra bât cứ tội gì để kêt tội tôi. Hơn nữa, tôi giữ trong tay một ủy nhiệm thư, theo Công-pháp Quôc-tế, họ không thể công khai vị phạm.(1)
Ghi chú(1)
Trong lân vê Việt-Nam này, chúng tôi thuê xe đi Lạng-sơn. Khi tới trạm biên giới mới, chúng tôi xin sang lãnh thổ Trung-quôc mới (Nam-quan cũ) thì bị Công-an Việt-Nam từ chôị. Chúng tôi đặt vân đê: Chúng tôi mang thông hành Liên Âu, có visa hợp pháp vào Việt-Nam, thì chúng tôi có quyên ra khỏi Việt-Nam chử Công-an cửa khẩu trả lời răng: Ông có visa ra vào cửa khẩu Tân-sơn-nhât, Nội-bài, chứ không có quyên rời Việt-Nam băng cửa Hữu-nghi. Chúng tôi xin chụp hình cửa khẩu mơí, thì họ không chọ. Chúng tôi đành trở vê, rời Tân-sơn-nhât, rôi đi Quảng-châu, từ Quảng-châu đi Nam-ninh. Từ Nam-ninh thuê xe tới Băng-tường là đât Trung-quôc đôi diện với Nam-quan. Rôi vào Nam-quan cũ – Ðứng trước vùng đât thiêng của tổ tiên, nay vĩnh viễn trở thành đât của người, tự nhiên tôi bật lên tiêng khóc như trẻ con. Viên sĩ quan Công-an Trung-quôc tưởng tôi là người Hoa, anh ta hỏi:
– Tiên sinh có thân nhân tử trận trong dịp mình dạy bọn Nam-man bài học à?
Tôi lăc đâu, khóc tiêp, anh an ủi:
– Thôi, người thân của Tiên-sinh đã hy sinh dưới cờ thực nhưng nay bọn Nam-man đã dâng đât này tạ tội rôị, Tiên sinh chẳng nên thương tâm nhiêụ.
Tôi kiêm tảng đá ngôi ôm đâu khóc. Anh Công-an bỏ mặc tôị. Khóc chán, tôi trở sang Băng-tường, kiêm một cơ sở mai táng (xây mộ, làm mộ chí). Tôi mượn họ khăc trên một miêng đá bóng nhân tạo (granite) bài thơ băng chữ Hán như sau:
Ðại-Việt vong quôc nhân Trân Ðại-Sỹ-Khóc đê lục nhật, cửu nguyệt, niên đại 2001.
Tôi đem tảng đá này, găn vào một vách núi ngay cạnh đường, trên độ cao khoảng 2-3m. Công-an, cán bộ Trung-quôc xúm lại xem nhưng họ chỉ hiểu lơ mơ ý trong thơ mà thôị – Xin tạm dịch:
1.(Ðât này xưa gọi Nam-quan,)
2.(Vôn là biên địa cô hương của mình.)
3.(Hiện nay là đât Trung-nguyên,)
(Khóc chảy máu măt, đoạn trường ai hay)
5.(Vua Lê thăng Tông chỗ này,)
6.(Thường Kiệt rượt Tiêt cả ngày lẫn đêm,)
7.(Thánh Trân sát Ðát liên miên,)
8.(Lê Lợi giêt bọn Thành-sơn bên đôi,)
9.(Càn-Long chinh tiễu than ôi,)
10.(Quang-Trung truy sát muôn đời khó quên.)
11.(Năm nghìn năm cũ qua rôi,)
12.(Chợ biên giới lập, đời đời Việt-Hoạ)
13.(Ông Hô kêt bạn ông Mao,)
14.(Sao răng lại căn, máu trào môi sưng.)
(Vạn dân xương trăng đây đông,)
(Ðể lại trên lá cờ Hông vêt nhơ)
(Người nước Ðại-Việt vong quôc tên Trân Ðại-Sỹ, khóc đê thơ
ngày 6 tháng 9 năm 2001)
—
Câu 5,. Vua Tông Triệu Quang-Nghĩa sai Hâu Nhân Bảo, Tôn Toàn Hưng sang đanh VN, bị vua Lê (Hoàn) đánh bạị
Câu 6, Năm 1076, vua Tông Thân-Tông sai bọn Quách Quỳ, Triệu Tiêt mang quân sang đánh Ðại-Việt, bị Thái-úy Lý Thường Kiệt đánh đuổị
Câu 8, Tước của Vương Thông là Thánh-sơn hâụ.
Câu 10, Vua Quang-Trung còn có tước phong là Băc-bình vương.
Câu 14, Hôi 1947-1969 Chủ-tịch Trung-quôc là Mao Trạch Ðông, Chủ-tịch Việt-Nam là Hô Chí Minh kêt thân với nhaụ Việt-Hoa ví như răng với môị. Vì sợ môi hở răng lạnh nên ông Mao phải giúp ông Hô- Năm 1979, Ðặng Tiểu Bình đem quân tàn phá các tỉnh biên giới phía Băc Việt-Nam, nên người ta đổi câu trên thành: Răng căn môi máu chảy ròng ròng.
– Tháng 9 vừa qua, Ðảng Cộng-sản Việt-Nam liệt tôi vào danh sách 80 người phản động nhât vì năm 1997 , tôi đã viêt một bài tiêt lộ những chi tiêt tuyệt mật vê cuộc viêng thăm Trung-quôc của Tổng Bí-thư Ðỗ Mười, Thủ-tướng Võ Văn-Kiệt, nhât là cuộc họp mật của hai nhân vật này với Chủ-tịch Trung-quôc Giang Trạch Dân. Tôi viêt dưới hình thức hài hước cho tờ báo Văn-nghệ Tiên-phong ở Virginia, USA , số Xuân 1998. Nội dung của bài đó là một phân bài thuyêt trình của tôi với Quý-vị cuôi năm 1997. Như Quý-vị biêt vê Cộng-sản, khi họ kêt tội ai phản động có nghĩa là toàn đảng phải dùng hêt khả năng tiêu trừ người âỵ (2).
Ghi chú (2)
Tôi không tin chỉ với bài này mà họ kêt tội tôi nặng như vậy. Tôi biêt rât rõ ai chủ trương, ai kêt tội tôi nhưng tôi chưa muôn nói ra.
Trong bài viêt trên, tôi đã tiêt lộ những điêu tuyệt mật vê cuộc hội đàm khiên họ sợ hãi mà thôi.
Ðiêu tuyệt mật đó là vụ: ông Lê Ðức-Anh bị Trung-quôc đánh thuôc độc, bị bán thân bât toại rôi cũng do Trung-quôc trị cho. Nay tôi tiêt lộ thêm những vụ đâu độc cùng một phương pháp:
– Cậu-Chó vì dính dáng đên vụ Trương Như Tảng, định dâng Việt-Nam cho Trung-quôc không thành rôi cũng được bán thân bât toại để bảo mật
– Trong kỳ đại hội Đảng 8, giữa đại hội, ông Lê Mai, Bộ-trưởng Ngoại-giao, ông Ðào Duy-Tùng ứng viên Tổng Bí-thư đảng Cộng-sản cũng bị hạ độc băng cùng một phương thức nhưng tôi không biêt ai đã làm công việc đó.
– Gân đây nhât một Bác-sĩ Việt-Nam từng dính dáng với phong trào Trương Như Tảng. Sau đó, đã tỵ nạn lân thứ nhì sang Canada, năm trước đây, nghe tin Bác-sĩ Dương Quỳnh-Hoa từ Việt-Nam qua Pháp, ông lén từ Canada sang Paris gặp bà mưu kiêm ít xôi thịt từ Trung-quôc. Khi trở về Canada, ông cũng bị đột quỵ và tiêu dao miên Cực-lạc.
Kính thưa Quý-vị:
Tuy tôi đã tuyên thệ tại đây hôi tháng ba vừa qua nhưng hôm nay tôi xin tuyên thệ một lân nữa:
“Tôi xin tuyên thệ với tât cả danh dự của tôi răng: Tôi không thù, không ghét những người tại Việt-Nam, họ đã nộp lãnh hải, lãnh thổ cho Trung-quôc. Tôi cũng không vì lòng yêu nước Việt mà oán ghét họ. Tôi không hận những người Việt chủ trương khủng bô tôi khi họ mời tôi vê Việt-Nam giúp đỡ họ. Những lời tôi trình bày hôm nay hoàn toàn vô tư”.
Kính thưa Quý-vị,
Tôi vừa lướt qua vài nét đơn sơ vê biên giới Hoa-Việt, vê ngoại giao Hoa-Việt trong thời gian 989 năm. Bây giờ tôi xin đi thẳng vào đâu đê hôm nay vê việc:
– Ðảng Lao-động Việt-Nam lãnh đạo nhà nước Việt-Nam Dân-Chủ Cộng-hòa (VNDCCH, 1945-1975).
– Ðảng Cộng-sản Việt-Nam lãnh đạo nhà nước Cộng-hòa Xã-hội Chủ-nghĩa Việt-Nam (CHXHCNVN, 1975-2001) nhượng lãnh thổ, lãnh hải cho Trung-hoa Nhân-dân Cộng-hòa quôc gọi tăt là Trung-quôc.
Vụ Việt-Nam dân chủ Cộng-hòa nhượng lãnh hải cho Trung-quôc.
3.1. Kêt quả của văn kiện 14-9-1958.
Ngày 4-9-1958, chính phủ Trung-quôc tuyên cáo vê lãnh hải 12 hải lý kể từ đât liên của họ, có đính kèm bản đô rât rõ ràng. Bản tuyên cáo này chỉ có hai nước công nhận đó là VNDCCH và Băc Cao (Cộng-hòa Nhân-dân Triêu-tiên). Việc VNDCCH công nhận như sau: Ngay khi nhận được bản tuyên cáo do sứ quán Trung-quôc tại Hà-nội trao, Chủ-tịch Hô Chí Minh triệu tập Bộ Chính-trị đảng Lao-động Việt-Nam (tức đảng Cộng-sản Việt-Nam ẩn danh). Trong buổi họp này, toàn thể các thành viên nhât trí châp nhận bản tuyên bô của Trung-quôc. Ngày 14-9-1958, Thủ-tướng Phạm Văn-Ðông tuân lệnh Chủ-tịch Hô Chí-Minh, gửi văn thư cho Tổng-lý Quôc-vụ viện Trung-quôc (Thủ-tướng) là Chu Ân-Lai, trong đó có đoạn (Văn thư đính kèm 1): những nước liên hệ tới bản tuyên bô là :
– Trung-hoa Dân-quôc (Ðài-loan), – Nhật-bản, – Hoa-kỳ (hạm đội 7)), – Phi-luật-tân, – Mã-lai, – Brunei, – Indonésia, – VNDCCH và Việt-Nam Cộng-hòa (VNCH).
Thê nhưng từ hôi đó đên nay, các nhà nghiên cứu Âu-Mỹ cho đên các nước Á-châu Thái-bình-dương (ACTBD) không hê để ý đên văn thư trên.
Vì sao?
Bản tuyên bô chỉ đọc trên hệ thông truyên thanh của Trung-quôc rôi cũng được các báo Trung-quôc đăng lại mà không có bản đô đính kèm. Cả thê giời cứ nhìn trên bản đô Trung-quôc cũng như vùng Nam-hải phân định lãnh hải từ 1887 mà cho răng: theo Quôc-tế công pháp thì lãnh hải hâu hêt các nước đêu gôm 12 hải lý, kể từ thêm lục địa. Vụ Trung-quôc tuyên bô lãnh hải 12 hải lý của họ là một sự bình thường. Cái tưởng lâm tai hại đó cho đên nay (11-2001), những người chông đôi vụ nhường đât cho Trung-quôc ở trong nội địa Việt-Nam cũng như hải ngoại chỉ kêt tội vu vơ, không rõ ràng, không chứng cớ vì nguyên do không bản đô nàỵ.
Do kêt quả không có bản đô đính kèm của Trung-quôc tuyên bô lãnh hải của họ (gân như trọn vẹn vùng biển Nam-hải, đính kèm), Hoa-kỳ cũng như thê giới không biêt (hay không công nhận) nên suôt thời gian 1958-2001:
– Hạm đội 7 của Hoa-kỳ tuân hành trong vùng lãnh hải tuyên bô này, đây đe dọa Trung-quôc mà Trung-quôc vẫn ngậm bô hòn.
– Chiên hạm của Pháp, Ðức, Ý cũng như một sô nước Úc, Âu trong thời gian 1975-1980 vẫn tuân hành, hộ tông những con tâu vớt người Việt trôn chạy trong vùng mà Trung-quôc đành im lặng.
Hôm nay tôi cân phải trình bày trước các vị và làm sáng tỏ nội vụ.
Kính thưa Quý-vị,
3.2. những bí ẩn.
Cái bí ẩn đó không có gì lạ cả, rât rõ ràng, rât chi tiêt.
– Vê phía các nhà nghiên-cứu Âu-Mỹ, ACTBD không có bản đô đính kèm bản tuyên bô ngày 4-9-1958 của Trung-quôc, họ cứ nhìn vào bản đô đã phân định từ 1887 giữa Pháp và triêu Thanh. Họ cũng cứ nhìn bản đô của các nước vùng Nam-hải của Trung-quôc, của Trung-hoa Dân-quôc cũ rôi cho răng lãnh hải 12 hải lý thì chẳng có gì là lạ cả. Nhưng nêu họ có bản đô vê lãnh thổ đính kèm bản tuyên bô thì họ sẽ toát mô hôi ra vì bản đô này bao gôm toàn bộ các đảo trong vịnh Băc-Việt, toàn bộ các đảo ở biển Nam-hải như Tây-sa (Hoàng-sa) và Nam-sa (Trường-sa).
Như vậy nêu tính lãnh hải 12 hải lý, tính từ các đảo này thì:
– lãnh hải Trung-quôc ở biển Nam-hải, phía Tây sẽ sát tới bờ biển suôt miên Trung, Băc Việt-Nam.
– Phía Ðông sát tới lục địa Phi-luật-tân, Brunei
– Phía Nam sát tới Indonésia, Mã-lai
Trở lại với Chủ-tịch Hô Chí-Minh, bộ Chính-trị đảng Lao-động (Cộng-sản) Việt-Nam và chính phủ VNDCCH hôi 1958, khi các vị ây có bản tuyên bô lãnh hải của Trung-quôc thị cũng có bản đô chi tiêt nhưng các vị ây gửi thư châp nhận bản tuyên bô đó thì có nghĩa răng:
Họ đông ý nhường cho Trung-quôc toàn bộ:
– Các đảo của Việt-Nam trên biển Nam-hải.
– Toàn bộ lãnh hải Việt-Nam cách các đảo đó 12 hải lý nghĩa là toàn bộ biển Nam-hảị
Kính thưa Quý-vị,
3.3 – Bí ẩn vụ Trung-quôc chiêm Hoàng-sa (Tây-sa) .
Từ trước đên giờ, có nhiêu vị hiện diện hôm nay từng đặt câu hỏi với tôi răng:
– Tại sao năm 1973, thình lình Trung-quôc đem quân đánh quân đảo Hoàng-sa (Tây-sa) từ VNCH? Trận chiên diễn ra ngăn ngủi, phía Trung-quôc bị thiệt hại gâp ba VNCH (vê nhân mạng, vê chiên hạm, tài liệu này tôi có từ phía Trung-quôc). Nhưng VNCH vì quân ít, vũ khí chỉ có đại bác, chiên hạm nhỏ trong khi Trung-quôc có hỏa tiễn địa địa, chiên hạm lớn đông gâp 3 lân VNCH. VNCH lại đang có nội chiên, phải đương đâu với quân đội VNDCCH, vì vậy VNCH phải bỏ kê hoạch tái chiêm Hoàng-sa- Bây giờ Hoa-kỳ với VNCH có hiệp ước hỗ tương an ninh, Hoa-kỳ đang tham chiên tại Việt-Nam, hạm đội 7 hùng hậu đang tuân hành gân vùng giao chiên. Tại sao Hoa-kỳ không can thiệp, không lên tiêng bênh vực VNCH?
Nay tôi xin thưa:
Vì:
Trong-cuộc mật đàm giữa Hoa-kỳ (Kissinger) và Trung-quôc (Mao TrạchÐông), phía Trung-quôc đã trao cho ông Kissinger bản tuyên bô lãnh hải 4-9-1958 cùng bản đô, Ông Kissinger đã công nhận bản tuyên bô đó. Cho nên ông Kissinger vừa rời Trung-quôc thì Trung-quôc đem hạm đội xuông chiêm Hoàng-sa.
Vì:
Văn thư của ông Phạm Văn Ðông công nhận quân đảo này là của Trung-quôc. Trung-quôc chiêm Hoàng-sa chỉ là việc chiêm lại lãnh thổ được hiên dâng, đã 16 năm bị VNCH xâm lăng.
– cũng có vị hỏi tôi răng: Tại quân đảo Trường-sa (Nam-sa) hiện có quân của Trung-hoa Dân-quôc (Ðài-loan), Phi-luật-tân, Mã-lai, Việt-Nam. Thê sao hải quân Trung-quôc luôn khai hỏa vào hải quân Việt-Nam. Quan trọng nhât là trận chiên tháng 3 năm 1988, Việt-Nam chỉ phản đôi lây lệ.
Nay tôi xin thưa:
Do văn thư của ông Phạm Văn Ðông công nhận quân đảo này là của Trung-quôc. Lập luận phía Trung-quôc là: Thủ-tướng Phạm Văn Ðông đã công nhận vùng này là lãnh hải Trung-quôc, tại sao quân đội Việt-Nam còn hiện diện tại đây? Như thê là Việt-Nam xâm phạm lãnh thổ Trung-quôc, Quân đội Trung-quôc phải đánh đuổi quân xâm lăng, bảo vệ đât nước là lẽ thường. Quân đội Ðài-loan đóng tại đây mà Trung-quôc không tân công vì quân Ðài-loan thì cũng là quân đội Trung-quôc đóng trên lãnh thổ Trung-quôc. Còn Phi, Mã-lai với Trung-quôc đang tranh châp trên quân đảo này chưa ngã ngũ thì quân đội của họ hiện diện là lẽ thường. Trung-quôc không thể tân công họ vì như vậy là Trung-quôc ỷ lớn hiêp nhỏ.
Ðôi với vụ việc tranh châp Trung-quôc, Việt-Nam trên đảo Trường-sa (Nam-sa) đã giải quyêt băng văn thư của Việt-Nam ngày 14-9-1958. Chính vì lý do này mà Trung-quôc chỉ châp nhận đàm phán vê vùng đảo với từng nước mà không chịu đàm phán chung với tât cả các bên liên hệ, có nghĩa là họ gạt Việt-Nam ra ngoài vì Việt-Nam đã công nhận các đảo này là của Trung-quôc.
3.4 – Vê hoàn cảnh đảng Cộng-sản Việt-Nam năm 1958 và chính phủ VNDCCH.
Tât cả những vị trong bộ Chính-trị đảng Cộng-sản, trong Chính-phủ đêu biêt răng:
– Kể từ năm 1540, sau khi dâng đât cho Trung-quôc, giặc Mạc Ðăng Ðung bị lịch sử Việt-Nam kêt tội, bị toàn dân nguyên rủa, đên bây giờ trải 418 năm, chính họ cũng nguyên rủa bọn Mạc.
– Giữa VNDCCH và Việt-Nam Cộng-hòa (VNCH), cả hai bên đêu đang lo củng cô xây dựng lại vùng đât của mình sau chiên tranh (1945-1954). Cả hai bên cùng chưa chính thức gây hân với nhau, VNDCCH không có ngoại thù.
– Trung-quôc không có chiên tranh với VNCDCH, không có áp lực ngoại xâm.
– Năm 1958 là lúc thịnh thời nhât của Chủ-tịch Hô Chí Minh, của Ðại-tướng Võ Nguyên Giáp. Thời kỳ này, miên Băc Việt Nam vừa trải qua cuộc Cải cách ruộng đât, 246.578 người hâu hêt là phú nông, địa chủ, trung nông, các cựu đảng viên không phải của đảng Lao động (Cộng-sản), dân chúng… bị giêt. Nghĩa là toàn miên Băc dân chúng kinh hoàng, cúi đâu răm răp tuân lệnh đảng, không còn kẻ nội thù,
– Nhât là lúc ây VNDCCH đang kéo cao cờ nghĩa đánh Pháp, chông Mỹ cứu nước. Họ kêt tội VNCH là Việt-gian, là Ngụy, họ phải hêt sức giữ gìn để khỏi mât chính nghĩa.
– Thê sao đảng Cộng-sản lại làm cái việc thân bại danh liệt, trở thành tội đô muôn năm của tộc Việt?
– Bàn vê việc ký thỏa ước với nước ngoài, việc nhận đât, nhượng đât phải thông qua Quôc-hội. Bây giờ, VNDCCH cũng có Quôc-hội nhưng Quôc-hội không được hỏi đên, không được bàn đên và nhât là không được thông tri. Quôc dân cũng thê. Tât cả thăc măc này, tôi xin để Qúy-vị suy đoán và trả lời.
3.5 – Một câu hỏi được đặt ra:
Vậy thì vì lý do gì mà đảng Cộng-sản Việt-Nam lãnh đạo Chính-phủ VNDCCH lại nhượng lãnh hải cho Trung-quôc quá dễ dàng? Cho đên nay, tôi cũng không tìm ra lý do thỏa đáng.
Tôi không tìm ra vì:
– Tât cả những vị trong bộ Chính-trị đảng Cộng-sản Việt-Nam dự buổi hội quyêt định nhượng lãnh hải đêu đã từ trân. Các vị trong nội các Phạm Văn Ðông hôi ây, không biêt nay có ai còn sông hay không? Tôi chỉ biêt chăc răng Ðại-tướng Võ Nguyên Giáp vừa là Bộ-trương bộ Quôc-phòng vừa là ủy viên Bộ Chính-trị là còn tại thế. Ðại-tướng là người có học thức cao nhât bộ Chính-trị, từng là giáo sư Sử-học. Bây giờ lại là lúc uy tín, quyên hành của Ðại-tướng lên tột đỉnh. Vụ ông Phạm Văn Ðông ký văn kiện này, Ðại-tướng phải biêt. Nay Ðại-tướng đang đi vào những ngày cuôi cùng của đời người, nêu sĩ khí, dũng khí của Ðại-tướng còn thì xin Ðại-tướng cho quôc dân biêt được không?…
– Nêu nói răng khi ký văn kiện trên là tự ý Thủ-tướng Phạm Văn Ðông thì không thể nào tin được vì chính ông Phạm Văn Ðông từng than răng: Ông là một Thủ-tướng lâu năm nhưng không có quyên hành gì, ngay cả việc muôn thay một Bộ-trưởng cũng không được. Vậy thì đời nào ông dám ký văn kiện dâng đât cho Trung-quôc!
– Ví thử ông Phạm Văn Ðông tự ý ký văn kiện trên thì năm 1977, văn kiện ây lộ ra ngoài, người Việt hải ngoại từng đem đăng báo, ông Phạm Văn Ðông hãy còn sông, sao Bộ Chính-trị, Quôc-hội và Chính-phủ không truy tô ông ra tòa vê tội phản quôc? Tội này trong hình luật Việt-Nam phải xử tử hình. Thê mà ông ây vẫn ung dung sông thêm bôn chục năm nữa, đây quyên hành?
– Liệu những tài liệu, biên bản vê buổi họp này có năm tại văn phòng Bộ Chính-trị, văn phòng bộ Ngoại-giao CHXHCNVN không? Các vị trong Bộ Chính-trị hiện thời có thể công bô cho quôc dân biêt không? Nêu quý vị im lặng thì muôn nghìn năm sau, lịch sử còn ghi: Ðảng Cộng-sản bán nước mà không câu vinh, cũng chẳng câu tài chứ không phân biệt răng Bộ Chính-trị 1958 bán nước, còn Bộ Chính-trị 2001 không hê làm việc nàỵ
Chúng tôi xin ngừng lời để Quý-vị thăc măc trước khi điêu trân sang phân thứ nhì.
Kính thưa Quý-vị,
Bây giờ tôi xin điêu trân sang phân thứ nhì, đó là:
Vụ nhượng lãnh thổ mới đâỵ
* Hiệp định vê biên giới trên đât liên Việt-Nam, Trung-quôc ngày 30-12-1999.
* Hiệp định phân định lãnh hải Việt-Nam, Trung-quôc
ngày 25-12-2000.
4.1 – Ai chịu trách nhiệm vê hai hiệp định.
Hai hiệp định này đêu ký trong thời gian 1999-2000.
Vào thời kỳ này tại Việt-Nam thì:
– Ông Lê Khả-Phiêu làm Tổng Bí-thư đảng Cộng-sản ViệtNam,
– Ông Trân Ðức-Lương làm Chủ-tịch nhà nước,
– Ông Nông Ðức-Mạnh làm Chủ-tịch Quôc-hội,
– Ông Phan Văn-Khải làm Thủ-tướng.
– Ông Nguyễn Mạnh Câm làm Bộ trưởng Ngoại-giaọ
Ai chịu trách nhiệm khi ký hai hiệp định trên? Cá nhân thì tôi không biêt nhưng có một điêu tập thể thì ai cũng khẳng định là Bộ Chính-trị của đảng Cộng-sản Việt-Nam. Không cân biêt người ký là Chủ-tịch Trân Ðức-Lương, Thủ-tướng Phan Văn-Khải hay Bộ-trưởng Ngoại-giao Nguyễn Mạnh-Câm. Tôi xin khẳng định: Ai ký cũng chỉ là người tuân lệnh Bộ Chính-trị đảng Cộng-sản Việt-Nam.
Nhưng người quyêt định là aỉ ?!?
Ông Phan Văn-Khải, Nguyễn Mạnh-Câm – Hai ông này không có quyên, dù có quyên, các ông ây cũng không dám quyêt định. Ông Lê Khả-Phiêu quá yêu, không thể quyêt định một mình. Ông Trân Ðức-Lương, Nông Ðức-Mạnh càng không có quyên gì. Vì vậy,tôi mới quyêt đoán răng vụ này do Bộ Chính-tri đảng Cộng-sản chủ trương. Hiện tât cả các ông trong Bộ Chính-trị thời Lê Khả-Phiêu vẫn còn sông, rât khỏe mạnh. Khi quyêt định nhượng đât, biển cho Trung-quôc các ông ây đêu biêt rât rõ răng:
– Tinh thân dân chúng bây giờ không phải như dân chúng hôi 1540. Trình độ dân chủ, phương tiện thông tin của đảng viên, của dân chúng vượt xa hôi 1958. Uy tín của Tổng Bí-thư Lê Khả-Phiêu không thể so sánh với Chủ-tịch Hô Chí-Minh năm 1958. Mỗi vị trong Bộ Chính-trị bây giờ là một mảng chứ không thể là một khôi như Bộ Chính-trị hôi 1958. Các vị trong Bộ Chính-trị thời Lê Khả-Phiêu đêu biêt trước răng: Ký hiệp ước nhượng lãnh thổ trong lúc này không thể bịt miệng, giâu giêm đảng viên cũng như dân chúng. Thê nhưng các ông ây vẫn làm! Vì vậy phải có nguyên do gì trọng đại lăm. Liệu các ông có thể công bô cho quôc dân biêt không?
– Thời gian ây (1999-2000) đảng Cộng-sản lân át Chủ-tịch Nhà-nước cũng như Thủ-tướng nhât đên nỗi Chánh-văn phòng Thủ-tướng chỉ vì nói một câu không mây lịch sự với người đàn bà có thê lực trong đảng mà bị băt giam không lý do, Thủ-tướng không thể can thiệp cho ông ta tại ngoạị.
– Quyên gân như năm trong tay ba ông Cô-vân là cựu Tổng Bí-thư Ðỗ Mười, cựu Chủ-tịch nhà nước Lê Ðức-Anh và cựu Thủ-tướng Võ Văn-Kiệt. Ba ông này như ba Thái-thượng hoàng thời Trân. Tuy mang danh Cô-vân nhưng ba ông vẫn còn uy quyên tuyệt đôi
– cũng trong thời gian ây, cả thế giới (trừ Trung-quôc) đêu có chính sách ngoại giao rât đẹp với Việt-Nam: Hoa-kỳ (Tổng-thông Bill Clinton), Liên-Âu, các nước ASEAN đang theo đuổi chính sách ngoại giao rât mêm dẻo với Việt-Nam, nhât là Tổng-thông Clinton ký săc lệnh bỏ câm vận Việt-Nam, mở cửa cho sinh viên Việt-Nam sang du học Hoa-kỳ, mở cửa cho hàng Việt-Nam được nhập vào Hoa-ky. Nói tóm lại, thời gian từ nửa năm 1999 cho đên cuôi năm 2000, Việt-Nam không bị một áp lực quôc tế nguy hiểm nào đên độ phải nhượng đât, nhượng biển cho Trung-quôc để được viện trợ vũ khí, để được che chở.
– cũng thời gian trên, Trung-quôc, Việt-Nam không có tranh châp lãnh thổ, không có đụng chạm biên giới, không có căng thẳng chính trị, không có chiên tranh. Vậy vì lý do nào mà các ông ây căt đât, căt biển cho Trung-quôc? 4.2 – Chi tiêt vụ căt đât.
Vụ căt đât ký ngày 30-12-1999 thì tôi được biêt tin chi tiêt do hai ký giả Trung-quôc là bạn với tôi thông báo vào ngày 9-1-2000 nghĩa là 10 ngày sau, hai anh thuật theo tinh thân bản hiệp định thì:
– Việt-Nam nhường cho Trung-quôc dọc theo biên giới, 789 cây sô vuông (chứ không phải 720 như tin lộ ra trong nước) thuộc hai tỉnh Cao-băng, Lạng-sơn.
– Có mây hiệp định thư (Photocol) đính kèm vê việc thi hành. Quan trọng nhât là :
– Nhượng vùng Cao-băng, sát tới hang Pak-bó, nơi Chủ-tịch Hô Chí Minh ẩn thân lãnh đạo cuộc kháng chiên. Hang này trở thánh địa của đảng Cộng-sản Việt-Nam, trước kia năm rât xa biên giới (khoảng 50 km), nay năm sát biên giới.
– Nhượng vùng đât băng phẳng thuộc tỉnh Lạng-sơn nơi có cửa ải Nam-quan.
Thưa Qúy-vị,
4.3 – Ảnh hưởng vụ căt đât.
4.3.1 – Mât biểu tượng năm nghìn năm của tộc Việt.
Khu Ải Nam-quan này là vùng đât thiêng, là Thánh địa trong mây nghìn năm của người Việt. Bât cứ người Việt nào từ 6 tuổi trở lên đêu biêt răng Ải Nam-quan là vùng đât tượng trưng biên giới phía Băc, tượng trưng cho lãnh thổ, cho tinh thân tự chủ, cho niêm tự hào của họ. Ðây là vùng đât đi sâu vào lịch-sử, văn-học và tâm tư toàn thể người Việt. Trở vê quá khứ, trong lân mạn đàm giữa Chủ-tịch Mao Trạch Ðông và Chủ-tịch Hô Chí Minh. Chủ-tịch Mao Trạch Ðông đã nói:
“Cái tên Ải Nam-quan nhăc nhở đên cuộc chiên do bọn phong kiên Hoa, Việt làm xâu tình hữu nghị nhân dân. Tôi xin đổi thành Mục Nam-quan. Mục là măt, coi như nhân dân Trung-quôc luôn hướng măt nhìn vê nhân dân Việt ở phương Nam. Ngược lại, coi như măt của nhân dân Việt luôn nhìn vê Băc với tình hữu nghị”.
Chủ-tịch Hô Chí-Minh vui vẻ châp thuận. Nhưng trên thực tê, chỉ có phía Trung-quôc in trên bản đô địa danh Mục Nam-quan mà thôi. Còn phía Việt-Nam trên bản đô hành chính, trên báo chí, văn học, vẫn dùng từ Ải Nam-quan hay cửa Hữu-nghị.
4.3.2 – Mât cửa ngõ giao thông lịch sử giữa tộc Hoa, tộc Việt.
Tôi đã nhiêu lân từ Việt-Nam sang Trung-quôc băng cửa ải này và ngược lạị lãnh thổ Hoa-Việt được phân chia bởi một con sông nhỏ. Ðây là cửa họng giao thông của Trung-quôc, Việt-Nam băng đường bộ. Suôt hơn mây nghìn năm qua, dân Hoa-Việt giao thương đêu qua đây. Chính vì vậy mà con đường quôc lộ xuyên Việt mang tên Quôc-lộ 1, được đánh sô cây số Zéro từ đâu cây câu Nam-quan. Tât cả thư tịch Việt-Nam đêu chép răng:
“Con đường Băc-Nam khởi từ ải Nam-quan”.
Hoặc : “lãnh thổ Việt-Nam Băc giáp Trung-hoa, khởi từ ải Nam-quan đên mũi Cà-mâu theo hình chữ S”.
Bây giờ nêu Quý-vị vào Website của Bộ Ngoại-giao Việt-Nam, Quý-vị sẽ không thây hàng chữ trên mà chỉ thây câu: “lãnh thổ Việt-Nam khởi từ cây sô không ở phía Băc”.
Thưa Quý-vị,
Cái cây sô không đó là cây sô 5 cũ đây. Cột cây sô Zéro bây giờ ở phía Nam cột Zéro cũ 5 cây sô. Từ cây sô Zéro đên cây sô 5 nay thuộc Trung-quôc.
Sát cây câu Nam-quan, phía bên Trung-quôc cũng như Việt-Nam, đêu có nhiêu cơ sở:
– Cơ sở Hải-quan.
– Bãi đậu cho hăng trăm xe tải để chờ kiểm soát, chờ làm thủ tục nộp thuế.
– Cơ sở di trú của Công-an để kiểm soát Passeport.
– Ðôn của quân đội để tuân phòng, bảo vệ lãnh thổ.
– Hăng chục cơ quan khác như Bưu điện, Ngân-hàng, công ty điện, nước.
– Vê phía dân chúng, hăng trăm cửa hàng ăn, nhà ngủ, khách sạn…
Các cơ sở phía Nam thuộc Việt-Nam, trong chiên tranh Hoa-Việt 1979, quân đội Trung-quôc đã san băng hêt, kể cả cây cột biên giới.
Tuy vậy, sau chiên tranh, đã xây dựng lại hoàn toàn. Từ khi có phong trào mở cửa, đổi mới chính trị, dân chúng cả hai bên đã xây dựng lại khang trang hơn cũ, rộng lớn hơn cũ và hiện đại hơn cũ. Nhưng từ khi hiệp định 30-12-1999 ký thì toàn bộ khu này thuộc Trung-quôc, những cơ sở đó bây giờ được thay băng một tòa nhà duy nhât.
4.3.3, Mât dân, mât di tích lịch sử
Ði sâu vào khu vực phía Nam của Nam-quan ít cây sô nữa là quận lỵ Ðông đăng rôi tới tỉnh lỵ Lạng-sơn. Ðây cũng là đât thiêng, khu có di tích văn hóa lịch sử của tộc Việt: Ðộng Tam-thanh, tượng núi Tô-thị, thành của bọn giặc Mạc trên núi. Vùng Lạng-sơn xưa là Thủ-đô của con cháu giặc Mạc Ðăng Dung mà năm 1540 đã dâng đât cho Trung-quôc để được bao che căn cứ quân phiệt một thời gian. Trong chiên tranh Hoa-Việt 1979, hâu như toàn bộ các cơ sở kỹ nghệ, câu công, dinh thự, di tích tôn giáo, lịch sử, cơ sở hành chính, thương mại, kể cả nhà cửa của dân chúng bị san băng. Chăc Quý-vị cho răng tôi dùng từ Coventry có đôi chút quá đáng. Thưa Quý-vị từ Coventry cũng chưa đủ để chỉ việc quân đội Trung-quôc đã làm ở Lạng-sơn. Kinh khiêp nhât là động Nhât-thanh, Nhị-thanh, Tam-thanh, họ cũng dùng đại bác băn vào làm hư hại rât nhiêụ.
Ði sâu vê phía Nam ít cây sô nữa là Ải Chi-lăng, nơi mà quân Trung-quôc vượt qua không biêt bao nhiêu lân để tiên vê thủ đô Thăng-long của Việt-Nam xưa. Tại đây đã diễn ra những trận chiên ác liệt, khiên ít nhât 73 vạn quân của các triêu đại Tông, Mông-cổ, Minh, Thanh bị giêt. Và cũng tại đây, có không biêt bao nhiêu tướng của các triêu đại trên bị tử trận. Khi quân Việt giêt những tướng, dù vào thời kỳ nào chăng nữa thì đâu vẫn bêu tại một mỏm núi, gọi là núi Ðâu-quỷ. Tại ải Chi-lăng, núi Ðâu-quỷ đêu khăc bia đá ghi lại di tích lịch sự Hôi chiên tranh Hoa-Việt 1978, khi các tướng Hông-quân cho quân tiên đên đây, nghe nhăc chuyện cũ thì họ toát mô hôi lạnh, phải ngừng lại. May măn thay, khu này vẫn còn thuộc lãnh thổ Việt.
Trở lại vùng đât mà đảng Cộng-sản Việt-Nam đã nhượng cho Trung-quôc, dĩ nhiên họ nhượng cả dân chúng nữa. Trong năm nghìn năm lịch sử chiên tranh Hoa-Việt, dân chúng, chiên sĩ tại vùng này là lực lượng đâu tiên chông quân Trung-quôc. Họ phải hy sinh tính mạng, tài sản đâu tiên, khi quân Trung-quôc đánh sang. Có không biêt bao nhiêu di tích, huyên sử vê núi non, vê sông ngòi vê cuộc chiên, vê gương anh hùng. Chính quyên các triêu đại đêu tuyên dương công lao của họ, họ từng hãnh diện đời nọ sang đời kia. Bây giờ vùng này trao cho Trung-quôc, kẻ thù năm nghìn năm của họ. Họ bị mât mát quá nhiêu vê tinh thân. Họ phải cúi mặt chịu sự cai trị của kẻ thù. Bao nhiêu di tích lịch sử, huyên sử phải phá bỏ, không được nhăc tới. Thương tổn tinh thân quá lớn. Gân đây nhât, trong chiên tranh 1978, phía Việt cũng như Trung-quôc, chôn trên lãnh thổ mình, dọc theo biên giới mây chục vạn quả mìn, sau chiên tranh mới đào lên. Phía Việt lập rât nhiêu đôn, hâm, công-sự chiên đâu dọc biên giới thành 4 vòng đai. Mây chục nghìn chiên sĩ Việt tử trận tại đây. Hiện những cơ sở đó vẫn còn. Trong khu vực này dân chúng, gia đình liệt sĩ đã ghi dâu tưởng niệm thân nhân họ, nay trao cho Trung-quôc, dĩ nhiên các di tích này bị phá hủy. Dân chúng đang là lực lượng chong mặt với kẻ thù, bảo vệ lãnh thổ, nay họ bỗng trở thành những người Trung-quôc bât đăc dĩ. Các vòng đai phòng thủ bị mât. Dân tộc Việt-Nam mât mát vê an ninh quá nhiêu.
4.4 – Vụ căt lãnh hải
Hiệp định phân định lãnh hải Việt-Nam, Trung-quôc ngày 25-12-2000.
Từ giữa thê kỷ thứ 19 vê trước, chưa từng có việc ân định rõ lãnh hải Việt-Hoa. Tuy nhiên vào thê kỷ thứ 15, Việt-Nam đã định lãnh hải qua vụ nhà vua sai vẽ Hông đức bản đồ.Theo bản đô này thì các quân đảo Hoàng-sa (Tây-sa) và Trường-sa (Nam-sa) thuộc Ðại-Việt. Và hai quân đảo đó đêu thuộc Việt-Nam cho đên khi Bộ Chính-trị thời 1958 trao cho Trung-quôc (trên lý thuyêt). Vào những thời kỳ ây (1500-1887), Thủy-quân cũng như thương thuyên, tâu đánh cá của cả Hoa lẫn Việt chỉ là những thuyên nhỏ, không ra xa bờ biển làm bao nên chưa có những đụng chạm.
Sau khi triêu Nguyễn của Việt-Nam ký hòa ước năm 1884, công nhận quyên bảo hộ của Pháp thì người Pháp mới định rõ lãnh hải. Nước Pháp với tư cách bảo hộ Việt-Nam, đã ký với Thanh-triêu hòa ước 1887, định rõ lãnh hải trong vùng vịnh Băc-Việt. Ðôi với hòa ước này, Việt-Nam đã chịu khá nhiêu thiệt hại vì mât một sô đảo mà dân chúng là người Việt, nói tiêng Việt, mặc y phục Việt, sông trong văn hóa Việt. Cho đên nay (2001), dân trên các đảo này vẫn còn nói tiêng Việt, ẩm thực theo Việt và dùng y phục Việt. Chúng tôi đã từng thăm vùng này hôi 1983. Tuy nhiên với hòa ước 1887, lãnh hải vịnh Băc-Việt được phân chia như sau: Trung-quôc 38% Việt-Nam 62% . Ðôi với người Pháp, thời đó họ chưa hiểu rõ tình trạng giữa Trung-hoa và Việt-Nam, họ thây Thanh-triêu châp nhận 38%, thì cho răng mình thăng thê. Còn Thanh-triêu khi đạt được 38%, họ coi như một món quà trên trời rơi xuông vì trong quá trình lịch sử, Trung-quôc vẫn coi vịnh Băc-Việt là của Việt-Nam.
Chứng cớ:
– Vùng đât Hợp-phô là đât cực Nam của Trung-quôc, the nhưng lại có hải cảng Băc-hải. Băc đây chỉ có thể là Băc đôi với Việt-Nam. Nêu là đât của Trung-quôc họ phải gọi là thị xã Nam-hải chứ? Rõ ràng vùng này là đât cũ của Việt-Nam.
– Vùng vịnh năm ở phía Nam Trung-quôc, phía Tây đảo Hải-Nam, phía Ðông Băc Việt-Nam mà Pháp-Hoa ký hòa ước 1887 đó, Việt-Nam gọi là vịnh Băc-Việt. Trung-quôc cũng gọi là vịnh Băc-bộ. Cho đên nay (2001), họ cũng vẫn dùng tên đó. Vậy thì rõ ràng vịnh này của Việt-Nam. Nêu của Trung-quôc thì họ phải gọi là vịnh Nam-bộ chứ?
Bây giờ đên hiệp định Việt-Hoa 25-12-2000 thì vùng vịnh Băc-bộ được chia ra như sau: Việt-Nam 53% Trung quôc 47%. So với trước 1887 thì Việt-Nam chỉ mât có 38%, nay mât thêm 9% nữa!
4.5 – Ảnh hương vụ căt lãnh hảị
4.5.1 – Mât lãnh hải, quôc sản.
Theo hiệp định này thì rõ ràng đảng Cộng-sản Việt-Nam đã nhường cho Trung-quôc tới 9% lãnh hải vùng vịnh Băc-Việt. Cái đau đớn là vùng nhượng:
– Có nhiêu hải sản vê cá thu, cá song, cá hông, mực là những loại hải sản quý – Dưới đáy biển có mỏ hơi đôt, và dâu lửa – Một sô đảo trong vùng nhượng thuộc Trung-quôc.
4.5.2 – An ninh quôc gia bị đe dọạ
Nêu vụ nhượng đât nguy hại vê phương diện tinh thân, kinh tế thì vụ nhượng lãnh hải lại nguy hại vê an ninh vì Trung-quôc có thể dùng các đảo này làm phi trường quân sự, căn cứ Hải-quân để uy hiêp Thủ-đô Hà-nội và các tỉnh trung châu Băc-Việt và miên Trung, miên Nam Việt-Nam. Tin của ECL ghi lại, trong những cuộc hội đàm Hoa-Việt vê lãnh hải, Trung-quôc đòi cho được mây đảo nhỏ trong vùng. Cũng những tin của ECL vê các cuộc hội của Bộ Chính-trị đảng Cộng-sản Việt-Nam thì việc chủ trương nhượng các đảo do quyêt định của toàn thể, không do ba ông Cô-vân Ðỗ Mười, Lê Ðức-Anh hay Võ Văn-Kiệt. Ðể tỏ ý hoàn toàn quy phục Trung-quôc, Bộ Chính trị cũng trao cho Trung-quôc toàn bộ kê hoạch phòng thủ phía Băc Việt-Nam. Theo ý kiên chúng tôi thì trong Bộ Chính-trị bây giờ, nhóm quân đội rât mạnh, chủ chôt có ba vị tướng là Lê Khả-Phiêu, Phạm Văn-Trà, Phạm Thanh-Nhàn. Trong tài liệu này, có phân ước tính tình hình Trung-quôc, Việt-Nam, đại lược như sau:
“- Trung-quôc không có khả năng dùng Không-quân tân công vào Thủ-đô Hà-nội và các tỉnh đông băng Băc-bộ vì khoảng cách từ các phi trường Quảng đông, Quảng-tây, Vân-nam, Hải-Nam quá xa, phi cơ chỉ có thể tới oanh tạc nhưng trở vê thì không đủ nhiên liệu.
– Nêu Trung-quôc tiên công băng đường bộ thì ít nhât phải có một triệu quân. Với một triệu quân mỗi ngày cân 10.000 lượt ô-tô tiêp tê mà đường bộ thì các ngả Lai-châu, Lào-cai, Hà-giang không dùng được. Chỉ có ba ngả chính tạm dùng: Một là Lạng-sơn, hai là Hạ-long (Quảng-yên cũ), ba là Cao-băng. Ba ngả đó đường sá gô ghê, núi non hiểm trở. Với 10.000 lượt xe thì chỉ ba ngày là đường nát hêt.
– Ðịa thê hiểm trở, khúc khuỷu của ba con đường này, chỉ cân ba người đóng một chôt, cũng đủ cản trở một ngày tiêp tế – Trong bôi cảnh chiên tranh Hoa-Việt xẩy ra, thì Thủ-đô cũng như Bộ Chính-trị, Bộ Tổng Tư-lệnh có thể chuyển vào Thành-phô Hô Chí-Minh.
– Trường hợp đó băt buộc Trung-quôc phải dùng đường biển tiêp tê, chuyển quân. Ba quân cảng lớn sử dụng sẽ là Băc-hải, Quảng-châu, Hải-Nam. Cả ba cùng xa, rât khó khăn”.
Bây giờ Trung-quôc được mây đảo trong vịnh Băc-Việt, rât gân với thêm lục địa của trung châu Băc-bộ, miên Trung và miên Nam. Nêu như Trung-quôc thiêt lập căn cứ Không-quân, Hải-quân, trạm tiêp vận tại đây thì toàn bộ lãnh thổ Việt-Nam bị uy hiêp nặng nề.
Ông Lê Khả-Phiêu, Phạm Văn-Trà, Phạm Thanh-Nhàn đêu là tướng lãnh, từng câm quân trên 40 năm thì các ông phải biêt rõ điêu đó. Biêt nhưng các ông vẫn làm thì có nghĩa là các ông muôn: “Việt-Nam vĩnh viễn năm trong vòng kiêm tỏa của Trung-quôc”.
Còn như các ông ây làm việc đó để được gì, cho ai, vì ai thì tôi chịụ…
Bác sĩ/Tác giả TRÂN ĐẠI SỸ (Paris, Pháp Quôc).
6/
NGUYỄN VĨNH LONG HỒ – BÁO ĐỘNG ĐỎ: NHỮNG VỊ TRÍ CHIÊN LƯỢC CỦA VIỆT NAM ĐÃ BỊ TRUNG CỘNG KHÔNG CHẾ
Nguyễn Phú Trọng đã ký 7 giao ước và 3 mật ước sau khi gặp Tập Cận Bình. Một trong những mật ước mang tính nguy hiểm tới AN NINH QUÔC GIA là “CON ĐƯỜNG TƠ LỤA HÀNG HẢI”.
Vào tháng 5 năm 2014, thông tân Trung Quôc đông loạt ca tụng “Con đường tơ lụa của Tập Cận Bình”, lúc đâu dự kiên là con đường Hàng hải sẽ băt đâu ở Tuyên Châu, tỉnh Phúc Kiên, đên Quảng Châu (tỉnh Quảng Đông), Băc Hải (Quảng Tây), và Haikou (Hải Nam) trước khi đi vê hướng nam đên eo biển Malacca.
Vì con đường Hàng Hải dự kiên KHÔNG có Việt Nam, vì vậy Trung Quôc buộc phải đi xa hơn và xâm lân biển Đông để làm bên cảng.
Sau khi Nguyễn Phú Trọng sang gặp Tập Cận Bình thì được phía Trung Quôc tiêp đón nông hậu hơn cả quôc khách. Số tiên Tập Cận Bình biêu Bộ Chính Trị Đảng CSVN là 4 tỉ đô, trong sô đó Nguyễn Phú Trọng sẽ được 500 triệu đô.
Để được đổi lại thì phía Việt Nam phải cho Trung Quôc sử dụng T.P và Cảng Hải Phòng để làm đâu câu thay vì phải băt đâu đi từ Tuyên Châu, tỉnh Phúc Kiên.
Các Hàng Hóa của Trung Quôc từ các tỉnh phía Nam sẽ chuyển băng xe lửa và đường bộ tới Cảng Hải Phòng, và sau đó sẽ SỬ DỤNG đường biển thuộc chủ quyên Việt Nam đi ngang qua trạm đâu tiên là VŨNG ÁNG (HÀ TĨNH) và sau đó chạy dọc theo Duyên Hải sát cạnh Việt Nam để hướng nam đên eo biển Malacca.
-Sự Nguy Hiểm cho An Ninh Quôc Phòng Việt Nam là Trung Quôc sẽ ngang nhiên “SỬ DỤNG hợp pháp” đường Biển sát bờ của Việt Nam để chuyển hàng hóa Dân Sự và Quân Sự. Theo Hiệp Ước thì Trung Quôc được quyên sử dụng Cảng Hải Phòng giông như là Hải Nam.
Trước khi chuẩn bị phương án nây, Đảng CSVN đã cho xây Đường cao tôc Hà Nội – Lào Cai dài 265 km có điểm đâu là nút giao thông giữa quôc lộ 2 và đường cao tôc Băc Thăng Long – Nội Bài (Hà Nội) và điểm cuôi là xã Quang Kim (huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai). Đường cao tôc này là một phân của đường Xuyên Á AH14.
Phân lớn đường cao tôc sẽ đi ven theo bờ sông Hông. Tuyên này đi qua địa bàn 5 tỉnh, thành phô là Hà Nội, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Yên Bái và Lào Cai, nôi với đường cao tôc Côn Minh – Hà Khẩu của Trung Quôc và là một hợp phân trong dự án phát triển cơ sở hạ tâng giao thông của Hành lang kinh tê Côn Minh – Hà Nội – Hải Phòng. Điểm đâu tại nút giao thông quôc lộ 18A với quôc lộ 2, điểm cuôi tại xã Quang Kim, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai, vị trí đâu nôi với đường cao tôc Côn Minh-Hà Khẩu (Trung Quôc).
Với sô tiên 4 tỉ đô Trung Quôc “THƯỞNG NÓNG” cho Đảng CSVN được hưởng lợi, tuy nhiên Nhân Dân Việt Nam sẽ phải gánh chịu lâu dài khi Trung Quôc sử dụng Miên Băc Việt Nam thành trục giao lộ và đường biển của Đât Nước sẽ năm dưới quyên Hàng Hải của Trung Quôc.
Thùy Trang xin báo động cho các bạn biêt vê vân đê nây, xin các bạn phổ biên rộng cho nhân dân VN được biêt về ÂM MƯU bán nước nây.
Trân Trọng.
Nguyễn Thùy Trang
*****
Đây là lời kêt luận cho BỌN ĂN THEO:
Đời Người đâu cứ chạy MÃI theo cái MIÊNG ĐỈNH CHUNG đó?
Không thây ĐƯỢC là GIÓ NAY ĐÃ ĐỔI CHIÊU Ư?
Nhập cuộc đi: ít ra, cũng có được CHÚT CHÁO để lại cho con cháu sau này!
Lê Bá Hùng
Mùa Quôc Hận tháng tư đen
Việt Nam kiên quyết, kiên trì bảo vệ chủ quyền ở Biển Đông bằng quan đội ngư đân vũ trang cờ đỏ sao vàng và tư tưởng HCM
Việt Nam kiên quyết bảo vệ chủ quyền ở Biển Đông được xác lập tại UNCLOS 1982 bằng các biện pháp hòa bình, trên cơ sở của luật pháp quốc tế.
Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng.
Trả lời câu hỏi của phóng viên đề nghị cho biết về các biện pháp của Việt Nam được đưa ra sau khi nhóm tàu khảo sát Hải Dương 8 có các hoạt động vi phạm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam ở khu vực phía Nam Biển Đông, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng ngày 25/7 nêu rõ:
"Về vụ việc nghiêm trọng này, chúng tôi đã đề cập nhiều lần trong các phát biểu trước đây. Như đã nhiều lần khẳng định, Việt Nam kiên quyết, kiên trì bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán đã được xác lập tại Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS 1982) bằng các biện pháp hòa bình, trên cơ sở của luật pháp quốc tế".
Theo người phát ngôn Lê Thị Thu Hằng, với mục tiêu trên, Việt Nam đã có nhiều hình thức giao thiệp ngoại giao phù hợp, trao công hàm phản đối cho phía Trung Quốc, yêu cầu rút ngay khỏi vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Các lực lượng chức năng của Việt Nam triển khai các biện pháp phù hợp, đúng pháp luật.
"Duy trì hòa bình, ổn định và tự do hàng hải, hàng không, đề cao thượng tôn pháp luật, tôn trọng chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán của các quốc gia như được xác lập tại UNCLOS 1982 là lợi ích và trách nhiệm chung của các nước và cộng đồng quốc tế. Việt Nam hoan nghênh và sẵn sàng cùng các nước và cộng đồng quốc tế nỗ lực đóng góp vào mục tiêu nói trên, vì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển của tất cả các quốc gia trong khu vực và trên thế giới", bà Lê Thị Thu Hằng nhấn mạnh.
Quân đội ngư dân chúng ta sẽ đứng lên dùng cờ đỏ sao vàng làm vũ khí phất cờ quyết chiến quyết thắng Hải quân TQ để giữ biển đảo và đồng thời lấy lại những đảo biị TQ chiếm ở Trường Sa và Hoàng Sa