Những nụ hôn ‘đi vào lịch sử’
Trên thế giới có nhiều hình ảnh nụ hôn nổi tiếng như bức tượng Mùa Xuân vĩnh cửu của Rodin hay tấm ảnh người lính đồng minh hôn cô gái Pháp ngày giải phóng... Nhưng nụ hôn dậy sóng thời gian gần đây lại là của cụ GS Vũ Khiêu gần trăm tuổi với hoa hậu Kỳ Duyên. Người nhẹ nhất cũng chê phản cảm còn vô khối người dùng những lời nặng nề hơn. Một số người lấy tấm ảnh TT Obama ôm hôn cô nữ y tá gốc Việt để cám ơn sự đóng góp của cô trong chiến dịch chống bệnh dịch Ebola làm ví dụ về cách hôn chuẩn mực.
Thực ra, Phương Đông và Phương Tây quan niệm khác nhau về chuyện này. Với người Phương Tây, nụ hôn có thể mang hai ý nghĩa, nụ hôn trong tình ái hay như một hình thức chào hỏi giao tiếp, bên cạnh bắt tay, cúi chào, chạm mũi. Trong các chuyện tình cổ điển của phương Tây cũng không bàn nhiều đến hôn. Nụ hôn tình ái từng được người Mỹ gọi là "nụ hôn kiểu Pháp". Cho đến những năm 60 của thế kỷ trước, nụ hôn này vẫn bị cấm đưa lên màn ảnh vì bị cho là không đứng đắn.
Nụ hôn đầu tiên được nói đến trên phim ảnh có lẽ là giữa Clark Gable với Vivian Leight trong "Cuốn theo chiều gió". Nhưng thực tế khi phóng viên hỏi Clark Gable nghĩ gì khi hôn say đắm một mỹ nhân như vậy trước ống kính bao người, chàng tài tử thản nhiên: "Tôi chỉ nghĩ đến việc thưởng thức một đĩa bít tết tái thật thơm ngon", tức là dù chàng còn trẻ và Vivian Leight đẹp lộng lẫy nhưng chàng phải nghĩ đến món ăn ưa thích để tạo cảm hứng!
Phương Tây đã vậy, phương Đông còn tệ hơn vì không có truyền thống về hôn. Trong tất cả các chuyện tình từ xưa truyền lại, thậm chí cả Karmasutra cũng không nhắc gì đến nụ hôn. Hành vi tình ái cao nhất được ghi lại hồi ấy chỉ là cầm tay nhau.
Tư tưởng ấy đã ăn sâu bén rễ trong người Việt Nam đến mức trong thời Âu hoá những năm 1930 - 1945 văn học lãng mạn VN cũng tránh né. Cụ Phan Khôi với bài "Tình già" cũng chỉ đề hai người tình "nhìn nhau, con mắt còn có đuôi". Phim ảnh sau 1954 cho đến những năm 90 cũng chỉ để nhân vật ôm nhau, gục đầu vào vai nhau.
![]() |
| Nụ hôn 'sóng gió' của GS Vũ Khiêu dành cho hoa hậu Kỳ Duyên |
Sự va đập hai nền văn hóa
Từng có những người Phương Tây ngạc nhiên về văn hoá Việt khi "Đái đường (chuyện đáng ra rất xấu hổ) thì ngang nhiên còn hôn nhau (cử chỉ đẹp) lại giấu diếm". Và với đại đa số người Việt, hôn là biểu hiện của tình yêu gắn liền với tình dục, chỉ dành cho người yêu, vợ chồng, thậm chí bố mẹ, con cái đã lớn cũng không hôn nhau, mà không hề biết ở nhiều quốc gia khác, hôn chỉ là cách chào hỏi trong giao tiếp.
"Giao tiếp của người Việt thì từng vùng miền có kỹ năng và tập quán khác nhau. Có nơi giao tiếp với nhau rất tự nhiên, có nơi giao tiếp rất ý tứ, nhưng giao tiếp trong cộng đồng hiện nay dường như thiếu hụt nghiêm trọng những kỹ năng ấy" (Nhà nghiên cứu tâm lý Nguyễn An Chất trả lời trên Tuổi trẻ) |
Tôi đã từng chứng kiến hai người Tây Ban Nha và Italia ôm hôn, lắc tay, rồi nói chuyện hàng tràng, cứ tưởng là bạn cũ gặp lại hoá ra gặp lần đầu! Nhưng thực ra trừ bắt tay, còn lại họ hiếm khi thực sự chạm vào nhau. Tất nhiên khi đã thân thiết họ có thể ôm hôn thật nhưng chỉ là hôn má. Còn hôn môi chỉ giành cho các đôi yêu nhau và có thể thấy rất nhiều trên phố.
Người Nam Âu rất thoải mái, chủ nhà thường ôm hôn khách để chào đón nên phụ nữ cũng có thể chủ động ôm hôn nam giới.
Nhưng việc hiểu nhầm việc ôm hôn để chào hỏi, thể hiện tình thân ái rất phổ biến trong người châu Á. Những năm 80 ở Đông Âu tôi từng nghe nhiều nam lao động VN khoe bà nọ cô kia mê mình vì khi tặng quà kiểu vòng ốc hay áo phông được các cô ôm hôn mà không biết đó là cử chỉ cám ơn. Thậm chí nhiều chàng sỗ sàng lấn tới bị từ chối hoặc chứng kiến những phụ nữ ấy ôm hôn người khác như vậy thì lại bỉ bai họ là "dâm", "hư hỏng"... Không biết tiếng, mù thông tin lại ôm một bụng thành kiến "khinh Tây" và tâm lý coi thường phụ nữ đã dẫn họ đến những hiểu lầm tai hại, ứng xử xấu mặt người Việt.
Những người bạn từng công tác Thuỵ Điển, Australia... kể là trong sách hướng dẫn nhập cư cho người Việt phải viết rõ "Hôn không phải hành vi mời gọi tình ái" nhưng suy nghĩ đã ăn sâu bén rễ hàng ngàn năm trong ý thức người Việt, rất khó một sớm một chiều thay đổi.

Do tập quán người Việt ít dùng ngôn ngữ cơ thể, hạn chế tiếp xúc cơ thể với người khác giới nên khi mới học thường làm sai cách, dễ thành không tế nhị.
Những cử chỉ rất thông thường trên thế giới có thể trở thành thiếu tế nhị, gây khó xử, khó chịu ở VN. Đơn cử như ở các nước xứ lạnh, nam giới thường giúp phụ nữ bỏ áo khoác khi vào phòng. Người nam thường đứng phía sau đợi khi cô ta cởi áo qua khỏi vai thì đỡ lấy đem treo, không hề động chạm hoặc gây khó chịu. Nhưng hễ nam giới Việt làm thì do vụng về, anh ta thường nắm lấy cổ áo khoác quá sớm nên trông như lột áo ra, làm chị em e ngại.
Vì vậy, phụ nữ Việt khi nói chuyện với nhau thường bảo chúng tôi sẵn sàng để nam giới phương Tây giúp bỏ áo hay ôm hôn trong bối cảnh phù hợp vì biết họ thông thạo và hoàn toàn vô tư nhưng e ngại đàn ông Việt vì không chắc họ rành điều ấy. Có lẽ đấy cũng là một trong các lý do vì sao tấm ảnh cụ Vũ Khiêu hôn má Kỳ Duyên lại tốn nhiều giấy mực. Nó xa lạ với văn hoá Việt và hoàn toàn khác với chuẩn mực Phương Tây mà chúng ta dễ dàng quan sát trên phim ảnh.
Người Việt rất ít hiểu biết về thế giới bên ngoài, lại mang tâm lý nghi kỵ phương Tây nên có những ứng xử kỳ cục. Chắc ai cũng từng nghe chuyện một số phụ nữ Việt khi bạn bè/đối tác ôm hôn chào đón lại hoảng hốt đẩy ra. Nếu không có những bàn tán công khai thế này, chắc nhiều người vẫn còn mơ hồ về những hành vi giao tiếp cơ bản ấy.
Thời mở cửa, nếu muốn thực hiện slogan "Việt Nam muốn là bạn với cả thế giới", chúng ta cần học những phép giao tiếp ứng xử với bên ngoài, không thể chỉ khư khư giữ "đất lề quê thói". Đặc biệt với những người làm ngoại giao hay kinh doanh, những kiến thức này càng cần thiết vì một cử chỉ sai lầm nhẹ cũng có thể làm mất một thương vụ giá trị.
Công luận có thể bàn tán, góp ý nhưng không nên quy kết quá nặng nề, bởi càng gia tăng mối e ngại thì sự kém cỏi trong thực hành của người Việt sẽ càng kéo dài.
Hãy nhớ giá trị lớn nhất của văn hoá không phải là nguyên tắc mà là sự cởi mở và bao dung. Cần đóng góp để văn hoá Việt ngày càng văn minh và bao dung hơn!
Nguyễn Hoàng Ánh
Trong khi VN và các nước khác khiếp sợ không dám lên tiếng phản đối TQ
Mỹ điều tra Mỹ về thủy điện Trung Quốc làm Mêkông khô hạn: Cơ hội các nước hạ lưu đòi công lý?

Đồng bằng Cửu Long thiếu nước ngọt chưa từng thấy đầu năm 2020 này, tiếp theo đợt hạn hán 2019. Khó ai ngờ ở xứ sở kênh rạch chằng chịt lại có ngày người dân phải mang can mua nước ngọt. Bên cạnh biến đổi khí hậu toàn cầu, và việc sử dụng nước tại chỗ bất hợp lý, các đập thủy điện, đặc biệt đập do Trung Quốc xây ở thượng nguồn, được coi là một nguyên nhân chính gây hạn hán. Tuy nhiên, cho đến nay, dường như đã rõ.
Đầu tháng 4/2020, điều tra của một cơ sở nghiên cứu, có trụ sở tại Mỹ, cho thấy việc các đập thủy điện trên thượng nguồn Mêkông giữ nước là nhân tố gây ra hạn hán tại hạ lưu. Ngay sau khi nghiên cứu của Mỹ được công bố, một số quốc gia hạ lưu Mêkông đã lên tiếng yêu cầu Trung Quốc minh bạch thông tin về các đập thủy điện.
Liệu kết quả điều tra mới về vai trò của gây hạn hán của đập thủy điện Trung Quốc có góp phần cứu vãn dòng Mêkông ? Mục Theo dòng thời sự của RFI tổng hợp thông tin về vấn đề này.
Điều tra mới về vai trò của các đập thủy điện Trung Quốc trên thượng nguồn Mêkông cho thấy điều gì ?
Cuối tháng 2/2020, trong một cuộc tiếp xúc với các nông dân và ngư dân Lào khi đó lo lắng về tình trạng hạn hán chưa từng thấy trên dòng Mêkông, ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị (Wang Yi) đã lên tiếng trấn an người dân Lào, đồng thời khẳng định Trung Quốc lâm vào tình trạng tương tự. Tuy nhiên, theo báo mạng Hoa Kỳ New York Times, các nghiên cứu về khí hậu, thủy văn, dựa trên các dữ liệu vệ tinh, vừa được công bố, cho thấy điều ngược lại.
Điều tra của công ty Eyes on Earth, được chính quyền Mỹ tài trợ, công bố ngày 12/04/2020, cho thấy đã có rất nhiều nước từ cao nguyên Tây Tạng đổ về thượng nguồn sông Mêkông tại Trung Quốc (đoạn sông mà Trung Quốc gọi là Lan Thương), đúng vào giai đoạn mà Bắc Kinh tuyên bố phía Trung Quốc cũng bị hạn hán. Đồng giám đốc điều tra, ông Alain Basist, nhấn mạnh : ‘‘Không thể bác bỏ được các dữ liệu từ vệ tinh, trong khi có rất nhiều nước trên cao nguyên Tây Tạng, thì những nước như Cam Bốt và Thái Lan lại lâm vào cảnh thiếu nước… Đã có một lượng nước khổng lồ bị Trung Quốc giữ lại’’.
Nghiên cứu của Eyes on Earth sử dụng công nghệ Special Sensor Microwave Imager/Sounder (SSMI/S) (tạm dịch là công nghệ đo lường cảm biến hình ảnh vi sóng) để xác định lưu lượng nước tại lưu vực sông Mêkông phần Trung Quốc, từ năm 1992 đến cuối năm 2019. Tiếp theo đó, các số liệu này được so sánh với các dữ liệu về dòng chảy sông Mêkông, tại trạm thủy điện Chiang Saen, Thái Lan, do Ủy Hội Sông Mêkông cung cấp. Trạm thủy điện nói trên là điểm sát nhất với biên giới Thái Lan - Trung Quốc.
Các dữ liệu cho thấy, trước năm 2012, dòng chảy được coi là diễn biến tương đối tự nhiên. Dòng chảy từ biên giới Trung Quốc - Thái Lan trở xuống có thể dự báo trước, căn cứ trên lượng nước từ các con suối trên thượng nguồn và nước băng tan. Tuy nhiên, từ năm 2012 trở đi xuất hiện độ chênh lệch lớn, giữa lượng nước có khả năng xuống hạ lưu và lượng nước thực tế.
Theo điều tra của Eyes on Earth, tổng lượng nước mà các hồ chứa nước để làm thủy điện của Trung Quốc có thể dự trữ là 47 tỉ mét khối. Nói một cách hình ảnh, theo kết quả điều tra về lượng nước Mêkông suốt 28 năm này, các đập thủy điện của Trung Quốc đã giữ lại tổng cộng một lượng nước của dòng sông, tương đương với chiều cao khoảng 130 mét (410 feet).
Theo báo cáo của Eyes on Earth, điểm căn bản khiến các đập thủy điện của Trung Quốc làm hạ lưu thêm khô hạn là việc các con đập sử dụng khối lượng nước khổng lồ này một cách tùy ý. Chính nhu cầu có nước dùng đều đặn chạy tua-bin thủy điện, với ngày một nhiều con đập hơn, đã có xu hướng biến Mêkông thành dòng sông không còn mùa lũ thực sự. Sông Mêkông ‘‘mùa mưa’’ 2019 vốn ít nước đã trở nên khô cạn hơn, bởi nước được điều tiết rất ít cho hạ lưu, vì còn để dành cho thủy điện hoạt động vào ‘‘mùa khô’’.
Trung Quốc phản ứng ra sao sau nghiên cứu của Mỹ?
Ngay hôm sau kết quả điều tra của Mỹ được công bố, ngày 13/04, bộ Ngoại Giao Trung Quốc đã lên tiếng bác bỏ, với khẳng định tỉnh Vân Nam, miền tây nam Trung Quốc, vừa hứng chịu hạn hán nghiêm trọng vào năm ngoái và lượng nước trong hồ chứa tại các đập thủy điện đã giảm xuống mức thấp nhất trong lịch sử. Tuy nhiên, bộ Ngoại Giao Trung Quốc cũng cam kết ‘‘sẽ hết sức cố gắng để đảm bảo lượng nước xả hợp lý” cho các quốc gia ở hạ lưu sông Mêkông, bao gồm Lào, Miến Điện, Thái Lan, Cam Bốt và Việt Nam.
Tác động của 11 đập thủy điện của Trung Quốc ở thượng nguồn Mêkông, từ lâu nay luôn là vấn đề tranh luận, tuy nhiên các cuộc thảo luận không đi được xa, vì thiếu dữ liệu có đủ cơ sở và cho đến nay, Bắc Kinh không công bố thông tin chi tiết về lượng nước trong các hồ chứa.
Trong khi đó, Hoa Kỳ dường như ngày càng chú ý hơn đến cuộc khủng hoảng nước tại lưu vực Mêkông. Trong một phát biểu tại Thái Lan năm ngoái, ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo cho rằng đợt hạn hán nghiêm trọng năm 2019 là do ‘‘Trung Quốc chặn dòng nước ở thượng nguồn sông Mêkông”. Mỹ nhiều lần lên án Trung Quốc rắp tâm kiểm soát hoàn toàn dòng Mêkông.
Về phản ứng nói trên của bộ Ngoại Giao Trung Quốc, theo ông Brian Eyler, giám đốc chương trình Đông Nam Á của trung tâm tư vấn Stimson Center, Washington, đối chiếu với các dữ liệu vệ tinh của cuộc điều tra, thì hoặc Bắc Kinh, hoặc những người trực tiếp quản lý các đập thủy điện đã che giấu sự thật. Ông Brian Eyler là tác giả cuốn ‘‘Những ngày cuối cùng của sông Mêkông’’.
Thái Lan và Cam Bốt kêu gọi Trung Quốc hợp tác điều tra
Thái Lan là quốc gia có phản ứng sớm. Theo trang mạng Chiang Rai Times, hôm 16/04/2020, cơ quan phụ trách tài nguyên nước của Thái Lan đã kêu gọi Trung Quốc và các quốc gia láng giềng phối hợp nghiên cứu để xác định các nguyên nhân dẫn đến tình trạng hạn hán ghê gớm hồi năm ngoái tại hạ lưu Mêkông.
Khi được hỏi về điều tra nói trên, ông Somkiat Prajamwong, lãnh đạo cơ quan nói trên, tỏ ra thận trọng, nhưng hứa sẽ trao đổi thông tin, cùng tiến hành nghiên cứu với Trung Quốc và các láng giềng khác. Lãnh đạo cơ quan tài nguyên nước Thái Lan khẳng định điều tra là cần thiết để xác định nguyên nhân hạn hán. Theo ông, cho đến nay ‘‘nguyên nhân chính’’ vẫn còn chưa được xác định. Trong số các nguyên nhân, được phía Trung Quốc xác nhận, có biến đổi khí hậu và việc vận hành 2 đập thủy điện ở Lào.
Giám đốc chương trình bảo vệ sông ngòi tại Thái Lan và Miến Điện, thuộc tổ chức phi chính phủ International Rivers, bà Pianporn Deetes, vui mừng là kết quả điều tra vừa được Mỹ công bố cho phép xác nhận các quan sát của dân cư dọc sông Mêkông từ nhiều năm nay.
Cũng hôm 16/04, tổng thư ký Ủy Hội Sông Mêkông của Cam Bốt cho biết vấn đề hạn hán là rất nghiêm trọng, các kết quả điều tra nói trên cần được Ủy Hội Sông Mêkông ‘‘xem xét nghiêm túc’’.
Về phía Ủy Hội Sông Mêkông (MRC), trả lời Reuters, tổ chức này cho biết đã yêu cầu Bắc Kinh cung cấp thêm thông tin, và có sự phối hợp làm việc mang tính chính thức hơn về vấn đề này. Theo văn phòng Ủy Hội Mêkông, cơ quan này đã yêu cầu phía Trung Quốc cung cấp số liệu nước đập thủy điện về mùa khô, nhưng hiện nay hai bên chưa có thỏa thuận chính thức nào.
Hồi tháng 2/2020, trong một cuộc họp với các đồng nhiệm Đông Nam Á tại Lào, ngoại trưởng Trung Quốc từng hứa sẽ chia sẻ thông tin về các đập thủy điện. Tuyên bố được đưa ra, sau khi có báo cáo tố cáo Trung Quốc sử dụng các đập thủy điện trên dòng Mêkông để thao túng các quốc gia ở hạ lưu.
Phản ứng của Hà Nội ra sao ?
Chính quyền Việt Nam dường như rất dè dặt sau khi kết quả điều tra của Eyes Earth được công bố (1). Tác động của đập thủy điện Trung Quốc đến tình trạng hạn hán ở hạ lưu là điều lâu nay được giới chuyên gia tại Việt Nam thảo luận nhiều. Có hai quan điểm đối lập khá rõ ràng. Một bên cho rằng ảnh hưởng là có, cần tìm hiểu, nhưng lý do chính là biến đổi khí hậu toàn cầu, và chính sách sử dụng nước sai lầm của chính Việt Nam tại đồng bằng Cửu Long.
Chính quyền Việt Nam dường như tập trung chú ý nhiều hơn đến mục tiêu cứu nguy tại chỗ ngay tại đồng bằng, với các biện pháp trong tầm tay, hơn là đòi hỏi Trung Quốc phải minh bạch thông tin về các đập thủy điện thượng nguồn.
Hãy nhận thư tin hàng ngày của RFI: Bản tin thời sự, phóng sự, phỏng vấn, phân tích, chân dung, tạp chí
Trong bối cảnh này, có một quan điểm được nhiều người chú ý của giáo sư Chung Hoàng Chương, công dân Hoa Kỳ, thành viên mạng International Rivers, nghiên cứu viên cao cấp tại Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia, Hà Nội. Theo giáo sư Chung Hoàng Chương, không nên đối lập các biện pháp cứu nguy tại chỗ với tầm nhìn dài hạn. Giáo sư Chương khẩn thiết lưu ý ‘‘trong tầm nhìn trên 10 năm, bắt đầu ngay từ bây giờ, (cần) nỗ lực đi đến một Hiệp định ứng xử cho toàn lưu vực với sáu quốc gia đang chia sẻ nguồn nước giống như Hiệp định khai thác và phát triển lưu vực sông Rhine ở châu Âu’’ (Bài '‘Chung một dòng sông’’, VnExpress, ngày 01/03/2020).
Điều tra về các đập thủy điện thượng nguồn, xác định phần tác động của Trung Quốc, là một yếu tố không thể thiếu cho tầm nhìn dài hạn này. Năm 2020, Việt Nam là chủ tịch luân phiên ASEAN. Liệu trên cương vị này, Hà Nội có thúc đẩy cho sự hình thành một tầm nhìn như vậy hay không (2)?
Ghi chú
1 - Cũng có nhiều người đặt câu hỏi: Phải chăng chính quyền Việt Nam há miệng mắc quai, vì chính Hà Nội cũng đầu tư vào thủy điện trên dòng chính Mêkông? Tháng 10/2019, tổ chức Cứu Sông Mêkông (Save Mekong) đề nghị Việt Nam xem lại quyết định tham gia dự án đập Luang Prabang. Tổng Công Ty Điện Lực Dầu Khí Việt Nam (PV Power) góp vốn nhiều nhất vào dự án này, với 38% (bài ''ĐBSCL sẽ 'suy thoái và tan rã' nếu xây dựng đập thủy điện Luang Prabang’’, Thanh Niên, ngày 10/10/2019). Ngày 05/03/2020, người phát ngôn bộ Ngoại Giao Việt Nam cho biết ‘‘Việt Nam rất quan tâm đến thủy điện Luang Prabang và tất cả các thủy điện khác trên sông Mêkông... việc xây dựng thủy điện trên sông phải không gây tác động tiêu cực đến các nước trong lưu vực’’. Tuy nhiên, người phát ngôn bộ Ngoại Giao không hề nói về vai trò của chính quyền Việt Nam với tư cách một chủ đầu tư. Báo chí trong nước đầu tháng 4/2020 nhận xét đầu tư của tổng công ty Việt Nam như ‘'một canh bạc’’, mà ‘‘phần thua chắc chắn thuộc về 20 triệu dân cư đồng bằng Cửu Long’’.
2 - Kỹ sư Phạm Phan Long (Vietnam Ecology Foundation / Hội Sinh thái Việt) đề xuất Việt Nam nên ''liên minh với Cam Bốt để cứu Mêkông, cứu đồng bằng Cửu Long'', sau khi Phnom Penh quyết định ngừng xây thủy điện trên dòng Mêkông trong 10 năm. Hà Nội cũng nên phối hợp với Lào và Cam Bốt, đầu tư vào các dự án năng lượng bền vững tại Lào và Cam Bốt. Đây là điều có thể giúp cho các bên tìm được tiếng nói chung trong việc bảo vệ dòng sông, tài sản vô giá của các quốc gia ven bờ (bài ‘‘Thủy điện Lan Cang-Mêkông gây khát nước và đói phù sa cho đồng bằng sông Cửu Long cách nào?’’, vietecology.org, ngày 20/03/2020).
Hoàng Sa - Trường Sa hôm nay
30/4/1975: Lầm lỗi tiếp tục lầm lỗi - Tai họa tiếp nối tai họa
Giấc mộng Trung Hoa đang hấp hối

Từ lâu, Trung Quốc đã có ước mơ thống trị hành tinh, nhưng chỉ tới khi Chủ tịch Tập Cận Bình công bố ‘Giấc mơ Trung Hoa’, thì thế giới mới bừng tỉnh bởi trong giấc mộng đó cả thế giới đều trở thành người bị hại gồm cả phần đa người dân Trung Quốc. Đại dịch đảo ngược tất cả, tờ New York Post cho rằng nền kinh tế này đang hấp hối và kêu gọi thế giới hãy “tắt máy thở”.Với giấc mơ trở thành cường quốc thống trị hành tinh, cho đến gần đây, Trung Quốc dường như cũng đang trên đường thành công, với con tem “Made in China” đang xuất hiện trên gần một phần ba hàng hóa được sản xuất của thế giới.Đại dịch đã đảo ngược tình thế. Hôm thứ Sáu (17/4), các quan chức Trung Quốc cho biết nền kinh tế của nước này đã giảm 6,8% từ tháng 1 đến tháng 3 năm 2020, so với một năm trước đó.
Tờ New York Post khẳng định mạnh mẽ: “Giấc mộng Trung Hoa của nhà độc tài Tập Cận Bình hiện đang hấp hối, có nguy cơ bị khuất phục trước con virus corona Vũ Hán mà ông và những người đồng chí cộng sản của mình đã tung ra trên thế giới.” Và đặc biệt kêu gọi “đã đến lúc chúng ta cần tắt máy thở.”
Đã đến lúc chúng ta cần tắt máy thở cho Trung Quốc
Sự phẫn nộ trước thái độ thiếu trách nhiệm của Trung Quốc trước đại dịch, tranh thủ đại dịch kiếm lời trên sinh mệnh của người dân toàn cầu đã thức tỉnh các chính phủ, người dân toàn thế giới về sự thật đằng sau “giấc mộng Trung Hoa”. Đây là cách làm giàu bất chính của một nền kinh tế kền kền vốn không chỉ là tội đồ của hàng giả, hàng nhái, ô nhiễm môi trường mà còn kiếm tiền trên sinh mạng của người dân Trung Quốc và thế giới trong nhiều thập kỷ.
Sự phẫn nộ này dường như thậm chí còn lan truyền nhanh hơn cả căn bệnh. Một cuộc thăm dò của Harris được công bố vào ngày 6/4 cho thấy 77% dân số Mỹ tin rằng Trung Quốc đáng bị lên án vì đại dịch. Trước khi dịch bệnh phát triển và kết thúc một cách tự nhiên, hầu hết 7 tỷ người trên thế giới có lẽ cũng sẽ đồng ý với quan điểm này.
Chỉ ba năm trước, ông Tập đã thực hiện một cuộc khải hoàn tiến vào Davos, được tôn vinh là nhà vô địch mới về thương mại tự do bởi những người châu Âu muốn tránh xa các chính sách America First (nước Mỹ trước tiên) của Tổng thống Trump.
Ngày nay, thật khó để tưởng tượng nhà độc tài Trung Quốc sẽ nhận được lời mời đến Davos – hay bất cứ đâu, khi mà chiến dịch giữ im lặng và đe dọa những người ‘thổi còi y tế” (cảnh báo nguy cơ y tế) của chính quyền Bắc Kinh đã cho phép con virus phát triển mạnh mẽ và cuối cùng lan rộng ra khắp thế giới.
Thủ tướng Anh, ông Boris Johnson, được cho là rất tức giận với Trung Quốc khi ông hồi phục từ virus corona, gần như đã giết chết ông hồi đầu tháng này. Ông không chỉ có thể sẽ ngăn chặn công ty điện tử do nhà nước Trung Quốc kiểm soát, Huawei, khỏi mạng 5G của Anh mãi mãi, ông còn hứa rằng sẽ có những hậu quả khác đối với sự thất bại của Trung Quốc trong việc chia sẻ dữ liệu chính xác và kịp thời về con virus chết người này.
New York Post đặt ra câu hỏi: “Bạn nghĩ các nhà lãnh đạo của Tây Ban Nha, Thổ Nhĩ Kỳ, Hà Lan, Úc và Cộng hòa Séc sẽ đối xử với Trung Quốc như thế nào?” Tất cả các quốc gia này đều nhận được những bộ dụng cụ thử nghiệm và PPE (thiết bị bảo hộ cá nhân) cùng các vật tư y tế bị lỗi của Trung Quốc – khiến cho việc ngăn chặn virus thất bại. Một số dụng cụ thử nghiệm thậm chí đã nhiễm virus corona – dù vô tình hay cố ý – việc này làm trầm trọng thêm sự bùng phát của dịch bệnh toàn cầu.
Ngay cả một quan chức ở Iran, đồng minh thân cận nhất của Trung Quốc ở Trung Đông, cũng đã phàn nàn một cách cay đắng về những lời dối trá của Trung Quốc khiến cho Iran đã phải trả giá bằng mạng sống của hàng ngàn đồng bào của mình.
Dịch bệnh cũng đã tiết lộ sự phụ thuộc nguy hiểm của Mỹ và phương Tây vào Trung Quốc đối với nhiều loại thuốc và vật tư y tế phổ biến nhất. Chúng ta không thể tưởng tượng rằng có quốc gia nào đó có thể đe dọa sẽ giữ lại các loại thuốc cứu mạng giữa đại dịch toàn cầu. Thế nhưng, ngạc nhiên chưa, Trung Quốc đã làm vậy. Lúc này Mỹ và phương Tây không có lựa chọn nào khác ngoài việc thêm những thứ như penicillin và PPE vào danh sách các sản phẩm, như thép và chip silicon, mà họ cần phải sản xuất trong nước.
Các doanh nghiệp của Mỹ có sẵn sàng rời khỏi Trung Quốc vì lợi ích quốc gia?
Câu hỏi lớn là liệu các công ty lớn của Mỹ, ví dụ như Apple, có ý định sẽ bắt đầu chuyển sản xuất ra khỏi Trung Quốc sau đại dịch này hay không. Điều đó có nghĩa là họ sẽ cần phải hy sinh lợi nhuận của mình cho những thứ vô hình như an ninh quốc gia và độc lập kinh tế của Hoa Kỳ.
Cố vấn kinh tế của Nhà Trắng, ông Larry Kudlow, đưa ra gợi ý rằng chính quyền có thể lôi kéo các công ty Mỹ rời khỏi Trung Quốc và quay trở lại Mỹ bằng cách chi trả toàn bộ chi phí vốn liên quan đến việc di dời. Các chính phủ cần can thiệp để đảm bảo các công ty của họ hành động vì lợi ích quốc gia. Chính phủ Nhật Bản tuyên bố rằng họ sẽ bắt đầu trả tiền cho các công ty của mình để di dời khỏi Trung Quốc. Các quốc gia khác, bao gồm cả Mỹ, chắc chắn cũng sẽ theo sau. Sau đó, thuế quan của Trump sẽ quay trở lại nếu Trung Quốc không giữ lời hứa mua 250 tỷ đô la các sản phẩm do Mỹ sản xuất trước thời điểm cuối năm 2021.
Trong năm tới, nền kinh tế Trung Quốc sẽ phải chịu đựng hàng loạt nhát cắt: chiến tranh thương mại với Trump, chuỗi cung ứng tại Trung Quốc bị phá vỡ và chuyển dịch đến các nước khác, các nhà máy chuyển sang các quốc gia tự do hơn, người tiêu dùng trên khắp thế giới từ chối hàng hóa Trung Quốc.
Trang New York Post nhận định mạnh mẽ: “Một nhát cắt không thể dẫn đến tử vong. Nhưng với nhiều nhát cắt cùng lúc, chúng sẽ làm khô máu nền kinh tế Trung Quốc. Hy vọng rằng chúng có thể làm lung lay nền tảng thâm căn cố đế của ĐCSTQ – một thể chế cực kỳ tham nhũng và bất tài.”
Vì lợi ích kinh tế và an ninh quốc gia, Mỹ từ lâu đã cần thoát Trung. New York Post cũng kêu gọi, việc chấm dứt sự phụ thuộc lẫn nhau này đòi hỏi sự hy sinh kinh tế đáng kể từ phía doanh nghiệp và người dân Mỹ, nhưng có nhiều thứ cần cân nhắc hơn so với “hàng giá rẻ Trung Quốc”. Nhân tố gây thiệt hại hàng nghìn tỷ đô la cho nền kinh tế toàn cầu chính là đại dịch “Made in China”, và cái giá phải trả là quá lớn.
Theo NTD – 23/04/20

Các chuyên mục 











Có thể nói HCM là truyền nhân của Quản Trọng, đời Xuân Thu bên Tàu (
Giá trị lớn nhất của văn hoá không phải là nguyên tắc mà là sự cởi mở và bao dung.



