Người ta bảo "LỊCH SỬ LÀ KHOA HỌC VỀ SỰ BẤT HẠNH CỦA NHÂN LOẠI" - Stéphane Courtois"
“Kẻ nào bắn vào quá khứ bằng súng lục, thì tương lai sẽ bắn vào kẻ đó bằng đại bác” - Rasul Gamzatov
TÀI LIỆU LỊCH SỬ DÀNH CHO 90 TRIỆU NGƯỜI VIỆT NAM KHÔNG SỢ ĐỌC SỰ THẬT ĐỂ BIẾT BÁC HỒ CÓ BAO NHIÊU VỢ và BAO NHIÊU NGƯỜI TÌNH LẺ !
HỒ CHÍ MINH CÓ MẤY VỢ và BAO NHIÊU NGƯỜI TÌNH LẺ ?
GS. Trần Gia Phụng
(Theo tác giả Nguyễn Minh Cần, lúc xảy ra vụ án ông là Phó chủ tịch Uỷ ban Nhân dân thành phố Hà Nội (tức Phó thị trưởng), thì Trần Quốc Hoàn, bộ trưởng bộ Công An chính phủ Hà Nội, nhiều lần đến nhà bà Xuân để hãm hiếp bà từ ngày 6-2-1957, và cuối cùng đã giết bà Xuân ngày 11-2-1957 bằng cách đánh búa vào đỉnh đầu (theo khám nghiệm của bác sĩ), rồi quăng xác ở dốc Cổ Ngư.)
- 1.Tăng Tuyết Minh (vợ chính thức có hôn thú, đã có thai với Hồ, nhưng sau phải phá thai vì mất liên lạc với Hồ)
- 2.Nguyễn Thị Minh Khai (người đồng chí, người tình đã ăn nằm như vợ chồng với Hồ, nhưng Hồ bệnh chết năm - 1932, nên sau đó Minh Khai lấy Lê Hồng Phong sau Hội nghị 7 CSQT)
- 3.Nông Thị Ngát (gái Nùng có 1 con trai với Hồ, tên Nông Đức Mạnh)
- 4.Đỗ Thị Lạc (có một người con gái với HCM)
- 5.Nông Thị Xuân (gái trẻ sơn cước, có 1 con trai Nguyễn tất Trung sinh năm 1956 với Hồ)
- 6.Nông Thị Vàng (em gái bà Xuân vào ở chung với bà Xuân số 66 Hàng Bông Thợ Nhuộm)
- 7.Nguyệt (em gái bà Xuân vào ở chung với bà Xuân số 66 Hàng Bông Thợ Nhuộm)
- 8.Marie Bière (người tình lẻ Pháp)
- 9.Véra Vasiliéva (người tình lẻ trong đảng CS Nga)
- 10.Nguyễn Thị Phương Mai, tỉnh ủy viên tỉnh ủy Thanh Hóa, đòi Hồ phải làm công khai làm đám cưới, nhưng đảng ko cho, sau đó hủy bỏ !
(Đây chỉ là mặt nổi của những người đàn bà qua tay cha già dzâm tặc HCM, còn những cháu gái miền Nam vượt Trường Sơn ra Bắc cho bác "CẤY HẠT GIỐNG ĐỎ" để mang về Nam thì ko thể đếm hết ?!)
Một người đến tuổi trưởng thành, lập gia đình là chuyện bình thường. Nhưng bản thân Hồ Chí Minh cũng như đảng Cộng Sản Việt Nam luôn luôn xưng tụng ông Hồ là một người chỉ nghĩ đến việc phục vụ đất nước nên không có thời giờ lập gia đình, và không có vợ con. Thực sự có phải như thế không?
1. TĂNG TUYẾT MINH, người vợ Trung Quốc :
Khoảng giữa tháng 11-1924, Hồ Chí Minh, lúc đó có tên là Lý Thụy, đáp tàu thủy từ Vladivostok (Liên Xô) đến Quảng Châu (Trung Hoa) với tư cách là thư ký kiêm thông ngôn cho phái đoàn cố vấn Borodin (Liên Xô) bên cạnh chính phủ Tôn Dật Tiên ở Quảng Châu, trong giai đoạn liên minh quốc cộng lần thứ nhất ở Trung Hoạ Trong thời gian sống ở Quảng Châu, ngoài những hoạt động chính trị, Lý Thụy lấy một cô gái Quảng Châu tên là Tăng Tuyết Minh, đảng viên đảng Cộng Sản Trung Hoa, làm nghề nữ hộ sinh, ngày 18-10-1926.
Sau đây là lá thư của Lý Thụy gởi cho Tăng Tuyết Minh do Nha Liêm Phóng Đông Dương phát hiện ngày 14-8-1928:
“Dữ muội tương biệt, Chuyển thuấn niên dư, Hoài niệm tình thâm, Bất ngôn tự hiểụ Từ nhân hồng tiện, Dao ký thốn tiên, Tỷ muội an tâm, Thị nã da vọng. Tịnh thỉnh nhạc mẫu vạn phúc. Chuyết huynh Thụy. Tóm dịch: “Cùng em chia tay nhau, Thấm thoát nháy mắt đã hơn năm, Nhớ nhung tình sâu, Không nói cũng tự biết. Nay nhân gởi tin hồng nhớn, Xa xôi gởi lá thư mang tấm lòng, Mong em yên tâm, Là điều anh trông ngóng. Cũng xin vấn an nhạc mẫu vạn phúc. Người anh vụng về Thụy”
.
Theo tác giả Daniel Hémery, L Thụy không gặp lại được Tăng Tuyết Minh từ sau năm 1927, có thể vì Tuyết Minh bị thất lạc do chiến tranh quốc cộng ở Trung Hoa vào đầu năm 1927.
Cộng Sản Hà Nội phủ nhận mối quan hệ giữa Lý Thụy và Tăng Tuyết Minh. Họ cho rằng nếu lá thư có thật, chẳng qua là Lý Thụy thường thông tin với các đồng chí dưới dạng thư tình để qua mặt giới tình báo của các nước tới Quảng Châụ. Chú ý đọc kỹ lá thư với lời lẽ rất thân thiết lãng mạn (muội, huynh, tình thâm) thì không thể là thư liên lạc bình thường.
2. NGUYỄN THỊ MINH KHAI, người đồng chí:
Nguyễn Thị Minh Khai tên thật là Nguyễn Thị Vịnh, sinh năm 1910 tới Vinh (Nghệ An), con ông Nguyễn Huy Bình là nhân viên hỏa xa, và là chị của Nguyễn Thị Quang Thái, vợ đầu của Võ Nguyên Giáp. Minh Khai học trường tiểu học Pháp Nam ở Vinh. Năm 1928, Khai gia nhập Tân Việt Cách Mạng Đảng, sau đó qua đảng Cộng Sản Đông Dương, và sang Hồng Kông hoạt động năm 1930. Ở Hồng Kông, tới trụ sở chi nhánh Bộ Đông Phương của Quốc tế cộng sản, hằng ngày, vào buổi sáng, Minh Khai học chính trị do Lý Thụy đích thân truyền dạỵ Từ đó nẩy sinh tình cảm nam nữ giữa hai ngườị
Khi đến Moscow, Minh Khai khai báo lý lịch là đã có chồng, và mở ngoặc tên chồng là Lin. Lin là bí danh của Nguyễn Ái Quốc lúc đó.
Cũng theo nguồn tài liệu nầy, những phiếu ghi nhận đồ đạc trong phòng riêng hai người tới nhà ở tập thể của các cán bộ cộng sản cũng đều ghi hai vợ chồng Minh Khai, Lin cùng chung phòng, chung giường, chung đồ dung.
Tháng 4-1931, Minh Khai bị bắt ở Hồng Kông, đến đầu năm sau thì được thả rạ Trong khi đó, Lý Thụy cũng bị bắt và bị trục xuất ra khỏi Hồng Kông. Lý Thụy qua Quảng Châu, lên Thượng Hải, đáp tàu đi Vladivostok, rồi Moscow.
Ngày 25-7-1935, tới Moscow khai mạc đại hội cộng sản quốc tế. Phái đoàn đại diện đảng Cộng Sản Đông Dương do Lê Hồng Phong dẫn đầu gồm có: Lê Hồng Phong, Quốc, Kao Bang, vợ Quốc và hai đại biểu khác từ Nam Kỳ và Ai Lao đến. (3)
Khi đến Moscow, Minh Khai khai báo lý lịch là đã có chồng, và mở ngoặc tên chồng là Lin. Lin là bí danh của Nguyễn Ái Quốc lúc đó.
Cũng theo nguồn tài liệu nầy, những phiếu ghi nhận đồ đạc trong phòng riêng hai người tới nhà ở tập thể của các cán bộ cộng sản cũng đều ghi hai vợ chồng Minh Khai, Lin cùng chung phòng, chung giường, chung đồ dùng... (5) Theo lời con gái của bà Vera Vasilieva (bà nầy là một nhân viên người Nga trong tổ chức Quốc tế Cộng Sản), kể cho nhà nữ sử học Sophia Quinn Judge (Hoa Kỳ), được ông Thành Tín viết lới trong Về ba ông thánh, thì trong thời gian diễn ra đới hội nầy, ông Lin (tức Hồ chí Minh) hay ghé lới nhà bà Vera Vasilieva thăm, và thường đi cùng với một phụ nữ Việt Nam tên là Phan Lan. Phan Lan là bí danh của Nguyễn Thị Minh Khai dùng khi ở Moscow. (6)Minh Khai học ở Viện Thợ thuyền Đông Phương tức trường Staline đến tháng 2-1937 thì về nước qua đường Pháp, đến Sài Gòn năm 1938. Năm 1940, Khai bị bắt, bị lên án tử hình, và bị bắn tại Hóc Môn năm 1941.
Theo tài liệu của đảng Cộng Sản Việt Nam, Nguyễn Thị Minh Khai là vợ của Lê Hồng Phong (tức Lê Huy Doãn), và có với Phong một người con gái tên Lê Thị Hồng Minh, sinh năm 1939. Nhưng trước khi làm vợ Lê Hồng Phong, những tài liệu trong tờ khai lý lịch và những câu chuyện do bà Sophia Quinn Judge đưa ra cho thấy một thời Minh Khai đã là vợ của Nguyễn Ái Quốc tức Hồ Chí Minh. Nhà báo Thành Tín còn đi xa hơn nữa khi đặt câu hỏi biết đâu tên Hồ Chí Minh là kỷ niệm về Minh Khaị Ngoài ra ông Hồ còn lấy tên là T. Lan để viết một quyển sách tự truyện tựa đề là "Vừa đi đường vừa kể chuyện". Cũng theo tác giả Thành Tín, biết đâu chữ Lan cũng lấy từ Phan Lan, bí danh của Minh Khai khi ở Moscow.
3. ĐỖ THỊ LẠC LÀ AI ??
Sau đại hội Moscow ngày 25-7-1935, Lê Hồng Phong (1902-1942) được Quốc tế Cộng Sản gởi về nước hoạt động, còn Nguyễn Tất Thành (hay Lý Thụy, Nguyễn Ái Quốc) bị thất sủng và bị giữ lại ở Liên Xô cho đến cuối năm 1938, Thành được gởi về Trung Hoa dưới một tên mới là Hồ Quang, điều khiển ban Hải ngoại đảng Cộng Sản Đông Dương.
Đầu năm 1940, Lê Hồng Phong bị bắt ở Phan Thiết, đưa vào Sài Gòn, bị đày đi Côn đảo rồi chết ở ngoài đó năm 1942. (8) Trong khi đó, cuối năm 1940, Nguyễn Tất Thành bắt đầu sử dụng thông hành mang tên Hồ Chí Minh, ký giả một báo do Cộng Sản Trung Hoa điều khiển.(9)
Vào đầu năm 1941, Hồ Chí Minh về nước, đặt căn cứ ở hang Pắc Bó, châu Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. (10) Sau khi củng cố nội bộ, huấn luyện đảng viên, phát triển cơ sở, và tổ chức hội nghị trung ương đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ 8 (tháng 5-1941), đưa Trường Chinh đặng Xuân Khu (1909-1988) lên làm Tổng bí thư đảng, Hồ Chí Minh qua Trung Hoa tiếp tục hoạt động, đánh phá các cơ sở cách mạng không cộng sản, và kiếm cách xin Trung Hoa viện trợ. Cuối tháng 8-1942, Hồ bị chính quyền Trung Hoa Quốc Dân Đảng bắt giữ đến tháng 9-1943.(11) Ra khỏi tù, Hồ luôn luôn kiếm cách lấy lòng các tướng quân Trung Hoa ở Liễu Châu như Trương Phát Khuê, Tiêu Văn.
Lúc bấy giờ, phía Trung Hoa đang có sự hợp tác quốc cộng để chống Nhật. Tướng Tiêu Văn áp lực các tổ chức cách mạng Việt Nam hợp nhất với nhaụ Dầu bị Việt Nam Quốc Dân Đảng và Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội phản đối, Tiêu Văn vẫn cho tiến hành đới hội tới Liễu Châu ngày 28-3-1944 gồm đại biểu của tất cả các tổ chức chính trị Việt Nam. Các phe phái không cộng sản và cộng sản tranh luận gay gắt, nhưng cuối cùng cũng bầu ra được một ban chấp hành mới gồm có bảy ủy viên chính thức và một ủy viên dự khuyết là Hồ Chí Minh, và ba ủy viên giám sát.
Trong danh xưng mới, Hồ khéo léo ẩn mình, rất được Tiêu Văn tin cậỵ Hồ đề nghị Tiêu Văn cho mình về nước cùng một số cán bộ đã được Trung Hoa huấn luyện, và một số súng đớn, thuốc men và tiền bớc. Tiêu Văn đồng Ọ cho Hồ về Việt Nam với 18 cán bộ vừa mới tốt nghiệp khóa huấn luyện quân sự dựới Kiều (gần Liễu Châu), cộng thêm 76.000 quan kim, tài liệu tuyên truyền, bản đồ quân sự và thuốc men, nhưng không cấp vũ khí. Hồ về tới Pắc Bó (Cao Bằng) vào gần cuối năm 1944.
Trong số 18 cán bộ theo Hồ về nước lần nầy có Đỗ Thị Lạc tức "chị Thuần." Nhân thân của Đỗ Thị Lạc không được rõ ràng, chỉ biết rằng vào năm 1942, khi tướng Quốc Dân Đảng Trung Hoa là Trương Phát Khuê tổ chức lớp huấn luyện chính trị và quân sự cho các tổ chức cách mạng Việt Nam ở Đại Kiều (gần Liễu Châu), Đỗ Thị Lạc theo học lớp truyền tin. Khi về Pắc Bó, Đỗ Thị Lạc sống chung với họ Hồ một thời gian, lo dạy trẻ em và vận động vệ sinh ăn ở của dân chúng ở Khuổi Nậm gần Pắc Bó. Sử gia Trần Trọng Kim, trong sách Một cơn gió bụi đã cho biết Đỗ Thị Lạc đã có một người con gái với Hồ Chí Minh. Do tình hình biến chuyển, Hồ rời Pắc Bó đầu năm 1945 qua Trung Hoa, bắt liên lạc và hợp tác với tổ chức OSS dưới bí danh Lucius vào tháng 3-1945.
Đầu tháng 5-1945, Hồ về Việt Nam, ghé Khuổi Nậm (Cao Bằng) thăm Đỗ Thị Lạc một thời gian ngắn rồi đi Tân Trào (Tuyên Quang), và bị cuốn hút vào những biến chuyển lịch sử sau đó. Chuyện tình giữa Hồ với Đỗ Thị Lạc, cũng như với Minh Khai, Tăng Tuyết Minh bị giấu nhẹm, nên sau đó không còn dấu vết gì nữa.
4. NÔNG THỊ XUÂN, Gái sơn cước
Sau khi hiệp định Genève được ký ngày 20-7-1954, đất nước chia hai, hòa bình tái lập, Hồ Chí Minh về Hà Nội làm chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (Bắc Việt). Ban bảo vệ sức khỏe trung ương, chuyên trách sức khỏe các nhân vật cao cấp, đã tuyển 1 phụ nữ thuộc "gia đình cách mạng" (16) tên là Nông Thị Xuân, người làng Hà Mạ, xã Hồng Việt, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng, thuộc sắc tộc Nùng. Cô Xuân được đưa về Hà Nội sống với ông Hồ năm 1955. Lúc đó, ông Hồ đã khoảng 65 tuổi, còn cô Xuân 22 tuổị Sau vài tháng có thêm một em gái của cô Xuân tên là Vàng, và một em gái con cậu ruột là Nguyệt cũng được đưa theọ Cả ba được sắp đặt sinh sống trong ngôi nhà số 66 phố Hàng Bông Thợ Nhuộm, gần đường Quang Trung, Hà Nộị Thông thường, để giữ bí mật về mối quan hệ giữa Nông Thị Xuân và Hồ Chí Minh, chính bộ trưởng bộ Công an của chính phủ Hà Nội là Trần Quốc Hoàn đưa cô Xuân vào gặp ông Hồ, rồi sau đó chở về. Bà Xuân rất được ông Hồ ưa thích, và có với ông Hồ một con trai năm 1956, đặt tên là Nguyễn Tất Trung, nhưng trước sau ông Hồ vẫn không cho bà Xuân vào ở phủ chủ tịch với ông, và không làm lễ cướị.
Thế rồi bỗng nhiên "vào một buổi sáng mùa xuân năm 1957, người ta thấy có xác một người đàn bà bị xe ô tô đụng chết ở dốc Cổ Ngư lên Chèm [Hà Nội]. Xác chết được đưa vào bệnh viện Việt Đức, được nhận dạng, đó chính là cô Xuân. Nhưng xác không được mổ theo thường lệ, mà bị chôn cất vội vã, theo lệnh của Trần Quốc Hoàn..."
Theo tác giả Nguyễn Minh Cần, lúc xảy ra vụ án ông là Phó chủ tịch Uỷ ban Nhân dân thành phố Hà Nội (tức Phó thị trưởng), thì Trần Quốc Hoàn, bộ trưởng bộ Công An chính phủ Hà Nội, nhiều lần đến nhà bà Xuân để hãm hiếp bà từ ngày 6-2-1957, và cuối cùng đã giết bà Xuân ngày 11-2-1957 bằng cách đánh búa vào đỉnh đầu (theo khám nghiệm của bác sĩ), rồi quăng xác ở dốc Cổ Ngư. Điều nầy chứng tỏ thẩm quyền tối cao về chính trị tới Hà Nội lúc đó, hoặc Hồ Chí Minh, hoặc Bộ Chính trị trung ương đảng, hoặc cả hai bên, đã quyết định thanh toán bà Xuân khi bà nầy muốn công khai hóa mối liên hệ giữa bà với ông Hồ và đòi chính thức nhìn nhận đứa con, nên Trần Quốc Hoàn mới dám làm hỗn với bà Xuân trước khi giết. Người chứng kiến việc chị mình bị hãm hiếp và bị đem đi giết chết là cô Vàng cũng bị thủ tiêu khoảng ngày 2 hay 3-11-1957.
Ở đây, có lẽ nên mở một dấu ngoặc để tìm hiểu vì sao Trần Quốc Hoàn, ủy viên bộ Chính trị, bộ trưởng bộ Nội vụ nắm giữ ngành công an là một bộ quan trọng trong chế độ cộng sản, quyền lực đầy đủ trong tay, dư điều kiện và phương tiện để hành lạc trác táng, lại hành xử lạ lùng như vậỷ Trước hết, tuy được coi là lãnh tụ số một của chế độ công sản Hà Nội lúc bấy giờ, Hồ Chí Minh không được các lãnh tụ khác cũng như bộ hạ thực tâm kính trọng. Điều nầy được bộc lộ rõ nét trong những quan hệ riêng tư nội bộ mà dân chúng bên ngoài không được biết, ví dụ tuy bà Xuân đã từng là vợ của Hồ Chí Minh, Trần Quốc Hoàn vẫn xem thường và xài xễ cho bỏ ghét. Cũng có thể việc xài xễ nầy bắt nguồn từ quan niệm dùng người hết sức tàn bạo của cộng sản: đó là khi một người đã hết sử dụng được thì tuyệt đối không còn được chút lưu tình chút nào, và bị coi là một thứ công cụ vứt đị, Hồ Chí Minh quyết định thanh toán bà Xuân, cho Trần Quốc Hoàn muốn làm gì thì làm; hoặc Trần Quốc Hoàn biết bà Xuân sắp bị thanh toán, coi bà như một thứ đồ dùng, xài kẻo phí của trờị Ngoài ra, hành vi của Trần Quốc Hoàn còn chứng tỏ một tâm lý kiêu hãnh và tự cao, lãnh tụ số một dùng được thì "ta" cũng dùng được, "ta" có thua gì lãnh tụ đâu?
SỐ PHẬN NGUYỄN TẤT TRUNG SAU KHI BÀ XUÂN CHẾT RA SAO ?
Sau khi bà Xuân qua đời, Nguyễn Tất Trung mới một tuổi, mồ côi mẹ, được dì là cô Vàng nuôi, nhưng rồi bị bắt đem đi gởi cho Nguyễn Lương Bằng (1904-1979), bí danh Sao đỏ, một lãnh tụ cộng sản Việt Nam. Năm bé Trung năm tuổi (1961), người ta lại chuyển cho tướng Chu Văn Tấn nuôị Chu Văn Tấn cùng sắc tộc Nùng với bà Xuân, là kẻ đứng ra tổ chức đơn vị cứu quốc quân đầu tiên của cộng sản ở vùng rừng núi Việt bắc. Khi ông Hồ qua đời ngày 2-9-1969, thư ký kiêm cận vệ của ông Hồ là Vũ Kỳ nhận Trung làm con nuôi và đổi tên là Vũ Trung.
Ngoài bốn nhân vật chính trên đây, theo tác giả Thành Tín tức cựu đại tá Bùi Tín của quân đội cộng sản Hà Nội, trong cuộc đời Hồ Chí Minh còn có một vài cuộc tình nhỏ như khi còn ở Paris, ông Hồ có một người tình tên là Marie Bière, lúc sang Hoa Nam, ông Hồ yêu bà Đặng Dĩnh Siêu, vợ Chu Ân Laị. Sau đây là lời Thành Tín viết về hai "mối tình con" nầy của ông Hồ: "...Theo tài liệu ở Pháp, khi trẻ tuổi, làm thợ ảnh, ông Hồ có quan hệ với một cô đầm tên là Marie Bière nào đó..." Ở một đoạn khác, Thành Tín tiếp : "... Theo chị Sophia, có người kể với chị là ông Hồ còn có lúc yêu cả vợ ông Chu Ân Lai là bà Đặng Dĩnh Siêu, khi gặp nhau ở Hoa Nam thời trẻ ông cũng có lúc có tình cảm mặn nồng với cả chính bà Véra Vasiliévạ Chị Sophia kể rằng con gái bà Véra Vasiliéva nhớ lới rằng anh thanh niên Quốc ăn mặc rất chải chuốt, luôn mang cà vạt màu rất diện, xức cả nước hoa cực thơm..."
Sau hiệp định Genève, trước vụ cô Xuân, ban lãnh đạo đảng Cộng Sản Hà Nội có ý kiến là ông Hồ cần có vợ để điều hòa tâm sinh lý, giúp giữ gìn sức khỏe được tốt. Người ta chọn cho Hồ Chí Minh một nữ cán bộ trẻ đẹp là cô Nguyễn Thị Phương Mai, tỉnh ủy viên tỉnh ủy Thanh Hóạ Khi về Hà Nội gặp họ Hồ, cô Phương Mai đồng ý lấy ông Hồ với điều kiện là phải danh chánh ngôn thuận, nghĩa là phải làm lễ cưới công khai đàng hoàng. Ông Hồ và các cán bộ lãnh đạo đảng Cộng Sản Hà Nội cho rằng ông Hồ không lấy vợ thì có lợi cho uy tín chính trị hơn (?) nên cuối cùng việc cô Phương Mai không thành. Về sau, cô Phương Mai được đưa lên làm thứ trưởng bộ Thương binh trong chính phủ Hà Nộị. Qua các cuộc tình của Hồ Chí Minh, và nhất là qua sự kiện Nông Thị Xuân và Nguyễn Thị Phương Mai, người ta thấy rõ ông Hồ và cả đảng Cộng Sản Việt Nam muốn ông ta có cơ hội giải quyết sinh lý của một con người bình thường, nhưng không chịu công khai hóa một cách danh chánh ngôn thuận đời sống vợ chồng, nhắm tạo cho ông ta thành huyền thoại về một siêu nhân suốt đời sống cô đơn, hy sinh bản thân cho đới cuộc của đất nước.
Đó là chưa kể chính bản thân của ông Hồ là một người say mê công danh đến cùng tột, và sự say mê đó được thể hiện rõ qua việc đảng Cộng Sản đã in cả hàng chục triệu quyển sách để thần thánh hóa ông Hồ, mà ông vẫn chưa thỏa mãn. Ông ta còn lấy những bút hiệu khác để viết sách tự đề cao mình. Đó là hai quyển “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ chủ tịch” bút hiệu Trần Dân Tiên, và “Vừa đi đường vừa kể chuyện” bút hiệu T. Lan.
Các danh nhân trên thế giới viết hồi ký kể lại quá trình hoạt động của mình là chuyện bình thường. Trong hồi ký của họ, đôi khi họ cũng ca ngợi chính bản thân họ, nhưng vấn đề là họ tự đề tên thật và chịu trách nhiệm về những điều họ viết. Ngược lại, Hồ Chí Minh giấu mình qua những tên khác để tự ca tụng mình. Dưới tên Trần Dân Tiên, ông Hồ đã mở đầu sách Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ chủ tịch như sau: "Nhiều nhà văn, nhà báo Việt Nam và ngoại quốc muốn viết tiểu sử của vị Chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, nhưng mãi đến nay, chưa có người nào thành công. Nguyên nhân rất đơn giản: Chủ tịch Hồ Chí Minh không muốn nhắc lới thân thế của mình..." Sau đó, ông Trần Dân Tiên tức Hồ Chí Minh tự đề cao mình: "...
Một người như Hồ Chủ tịch của chúng ta, với đức khiêm tốn nhường ấy và đương lúc bề bộn biết bao nhiêu công việc, làm sao có thể kể cho tôi [?] nghe bình sinh của người được?..." (23) Trước phần kể chuyện của Trần Dân Tiên tức Hồ Chí Minh, nhà xuất bản Sự Thật đã viết lời dẫn nhập như sau: "...Trải qua một cuộc đời oanh liệt, đầy gian khổ hy sinh, vô cùng cao thượng và phong phú, Hồ Chủ Tịch đã nêu tấm gương đạo đức cách mạng vô cùng trong sáng và đẹp đẽ, quyết tâm cống hiến cả cuộc đời cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta và nhân dân thế giớị.."
(24) Nhà xuất bản Sự Thật là cơ quan chuyên xuất bản sách vở kinh điển của Trung ương đảng Cộng Sản, không thể không biết rõ lai lịch của quyển sách, lý lịch của người viết. Nếu nhà xuất bản Sự Thật không biết sách của ai, hoặc tác giả chỉ là một nhà báo tầm thường không tên tuổi như Trần Dân Tiên hoặc T. Lan, thì chắc chắn không bao giờ sách được nhà xuất bản Sự Thật in ra. Do đó, chắc chắn những được in trong nước, mà các sách nầy còn được nhà xuất bản Ngoại Văn dịch thành nhiều thứ tiếng khác nhau để phát hành khắp các nước trên thế giới trong suốt cuộc chiến tranh từ 1960 đến 1975. Đây không phải chỉ là ý đồ cá nhân của Hồ Chí Minh mà còn là chủ tâm của toàn đảng Cộng Sản Việt Nam nhắm suy tôn lãnh tụ, thần thánh hóa Hồ Chí Minh để đánh lừa chẳng những đồng bào Việt Nam ở trong nước, mà còn cả toàn thể dư luận thế giới trong thời gian chiến tranh trước đây.
Trở lại chuyện vợ con của ông Hồ, ông ta cũng chỉ là một con người bình thường như mọi người, có vợ có con, nhưng lúc trẻ tham vọng trở thành lãnh tụ chính trị đã thúc đẩy ông chối bỏ trách nhiệm làm chồng, làm cha, và nhất là giấu kỹ tất ca? những quan hệ tình cảm cá nhân, nhắm tự tạo cho mình hình ảnh của một lãnh tụ chính trị độc thân, trong sạch, hy sinh cá nhân để suốt đời tận tụy lo toan việc nước, nhắm lôi cuốn quần chúng đi theo đường lối cộng sản của ông ta. Huyền thoại nầy rất cần thiết để xây dựng chế độ độc tài, nên ông Hồ và các đảng viên thân tín của ông càng ra sức gia công phát huy rộng rãi huyền thoại nầy cho những toan tính của đảng Cộng Sản.
Nhưng một khi nhà lãnh tụ vong thân trong huyền thoại thì họ không còn được cuộc sống bình thường của con người, mà nhất nhất đều phải theo sự điều hành trong guồng máy của chủ nghĩa độc tàị. Do đó, khi trở thành lãnh tụ nhà nước ở Hà Nội, ông Hồ muốn quyết định bất cứ việc gì, dù có tính cách riêng tư, cũng đều có ý kiến của bộ chính trị đảng Cộng Sản, tức là nhóm lãnh đạo chóp bu của đảng Cộng Sản Hà Nội lúc bấy giờ.
Vì thế mới có chuyện đảng Cộng Sản đi tìm phụ nữ cho Hồ Chí Minh thỏa mãn nhục dục, nhưng một khi các cô gái đòi chính thức hóa bằng hôn lễ công khai, thì lại thoái thác rằng "bác" không lấy vợ để lợi cho uy tín chính trị hơn. Trong chế độ cộng sản hiện nay ở Việt Nam, không phải chỉ có một trường hợp điển hình là Hồ Chí Minh, mà có thể còn nhiều khuôn mặt khác nữa...
Hiện tượng nầy cũng không phải chỉ riêng ở Việt Nam mà là một hiện tượng chung của thế giới cộng sản. Lý do chính là trong thế giới cộng sản không có cơ chế dân chủ, không có tự do ngôn luận, không có tự do báo chí từ đó không có sự chế tài đối với các lãnh tụ và các lãnh tụ vượt ra ngoài vòng dư luận, muốn làm gì thì làm, không sơ. sự phê bình của dân chúng. Điều nầy đưa đến nhiều hậu quả tai hại rộng và lâu dài cho đất nước, khiến đất nước càng ngày càng đi xuống thê thảm như tình trạng Việt Nam ngày nay.
Chính vi thế mà nhà thơ Nguyễn Chí Thiện mới làm ra bài thơ ca tụng bác:
BÁC HỒ RỒI LẠI BÁC TÔN
HAI BÁC CỨ THICH ÔM HÔN NHI ĐỒNG
NƯỚC DA HAI BÁC MẦU HỒNG
NƯỚC DA CÁC CHÁU NHI ĐỒNG MẦU XANH
GIỮA HAI CÁI MẶT BÀNH BÀNH
CHIẾC KHĂN QUÀNG CỔ QUẤN QUANH CỔ CÒ
-------------------------------------------------
TĂNG ĐOÀN GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT
HỘI ĐỒNG ĐIỀU HÀNH
Chùa Giác Hoa, 15/7 Nơ Trang Long,
Phường 7, Q. Bình Thạnh,
TP Sài Gòn
Phật lịch 2558
Số: 04/HĐĐH/TB/VT
LỜI KÊU GỌI
của TĂNG ĐOÀN GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT
HÃY VƯỢT LÊN CHÍNH MÌNH ĐỂ CỨU DÂN CỨU NƯỚC
Kính thưa đồng bào Việt Nam trong và ngoài nước.
Kỷ niệm 40 năm ngày Việt Nam Cộng Hòa thất thủ, Tăng Đoàn Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất xin được trình bày một số nhận định:
Chỉ vì vô minh, tin theo tà thuyết Mác-Lênin, nên đảng Cộng sản Việt Nam làm theo sự chỉ đạo của Liên Sô, Trung Cộng, muốn nhuộm đỏ Việt Nam và thế giới, gây ra cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn. Hậu quả là tuy chiến tranh đã chấm dứt, nhưng dân tộc vẫn triền miên đắm chìm trong đau khổ, đói nghèo, lạc hậu, chia rẽ, hận thù, nhất là hiểm họa đất nước tái hiện cảnh ngàn năm Bắc thuộc.
Sau 40 năm, những khẩu hiệu: “giải phóng miền Nam để cứu dân khỏi bị Mỹ-Ngụy kiềm kẹp”, “cứu nước thoát khỏi ách đô hộ của ngoại bang”, “đánh tư bản”, đưa dân tộc “tiến lên chủ nghĩa xã hội”, “không còn kẻ giàu người nghèo, không có cảnh người bóc lột người”… tất cả chỉ là dối lừa mị dân, là bánh vẽ, là phương tiện để thâu tóm quyền lực.
Ngày trước, về kinh tế, Việt Nam Cộng Hòa tuy ở trong tình cảnh chiến tranh tự vệ nhưng chỉ kém Nhật Bản, còn lại ngang bằng hoặc hơn tất cả các nước khác trong khu vực như: Thái Lan, Singapore, Đài Loan, Hàn Quốc…
Ngày nay, nước “Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam” rất lạc hậu, thua xa các nước trong khu vực và thế giới về tất cả mọi mặt, từ kinh tế, văn hóa, giáo dục, đạo đức, xã hội đến môi trường đều xuống cấp. Người dân sống trong cảnh đau khổ, nghèo hèn, mất tự do, lo âu, hồi hộp, không có tương lai…
Từ lời hứa “không còn giai cấp” thực tế ngày hôm nay hố ngăn cách giàu nghèo lớn đến mức không thể chấp nhận được… Vì thể chế độc tài toàn trị làm chỗ dung dưỡng cho đảng cầm quyền và các nhóm lợi ích mặc tình làm mưa làm gió, tham nhũng, cắt xén tiền thuế của dân, độc quyền trong kinh tế và độc chiếm tài nguyên quốc gia.
Chính sách “đánh tư bản” sau năm 1975 nhằm thiết thiết lập nền kinh tế tập trung bao cấp hoàn toàn phá sản, CSVN mời tư bản trở vào, còn bản thân họ lại trở thành những nhà “tư bản đỏ”.
Sự bóc lột của giới “tư bản đỏ” đã biến người công nhân trở thành lao nô ngay chính trên quê hương mình.
Cùng đường, người công nhân Việt Nam phải đi làm thuê làm mướn khắp các nước trên thế giới.
Để vô hiệu hóa sự đoàn kết và đấu tranh của giai cấp công nhân, CSVN đã tước bỏ quyền thành lập Công đoàn độc lập, tạo điều kiện cho giới tư bản mặc tình bóc lột công nhân và cũng là để bảo vệ chế độ bất công.
Nền kinh tế quốc gia hiện nay méo mó, bệnh hoạn vì “định hướng xã hội chủ nghĩa” và lệ thuộc vào kinh tế Trung cộng.
Muốn kinh tế Việt nam phát triển bền vững phải đoạn tuyệt với quá khứ “Xã hội chủ nghĩa” và mạnh mẽ hội nhập kinh tế toàn cầu.
Về giáo dục phải lấy mục đích tự do- dân chủ- nhân bản- khai phóng làm nền tảng, loại bỏ chủ nghĩa Mác- Lê nin và tư tưởng – đạo đức Hồ chí Minh ra khỏi học đường và xã hội.
Năm 1973, khi Hoa Kỳ rút quân ra khỏi Việt Nam, thì ngay tức khắc, năm 1974, Trung cộng xua quân xâm lăng quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam.
Tiếp đó năm 1988, Trung cộng xâm chiếm đảo Gạc-Ma và một số bãi đá mang tầm chiến lược thuộc quần đảo Trường Sa nhưng CSVN vẫn “thủ khẩu như bình” không một lời phản kháng hành động xâm lược !!??
Kỷ niệm ngày 30.4. 1975, hầu hết người dân Việt, cả Nam lẫn Bắc, đều đau buồn, tiếc thương cho sự thất bại của Việt Nam Cộng Hòa, một chế độ tự do, dân chủ, văn minh lại thua một chế độ độc tài, lạc hậu để ngày hôm nay Việt Nam vẫn là quốc gia nhược tiểu bị Bắc Kinh bức hiếp và đối diện với nguy cơ ngàn năm Bắc thuộc nhãn tiền..!?
Đất nước lâm nguy vậy mà Nhà cầm quyền Việt Nam vẫn chưa thức tỉnh. Ông Nguyễn Phú Trọng, Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, ngày 7.4.2015, đã sang Bắc kinh ký kết nhiều điều khoản rất bất lợi cho Việt Nam, vẫn tiếp tục theo đuổi ảo tưởng “16 chữ vàng và 4 tốt”…
Chúng ta đã mất gần hết biển đảo vậy mà trong đất liền, ông Nguyễn Phú Trọng lại ký kết cho Trung cộng tiếp tục hợp tác, đầu tư, khai thác các công trình ở các vị trí chiến lược quan trọng rất nguy hại cho an ninh quốc gia…?
Từ những nhận định trên, Tăng Đoàn GHPGVNTN xin đưa ra lời kêu gọi:
Muốn cứu dân cứu nước, trước hết Nhà cầm quyền Việt Nam phải thức tỉnh, đặt quyền lợi quốc gia dân tộc lên trên hết, can đảm hy sinh chế độ độc tài chuyên chế, chấp nhận những giá trị phổ quát của nhân loại, hội nhập trật tự thế giới văn minh, để người dân được tự do chọn lựa người lãnh đạo và đường lối bảo vệ và phát triển quốc gia.
Lúc này đây, hội nhập khu vực và mưu tìm sự bảo vệ an ninh từ luật pháp quốc tế là con đường duy nhất mà đảng CSVN phải chọn lựa.
Cầu mong Nhà cầm quyền Việt Nam vượt lên chính mình, trừ bỏ tà kiến, nhận biết sai lầm để không tiếp tục làm hại mình hại người, hại đất nước và dân tộc.
Cầu nguyện đất nước thanh bình, lãnh thổ, lãnh hải được vẹn toàn, dân tộc Việt Nam được sống trong tự do, dân chủ, nhân quyền như các nước văn minh khác trên thế giới.
Chùa Giác Hoa, Sài gòn, ngày 20 tháng 4 năm 2015.
Thay mặt Hội Đồng Điều Hành
Tăng Đoàn GHPGVNTN
Viện trưởng
(ấn ký)
Tỳ kheo Thích Viên Định
Blog RFA
Nguyễn Thị Từ Huy
20-04-2015
Những người có quan tâm tới vận mệnh của dải đất được gọi là Việt Nam không khỏi giật mình lo ngại khi đọc tin về chuyến thăm Trung Quốc vừa mới đây của Tổng Bí Thư (TBT) đảng cộng sản Việt Nam. Ngay lập tức sau khi tin về bản Thông cáo chung giữa ông TBT và Trung Quốc được báo đảng công bố, với một danh sách nhiều văn bản thỏa thuận được ký kết, nỗi lo âu đã lan tràn và bao phủ đời sống tinh thần của người Việt.
Nỗi lo âu đã khiến cho GS Tương Lai lên tiếng trên truyền thông quốc tế , và đã khiến cho một số người, trong đó có Hòa Vân và Vũ Quang Việt, bỏ thời gian phân tích và cảnh báo về các nguy cơ mà các thỏa thuận có thể mang lại cho Việt Nam.
Và nó cũng gây nên cảm giác bất an ở nhiều người đến mức họ cảm thấy cần phải có hành động. Có lẽ tới đây sẽ có những hành động thể hiện phản ứng (của những người Việt quan ngại về nguy cơ mất nước) đối với bản Thông cáo chung này nói riêng và chuyến đi của ông Trọng nói chung.
Ông Tương Lai, trong bài phỏng vấn trên BBC, kêu gọi nhân dân Việt Nam phải cảnh giác trước màn kịch đường mật dối trá mà Trung Quốc trình diễn trước ông TBT và phái đoàn của ông ta. Ông Tương Lai nhắc lại sự mù quáng và yếu hèn của ông Nguyễn Văn Linh ở hội nghị Thành Đô năm 1990, đồng thời cũng nhắc lại cảnh báo của ông Nguyễn Cơ Thạch về thời kỳ Bắc Thuộc mới, hậu họa của các ký kết tại Thành Đô. Ông Tương Lai giờ đây quan ngại về nguy cơ một Thành Đô thứ hai, do chuyến đi và sự ký kết lần này của TBT đương nhiệm, tại Bắc Kinh ; ông kêu gọi : « Phải cảnh giác không được để xảy ra một Thành Đô thứ hai ». Ông Tương Lai không ngần ngại chỉ ra « chưa bao giờ người ta thấy bộ mặt nhơ bẩn và nham hiểm của Trung Quốc như thời điểm này ». Và cuối cùng ông nhấn mạnh rằng sự độc lập và phát triển của Việt Nam phụ thuộc vào việc Việt Nam có thể gia nhập TPP lần này hay không. Ông khẳng định rõ ràng : ‘Kẻ nào kỳ này mà ăn phải bả của Trung Quốc mà đẩy lùi việc Việt Nam gia nhập TPP thì kẻ đó sẽ là tội đồ của dân tộc ». Hy vọng những lời này đến được tai ông TBT và phái đoàn của ông ta.
Hai tác giả Hòa Vân và Vũ Quang Việt, trong bài viết đăng trên diendan.org, đưa ra cảnh báo về các nguy cơ do việc ký kết của ông Nguyễn Phú Trọng với Tập Cận Bình, đặc biệt tập trung phân tích thỏa thuận thành lập các « Nhóm công tác hợp tác về cơ sở hạ tầng », « Nhóm Công tác về hợp tác tiền tệ » và « Nhóm Công tác bàn bạc về hợp tác cùng phát triển trên biển ». Họ đặt vấn đề về thái độ của TBT, lãnh đạo cao nhất nước, thái độ mà họ cho là « thái độ xin xỏ ». Đồng thời, liên quan đến « Nhóm công tác về hợp tác tiền tệ », họ quan ngại rằng : « Có phải đây là âm mưu nối lại dự án « đề nghị thanh toán bằng nhân dân tệ tại Việt Nam » mà quả bóng thăm dò đưa ra hồi đầu năm nay đã mau chóng bị dẹp vì phản ứng của người Việt ? ».
Các phân tích về những ký kết của ông Trọng liên quan đến vấn đề Biển Đông cho phép Hòa Vân đi tới kết luận rằng : « ông Trọng đặt bút ký vào một Tuyên bố chung như vậy là cố tình dọn đường cho những bước thu tóm quần đảo Trường Sa mà Trung Quốc đang tích cực chuẩn bị ».
Hòa Vân cũng chỉ ra rằng, bản Thông cáo chung được đăng trên báo Nhân dân đã bị cắt bỏ một thông tin quan trọng mà tờ Nikkei Asian Review của Nhật công bố : «ông Trọng đã đồng ý « đưa cảng Hải Phòng vào chương trình xây dựng Con đường Tơ lụa trên biển do Trung Quốc khởi xướng.” (tin được đăng lại trên BBC 8.4.2015) ».
Vũ Quang Việt chỉ ra rằng ký kết này mang lại những đe dọa nguy hiểm cho an ninh quốc gia : « Lời hứa trên của Nguyễn Phú Trọng được cụ thể hoá bằng các nhóm công tác có thể đưa đến tình hình tệ hơn những gì xảy ra ở dự án Bô Xít ở Tây Nguyên mà Nông Đức Mạnh đã ký ».
Qua bài phỏng vấn của GS Tương Lai và bài viết của hai tác giả Hòa Vân và Vũ Quang Việt, ta thấy rằng, dường như đã thành quy luật, từ nhiều năm nay, đặc biệt từ 1990, các đời TBT đảng cộng sản Việt Nam, với các ký kết của họ với Trung Quốc, dần dần đưa Việt Nam vào tình thế ngàn cân treo sợi tóc.
Tại sao ông Trọng cho cắt bỏ thông tin về việc ông đồng ý đưa cảng Hải Phòng vào chương trình Con đường tơ lụa trên biển của Trung Quốc ? Tại sao ông muốn giấu người dân Việt Nam việc ký kết này ? Phải chăng chính ông cũng biết rằng việc ký kết của ông sẽ giúp Trung Quốc mở con đường tơ lụa, nhưng lại đẩy Việt Nam vào tử lộ ? Ông biết rằng người dân Việt Nam sẽ nhìn ra điều này, sẽ nhìn ra rằng các thỏa thuận của ông có thể đẩy họ vào đường chết, và còn nhìn rõ hơn ông, nên ông cho giấu đi ? Nhưng tai hại là ở chỗ : ông muốn giấu còn Trung Quốc thì không. Trong thời đại toàn cầu hóa và internet hóa này, không có gì có thể giấu giếm được, dường như lãnh đạo Việt Nam thường xuyên quên mất điều này. Tuy nhiên, sự giấu giếm thông tin chỉ chứng minh rằng lãnh đạo Việt Nam không phải không biết đến sự nguy hiểm do các ký kết của mình mang lại. Vậy thì cần phải hỏi : Tại sao họ biết là nguy hiểm cho quốc gia mà vẫn đặt bút ký ? Ông Nguyễn Phú Trọng cần trả lời người dân những câu hỏi đó.
Ngoài ra, khi tôi đi tìm nội dung của các văn bản đã được ký kết lần này, thì không tìm thấy ở đâu cả. Người dân có quyền được biết các nội dung của bản “Kế hoạch hợp tác giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc giai đoạn 2016-2020″, cũng như nội dung của tất cả các văn bản đã được ký kết lần này. Trong một xã hội bình thường, người dân phải được biết hai đảng hợp tác những gì. Hoặc đúng hơn, lẽ ra ông Trọng phải hỏi ý kiến của người dân về các nội dung hợp tác trước khi ông đặt bút ký với Trung Quốc, hoặc ít ra ông phải hỏi ý kiến của Quốc Hội. Nhưng thể chế chính trị độc tài khiến xã hội Việt Nam rơi vào tình thế : ngay cả sau khi các chính sách quan trọng, thậm chí có ý nghĩa sống còn đối với quốc gia, đã được ký kết, người dân không hề được biết nội dung của chúng là gì. Đây chính là điểm làm cho những người có suy nghĩ cảm thấy lo lắng, bất an. Đấy là lý do khiến ông Tương Lai và nhiều người khác dự cảm về một Thành Đô thứ hai. Công dân của nước CHXHCNVN không hề được biết số phận của mình và số phận của dân tộc mình được quyết định như thế nào.
Mặt khác, một người làm nghề phân tích văn bản đã trên hai mươi năm như tôi, khi đọc văn bản « Thông cáo chung » này không khỏi cảm thấy choáng váng, vì nhiều lý do. Ở đây tôi chỉ trình bày một lý do, qua việc phân tích điểm 3 và điểm 4 của bản Thông cáo chung mà tôi trích lại nguyên văn dưới đây :
3. Nhân dịp 65 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam -Trung Quốc, hai bên nhìn lại truyền thống tốt đẹp kề vai sát cánh, ủng hộ lẫn nhau, giúp đỡ lẫn nhau của nhân dân hai nước trong thời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc, trong tiến trình thúc đẩy sự nghiệp cách mạng và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Việt Nam và Trung Quốc là láng giềng quan trọng của nhau, nhất trí cho rằng hai nước có chế độ chính trị tương đồng, có con đường phát triển gần gũi, có tiền đồ vận mệnh tương quan, sự phát triển của nước này là cơ hội quan trọng cho nước kia.
4. Hai bên nhấn mạnh, Việt Nam và Trung Quốc sẽ tiếp tục kiên trì nỗ lực thực hiện tốt phương châm “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” và tinh thần “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”, luôn nắm vững phương hướng phát triển của quan hệ Việt – Trung, thúc đẩy quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt – Trung không ngừng phát triển lên phía trước.
Bản Thông cáo chung này được ông Nguyễn Phú Trọng ký vào thời điểm nào, trong một bối cảnh như thế nào ?
Ông Nguyễn Phú Trọng dường như không biết hoặc cố tình không biết thực tế là Trung Quốc đang leo thang trắng trợn trên Biển Đông. Dường như ông không biết rằng Trung Quốc không chỉ xây dựng thành phố trên Hoàng Sa, vốn là của Việt Nam, dường như ông không biết rằng Trung Quốc đang xây căn cứ quân sự trên Trường Sa, đang xây đảo nhân tạo nhằm hợp pháp hóa cái gọi là đường chín đoạn. Dường như ông Trọng không biết rằng hành vi lấn lướt của Trung Quốc đang khiến cho cả thế giới lo ngại, nên ông mới có thể hoàn toàn bình thản khi ký vào một văn bản với lời lẽ như vậy ?
Dường như ông Trọng cũng quên mất dàn khoan 981 và nỗi nhục nhã kéo dài hàng hai tháng liền, nỗi nhục của cả nước, và của chính ông, nỗi nhục nhã vẫn còn đang mới nguyên. Dường như ông Trọng cũng quên luôn bao nhiêu ngư dân Việt Nam bị Trung Quốc giết chết khi đánh bắt trên hải phận của mình, và bao nhiêu chiến sĩ đã chết ở Gạc Ma, ở biên giới Việt-Trung 1979. Nếu ông không quên thì làm sao ông có thể « tiếp tục kiên trì nỗ lực thực hiện tốt » cái « mười sáu chữ vàng, bốn tốt » như trong mục 4 trên đây ? Nếu ông không quên thì làm sao ông dám « nhìn lại truyền thống tốt đẹp kề vai sát cánh, ủng hộ lẫn nhau, giúp đỡ lẫn nhau » trong mục 3 trên đây ?
Đành rằng văn bản ngoại giao có những quy tắc cần tuân thủ, có những sự tinh tế và khéo léo phải đảm bảo, nhưng ngôn ngữ của văn bản ngoại giao phải thể hiện bản lĩnh của người lãnh đạo và đảm bảo danh dự cho quốc gia. Một lãnh đạo có tự trọng cá nhân và tự trọng dân tộc không thể để cho người ta muốn viết gì thì viết, không thể chấp nhận mọi thứ lời lẽ, không thể bất chấp thực tế để « uốn lưỡi » mà làm tổn hại đến quốc thể được.
Viết đến đây, tôi không thể nào không nhớ lại văn bản « Hịch tướng sĩ » của người xưa : « Nay các ngươi ngồi nhìn chủ nhục mà không biết lo, thấy nước nhục mà không biết thẹn; Làm tướng triều đình phải đi hầu quân giặc mà không biết tức, nghe nhạc thái thường để đãi yến nguỵ sứ mà không biết căm ».
Ngày nay, ông Nguyễn Phú Trọng, với tư cách là người đứng đầu quốc gia, ký vào một văn bản với lời lẽ dối trá như vậy, sử dụng những lời lẽ « xin xỏ » (như Hòa Vân đã phân tích) thì chính ông đã làm nhục quốc thể, đã làm cho « nước nhục ».
Xin quý độc giả lưu ý rằng không phải ngẫu nhiên mà tôi viết « bản Thông cáo chung giữa ông TBT và Trung Quốc ». Đối với tôi, bản thông cáo đó không phải là một sự ký kết giữa Việt Nam và Trung Quốc, chỉ là sự ký kết giữa cá nhân ông Nguyễn Phú Trọng cùng phái đoàn của ông ta và Tập Cận Bình. Ông Trọng không đại diện cho toàn bộ dân tộc Việt Nam, không đại diện cho ý nguyện chung của chín mươi triệu người Việt Nam. Ông Trọng chỉ đại diện cho bản thân ông ta, và nếu các đảng viên trong đảng của ông ta, sau khi biết chuyện này mà không phản đối ông ta, thì có thể nói ông ta đại diện cho các đảng viên của đảng cộng sản Việt Nam. Nhưng ông Trọng không thể đại diện cho toàn dân Việt Nam khi ký kết vào những văn bản như vậy. Ít nhất, cá nhân tôi không chấp nhận để ông ta đại diện cho tôi, một công dân Việt Nam, trong hành vi ký kết của ông ta, cái hành vi có nguy cơ dẫn tới việc làm thất thiệt cho lợi ích quốc gia, và làm mất thể diện của quốc gia, như đã phân tích ở trên. Tôi phỏng đoán rằng nhiều công dân Việt Nam khác cũng có thái độ như tôi.
Ông TBT còn một chuyến đi Mỹ ở phía trước. Ông có biết là người dân đang chờ đợi ở ông điều gì ? Ông có thể chứng tỏ cho người dân thấy rằng ông ý thức được cương vị mà ông đang đảm nhiệm, cương vị của một người đứng đầu một quốc gia ? Ông có thể chứng tỏ cho người dân thấy ông ý thức được trọng trách mà ông đang nắm giữ, ý thức được rằng mỗi hành vi, mỗi lời nói, mỗi chữ ký của ông có thể để lại di họa khôn lường hay có thể tạo tiền đề cho đất nước và dân tộc phát triển ?
Giữa tương lai của cả dân tộc và cái bình đầy chuột của ông, ông sẽ chọn cái gì ? Chúng tôi chờ đợi câu trả lời của ông trong chuyến thăm Hoa Kỳ sắp tới.
Paris, 20/4/2015
Nguyễn Thị Từ Huy