SEA Games ngày 13/6: Bóng đá vỡ mộng vàng, CĐV rơi lệ!
TPO - Để thua U23 Myanmar 1-2 trong trận bán kết môn bóng đá nam chiều nay, thầy trò HLV Miura tan vỡ giấc mộng giành tấm HCV SEA Games. Và những CĐV đồng hành với U23 Việt Nam cũng không kìm được cảm xúc. Những giọt nước mắt đã rơi trên khán đài SVĐ Quốc gia Singapore.
Nhiều nữ CĐV đã rơi lệ khi chứng kiến U23 Việt Nam quỵ ngã đau đớn trước U23 Myanmar. Ảnh: Zing
U23 Việt Nam thua Myanmar 1-2, tranh hạng ba
U23 Việt Nam tấn công dồn dập phần lớn thời gian và tạo được nhiều tình huống nguy hiểm về phía U23 Myanmar. Tuy nhiên, với màn trình diễn thuyết phục của thủ môn Phyo Kyaw Zin cùng sự trợ giúp của thần may mắn, đội quân của HLV Lwin Kyi bất ngờ giành chiến thắng với tỷ số 2-1. Kết quả này giúp U23 Myanmar tiến vào chung kết gặp đội thắng ở trận U23 Thái Lan - U23 Indonesia.
Aung Si Thu bất ngờ giúp U23 Myanmar vươn lên với cú sút penalty chính xác phút 39. Ảnh: Tùng Lê.
U23 Myanmar đẩy cao đội hình lên chơi đôi công sau tiếng còi khai cuộc. Tuy vậy, các học trò của HLV Lwin Kyi sớm nhận ra, họ đụng phải đối thủ quá mạnh, hơn hẳn những đội bóng từng gặp ở vòng bảng. Theo đó, U23 Myanmar buộc phải lui về chơi phòng ngự phản công.
Phút 11, Công Phượng chuyền bóng đặt Hồng Quân vào thế đối mặt. Tuy nhiên, ở thế một chọi một, tiền đạo của Than Quảng Ninh lại không thể đánh bại được thủ môn Kyaw Zin.
Nhận thấy sự nguy hiểm của Công Phượng và Hồng Quân, U23 Myanmar dùng số đông để phong tỏa gặp tiền đạo của U23 Việt Nam. Với nền tảng thể lực sung mãn, các cầu thủ U23 Myanmar vẫn kịp tách Công Phượng và Hồng Quân để theo kèm những mũi tấn công khác như Ngọc Thắng và Huy Toàn.
Huy Toàn thắp lên hy vọng cho U23 Việt Nam phút 72. Ảnh: Tùng Lê.
Đang tạo được sức ép lớn, U23 Việt Nam bất ngờ để thủng lưới phút 39. Sau cú sút phạt của U23 Myanmar ở khu vực trung lộ, Ngọc Thắng để bóng chạm tay. Ngay lập tức trọng tài thổi còi cho U23 Myanmar hưởng quả phạt đền và phạt Ngọc Thắng thẻ vàng vì lỗi phản ứng. Trên chấm 11 m, Aung Si Thu dứt điểm quyết đoán giúp đội nhà vượt lên dẫn 1-0.
Trước lối chơi bế tắc của U23 Việt Nam, HLV Miura tung Phi Sơn vào sân (thay Duy Mạnh) khi hiệp 2 trở lại. Sự xuất hiện của tiền vệ xứ Nghệ giúp U23 Việt Nam tấn công đa dạng hơn. Tuy nhiên, khi cơ hội đến, Hồng Quân lại không đánh bại được phản xạ tuyệt vời của thủ thành Phyo Kyaw Zin.
Dẫu vậy, trước sức ép quá lớn của U23 Việt Nam, hàng thủ U23 Myanmar cuối cùng cũng bị đánh bại phút 72. Sau đường chuyền của Hồng Quân, Công Phượng dứt điểm vào góc xa và hậu vệ đối phương kịp cản phá. Nhưng Huy Toàn có mặt kịp thời để sút tung lưới trống, đưa trận đấu trở lại vạch xuất phát.
Mạc Hồng Quân thất vọng khi không thể đánh bại thủ môn U23 Myanmar. Ảnh: Hoàng Hà.
Sau bàn gỡ hòa 1-1, các học trò HLV Miura tiếp tục dồn ép. Tuy nhiên, một lần nữa bất ngờ lại xảy ra với U23 Myanmar ở phút 79. Sau khi giành được bóng ở khu vực giữa sân, Kaung Sat Naing chuyền rất nhanh cho Nay Lin Tun. Cú sút sau đó của Lin Tun đưa bóng đập chân Thanh Hiền và đổi hướng khiến Minh Long không thể cản phá.
Trong khoảng thời gian còn lại, U23 Việt Nam nỗ lực tấn công nhằm đưa trận đấu sang hai hiệp phụ. Tuy nhiên, trước thủ đoạn của các cầu thủ U23 Myanmar (liên tục ăn vạ nhằm kéo dài thời gian), đội quân của HLV Miura hoàn toàn bất lực và chấp nhận dừng bước ở bán kết.
Sau vòng bảng ấn tượng, U23 Việt Nam quyết tâm đánh bại Myanmar để góp mặt ở trận chung kết. Đoàn quân HLV Miura đã thi đấu không đến nỗi tồi và tạo ra nhiều cơ hội nguy hiểm để ghi bàn.
Mạc Hồng Quân chính là người chơi nổi bật nhất, khi anh có đến 8 cơ hội ghi bàn nhưng đều dứt điểm không thành công. U23 Myanmar đã dẫn bàn trước nhờ quả 11m thành công của Si Thu nhưng U23 Việt Nam đã chơi đầy nỗ lực và gỡ hòa 1-1 ở hiệp 2 nhờ công Huy Toàn.
Nỗi buồn thua trận của các cầu thủ U23 Việt Nam
Nhưng vận rủi tiếp tục đeo đuổi U23 Việt Nam và hơn 10 phút trước khi hết giờ, Nay Lin Tun dứt điểm chạm người Thanh Hiền bay vào lưới. Nỗ lực của thầy trò HLV Miura không thể giúp U23 Việt Nam kiếm được bàn gỡ hòa và chấp nhận thua 1-2, lỡ cơ hội góp mặt ở trận chung kết năm nay.
Với U23 Việt Nam, kết quả này để lại sự đáng tiếc quá lớn khi chúng ta chơi hay hơn, ép sân toàn diện và kém duyên trong các pha dứt điểm. May mắn đã ủng hộ các cầu thủ U23 Myanmar và lúc này, U23 Việt Nam đành chờ đợi vào tấm HCĐ ở SEA Games năm nay.
HLV Miura quyết định tung ra sân đội hình mạnh nhất với bộ tứ Huy Hùng, Duy Mạnh, Huy Toàn, Ngọc Thắng ở giữa sân, nhiệm vụ ghi bàn được trao cho cặp Hồng Quân-Công Phượng, trong sơ đồ 4-4-2 quen thuộc của U23 Việt Nam.
Các cầu thủ U23 Việt Nam nhập cuộc khá tâm lý và liên tục bị U23 Myanmar ép sân. Đội bóng áo đỏ được hưởng liên tiếp một quả đá phạt và phạt góc, nhưng hàng thủ U23 Việt Nam đều hóa giải thành công.
Thầy trò HLV Miura chơi tốt hơn ở những phút tiếp theo. Phút thứ 3 sau hàng loạt pha phối hợp ăn ý bên cánh phải, Hồng Quân đột phá rồi tung cú sút xa quyết đoán, tiếc là bóng đi vọt xà ngang. Đoàn quân HLV Miura càng chơi càng tự tin, các vị trí phối hợp đầy linh hoạt.
Tình huống nguy hiểm đầu tiên được tạo ra ở phút thứ 10, Công Phượng đi bóng tuyệt vời rồi chuyền ngang đặt Hồng Quân ở tư thế thuận lợi, đáng tiếc là Quân không thể đánh bại được thủ môn Kyaw Zin ở tình huống đối mặt. U23 Việt Nam bỏ lỡ cơ hội vàng để mở tỷ số.
10 phút sau, U23 Việt Nam được hưởng quả đá phạt và Huy Toàn đá phạt để Minh Tùng băng vào đánh đầu, nhưng bóng lại đi vọt xà. U23 Myanmar chơi khá bị động và chỉ tập trung cho phòng ngự. Ngay sau đó, Hồng Quân lại có cơ hội đẹp mắt, nhưng cú sút căng của anh chưa đủ khó để hạ thủ thành Kyaw Zin.
Điểm nhấn của trận đấu diễn ra ở phút 38, U23 Myanmar được hưởng quả đá phạt và cầu thủ U23 Myanmar sút bóng chạm tay Ngọc Thắng trong vòng cấm, trọng tài cho U23 Myanmar được hưởng quả 11m. Si Thu bước lên bình tĩnh đánh bại Minh Long, mở tỷ số 1-0 cho U23 Myanmar.
Cuối hiệp 1, U23 Việt Nam bị dồn vào thế phải tấn công và Huy Toàn có tình huống tạt bóng chuẩn xác để Hồng Quân đánh đầu đưa bóng đi chệch cột dọc. HLV Miura quyết định tung Phi Sơn vào sân thay Duy Mạnh để tăng cường hàng công.
Đến phút 48, Huy Toàn cướp bóng đầy cố gắng rồi thực hiện đường tạt bóng đẹp mắt để Hồng Quân băng vào đá nối, nhưng bóng vẫn chưa đi trúng khung thành. Hồng Quân thực sự chưa tìm được duyên ghi bàn khi bỏ lỡ cơ hội thứ 4.
Các CĐV Việt Nam lại có dịp tiếc nuối ở phút 55, Huy Toàn tạt bóng chuẩn xác cho Ngọc Thắng dùng ngực hãm bóng lại để cho Hồng Quân vô lê đẹp mắt, nhưng thủ môn Kyaw Zin đã cứu thua cho U23 Myanmar, một cơ hội nữa bị bỏ lỡ bởi Hồng Quân.
Nỗ lực tấn công của U23 Việt Nam cũng được cụ thể hóa ở phút 71 khi Công Phượng dứt điểm chạm chân hậu vệ U23 Myanmar và Huy Toàn có mặt kịp thời lao vào đệm bóng chính xác, san bằng tỷ số 1-1 cho U23 Việt Nam.
Nhưng niềm vui của U23 Việt Nam chỉ kéo dài được 7 phút, khi U23 Myanmar có bàn thắng nâng tỷ số lên 2-1 đầy may mắn, Nay Lin Tun sút bóng chạm vào chân của Thanh Hiền và đổi hướng khiến Minh Long không thể truy cản.
U23 Việt Nam đang đẩy cao đội hình lên tấn công, khi HLV Miura tung Thanh Bình vào sân. Nhưng trước hàng thủ số đông của U23 Myanmar, U23 Việt Nam không thể tạo thêm cơ hội nào và chấp nhận thua đau đớn 1-2 tại Sports Hub.
Tuyển Việt Nam có trận thi đấu 'tốt nhất' nhưng lại bị thua khi bị Myanmar vượt qua với tỷ số 2-1 ở trận Bán kết U23 ở SEA Games 2015, theo tác giả.
Làm sao để bóng đá Việt phát triển?
Trần Công Hưng
Gửi tới từ Hà Nội
Việt Nam đã bị Myanmar loại ở trận bán kết SEA Games 28, nhưng kể cả Việt Nam có giành chiến thắng, vào chung kết và đoạt huy chương Vàng, nếu được quyền tôi cũng sẽ chọn con đường phát triển khác, vì tôi không tin chiếc huy chương ấy có thể làm thay đổi nền bóng đá Việt Nam.
Nhìn lại quãng đường mà U23 cùng HLV Miura đã đi trong thời gian qua, sau nhiều nghi ngờ, cột mốc quan trọng để Liên đoàn và nhiều người hâm mộ ủng hộ ông Miura là thành tích đưa U23 VN lọt vào vòng chung kết châu Á, người ta nói rằng HLV Miura đã nâng tầm cho bóng đá VN.
Tôi không cho rằng như thế. Dù bài viết “ U23 Việt Nam đi tiếp: Nên vui hay buồn?” của tôi khi đó đã bị chỉ trích thậm tệ, nhưng tôi vẫn giữ quan điểm rằng để đánh giá một cá nhân hay tập thể, đừng bao giờ chỉ nhìn vào thành tích và kết quả.
Chúng ta hãy thử so sánh trận đấu bóng đá với kỳ thi Đại học sắp diễn ra để có một cái nhìn toàn diện về sự phát triển con người.
Thi đại học là một việc rất khó. Người học hết cấp 3 sẽ phải làm những đề thi ở trình độ lớp 12 - trình độ cao nhất đối với học sinh, đương nhiên không dễ. Ai giải được những đề này một cách xuất sắc để đỗ đại học thì đều hãnh diện cả. Nhưng thử hình dung rằng, bạn không phải làm bài toán cấp 3 mà chỉ cần giải bài toán cấp 1 và cấp 2 để vào đại học, lúc đó bạn có còn tự hào với việc đỗ đại học?
Tại vòng loại U23 châu Á, chỉ có Nhật Bản có thể được coi là bài toán cấp 3, còn Malaysia chỉ ngang cấp 2, còn Macau đích thực là bài toán cấp 1.
Nhớ lại trận gặp Macau, trong bàn mở tỷ số, Ngọc Thắng dùng tốc độ vượt qua 3 cầu thủ đội bạn như “Người ngoài hành tinh” Ronaldo vượt qua đối thủ khi anh còn khoác áo Barcelona vậy. Có thể thấy là các cầu thủ VN đối với Macau không khác gì “người ngoài hành tinh”. Với đối thủ tương xứng chúng ta không thể làm được như vậy.
“Bài toán cấp 3” duy nhất là Nhật Bản thì Việt Nam đã không giải được rồi. Vì thế nếu coi U23 VN là thí sinh đi thi, thì họ chưa xứng đáng bước chân vào giảng đường đại học.
Nhưng cứ đi thi để lấy kinh nghiệm thì đã sao? Có người nói như vậy. Xin trả lời rằng có nhiều trường hợp thi bao nhiêu lần cũng không đỗ. Nếu không có mục tiêu, kế hoạch và khả năng thực sự, có “lấy kinh nghiệm” bao nhiêu lần cũng thế thôi. Các câu lạc bộ VN đã đi “lấy kinh nghiệm” bao nhiêu năm ở AFC Champions League (cúp C1 châu Á) rồi mà có khá hơn đâu.
Chờ ăn may?
Nước mắt của cầu thủ Việt Nam sau khi bị thua trước Malaysia ở cúp AFF Suzuki Cup 2014.
Lại có người lập luận rằng: “Học tài thi phận”, có người giỏi vẫn trượt và ngược lại, dốt vẫn đỗ.
Quả có thế thật, có những câu chuyện may mắn như: đi thi ngồi cạnh đúng đứa học giỏi, giám thị dễ nên chép được tài liệu…
Nhưng đó chỉ là điểm tựa cho những ai học kém, lười học. Có được bao nhiêu trường hợp may mắn như thế? Phải đến hàng trăm, hàng nghìn người mới được một người như vậy.
Đội tuyển bóng đá của chúng ta còn kém nhưng vẫn có người hy vọng sẽ đoạt chức vô địch SEA Games, có thể không? Có chứ, nhưng phải chờ hàng trăm, hàng nghìn giải thì may ra mới có một lần như thế.
Những nền bóng đá mạnh, có thể họ không vô địch hết tất cả các giải đấu, nhưng 5 giải thì họ có thể lên ngôi đến 3, còn lại vào chung kết đến 2 và không bao giờ bị loại trước bán kết, ví dụ thế. Đó mới thật sự là một nền bóng đá mạnh.
Thi đại học cũng vậy, trong 10 người giỏi thì phải đỗ đến 7 hoặc 8, còn lại thì điểm cũng suýt soát để vào nguyện vọng hai…
Thực lực chỉ thi được 1điểm, 2 điểm mà đòi may mắn để đỗ thì không xứng.
Người hâm mộ cũng giống như cha mẹ học sinh: chỉ cần nhìn con đỗ là sung sướng rồi. Họ không biết rằng học hành là một quá trình: thu nhận kiến thức (quan trọng nhất), ôn luyện, thi thử… Hiếm có việc từ trên trời rơi xuống lắm. Người thầy giỏi chuyên môn theo sát học sinh chắc chắn biết em này có thể đỗ hay không. Nếu có chẳng may làm bài kiểm tra được điểm cao thì cũng chỉ do chép bài hay may mắn một lần trúng tủ.
Bóng đá cũng vậy, người làm chuyên môn nhìn thực lực để đánh giá chứ không nhìn vào thành tích. Muốn vô địch một giải đấu thì cũng phải có một quá trình chuẩn bị kỹ lưỡng, giống như ôn luyện trước khi thi vậy. Và trước khi ôn luyện thì cái quan trọng, quyết định nhất là nền tảng trước đó. Đối với bóng đá, nền tảng đó là Giải vô địch quốc gia và công tác đào tạo trẻ. Cả hai cái này Việt Nam đều tồi tệ.
Nhìn cách làm bóng đá bài bản, khoa học trong một quá trình dài của Thái Lan, chúng ta không xứng đáng thắng họ. Thái Lan đã trở lại sau một thời gian mất hút, nỗi sợ người Thái bắt đầu được gợi lại sau khi chúng ta đã quên mất tương đối lâu.
Ăn may thì sao?
Các đội tuyển bóng đá nam của Việt Nam đã có nhiều đời huấn luyện viên ngoại, mà ông Miura là người đang dẫn dắt U23 Việt Nam tại SEA Games năm nay.
Lại có những người phản bác, ăn may thì sao, nhờ thế mà đỗ Đại học không tốt à? Lại xin trả lời rằng: những ai đã lười mà tự dưng có được thành công sẽ càng lười hơn. Đỗ đại học không phải là điểm kết thúc, nó chỉ là bước khởi đầu. Không chịu học hành thì không có kết quả tốt, ra trường sẽ thất nghiệp. May mắn lúc đầu nhưng lại thành rủi về sau.
Đối với bóng đá, bạn may được một lần rồi biến mất thì cũng chẳng ai nhớ đến. Hy Lạp vô địch Euro một lần nhưng sau đó mất tích, rất dễ hiểu vì họ không có nền tảng sức mạnh thực sự để là điểm tựa như đã nói ở trên. Chức vô địch đó có chăng thì chỉ dân Hy Lạp tự hào, chứ thế giới, cụ thể là một nước như Việt Nam chẳng hạn, có nhìn chức vô địch đó mà học tập hay thần tượng bóng đá Hy Lạp?
Câu trả lời mọi người tự biết rồi. Người ta vẫn cứ thích Anh, thích Đức, thích Pháp… vì những nước này hoặc có Giải vô địch quốc gia chất lượng hoặc công tác đào tạo tốt để lúc nào cũng có ngôi sao và duy trì được sức mạnh thường xuyên ở các giải đấu.
Nếu Lào và Campuchia mà có chẳng may thắng ta được trận nào đó mà người dân họ tung hô rằng bóng đá nước họ đã vượt qua Việt Nam thì chắc người Việt sẽ cười đến chết. Nhưng đó lại chính là những gì người Việt đã làm bao nhiêu năm nay.
Rất nhiều người lấy những thành tích như vô địch AFF Cup năm 2008 hay chiến thắng 4-1 của U23 trước Iran làm niềm tin rằng bóng đá Việt Nam sắp thoát khỏi ao làng Đông Nam Á.
Giải bóng đá vô địch Đông Nam Á (nay gọi là AFF Cup) đã tổ chức gần 20 năm nay, chúng ta có vô địch một năm thật, nhưng năm nào mà chẳng có đội vô địch, đội vô địch nào mà chẳng nghĩ ngay đến đẳng cấp châu Á rồi World Cup, những đội vô địch nhiều lần người ta còn hy vọng hơn Việt Nam gấp từng ấy lần mà đã đội nào thành đâu.
Còn chiến thắng trước đội trẻ Iran trong giải đấu mà U23 thi đấu bằng sự tự ái (do người hâm mộ đổ dồn quan tâm cho U19) mà đã tung hô như thế, người Iran nghe được thì người ta cũng cười chúng ta như ta cười Lào, Campuchia mà thôi.
Năm 2003, SEA Games được tổ chức tại Việt Nam, sau khi đội bóng đá nam thua Thái Lan trong trận chung kết ở Mỹ Đình, Bộ trưởng Thể thao lúc đó là Nguyễn Danh Thái đã nói: Trình độ bóng đá Việt Nam chỉ còn đứng sau Thái Lan, còn các nước khác thì “đã vượt qua”.
Nếu là người hâm mộ nói thế thì còn được, chứ người làm thể thao mà nói vậy thì hỏng rồi, hỏng hẳn! Thực tế thế nào, chúng ta đã biết ngay sau đó.
Còn muốn lấy ví dụ về khả năng của người Việt, thì hãy lấy đội tuyển Việt Nam Cộng hòa trước đây - đội bóng mạnh hàng đầu châu Á mà lãnh đạo đoàn bóng Nhật trong một lần năn nỉ để được sang Sài Gòn thi đấu học hỏi kinh nghiệm đã nói rằng “Bóng đá Nhật ví với bóng đá Việt Nam nhỏ bé như đôi giày này. Chúng tôi mong một ngày nào đó bóng đá Nhật sẽ lớn mạnh và sánh vai cùng bóng đá Việt Nam”.
Một ví dụ nữa là cầu thủ Lee Nguyễn có bố mẹ đều là người Việt nhưng sinh sống ở Mỹ từ bé và giờ đã là cầu thủ đẳng cấp quốc tế rồi.
Phải phát triển lâu dài
Tác giả cho rằng bóng đá Việt Nam sẽ tiếp tục thất bại nếu không có cái nhìn dài hạn và đầu tư nghiêm túc.
Những ví dụ tự hào trên, cần chú ý rằng những tập thể cá nhân đó đều phát triển trong môi trường hoàn toàn khác.
Người ta nói rằng tôi “cuồng” U19, nhưng thử đọc bài “ Hoàng Anh Gia Lai: Đừng vội tung hô!” sau chiến thắng đầu tiên của họ ở V-League mà xem. Chiến thắng không thuyết phục thì chưa đáng khen.
Đương nhiên ai cũng có quyền hào sảng đôi chút như sau trận thua trên thế thế áp đảo trước U19 AS Roma 1-2 hay trận thắng Úc 1-0, rồi trận thắng Myanmar 4-1 đơn giản vì ở đó có những cái để có thể hy vọng.
Tôi không nghĩ ngay lập tức họ có thể làm nên lịch sử, trước giải Nutifood ở Hà Nội khi cơn sốt U19 khiến người dân mơ đến World Cup, tôi đã từng đặt câu hỏi “ Có nên hy vọng vào U19 Việt Nam?” .
Cách làm tốt nhất vẫn là phải phát động phong trào bóng đá rộng khắp ở các cấp bắt đầu từ bóng đá học đường, điều đó tốt hơn là phụ thuộc vào một đơn vị! Nhưng khi thực tế là VN hiện tại không đủ khả năng tổ chức một hệ thống quy mô như thế, thì Hoàng Anh Gia Lai là mô hình duy nhất mà bóng đá VN có thể hy vọng vào lúc này, cách làm của họ khác biệt hoàn toàn với bóng đá trong nước, các cầu thủ được sống trong một môi trường của nền bóng đá khác được đặt tại VN.
Thành công của họ chưa thể thay đổi bóng đá VN trong ngày một ngày hai, nhưng đó là động lực lớn cho các đơn vị khác, cho toàn ngành thể thao. Xin nhắc lại một lần nữa: Đừng nhìn thành tích khiêm tốn hiện tại ở V-League mà tưởng rằng đó là thất bại của công tác đào tạo trẻ, đó chỉ là những trận thua của những cầu thủ trẻ trước những cầu thủ trưởng thành mà thôi.
Tìm cách vùi dập họ chẳng có ích lợi gì cả, vì bóng đá của chúng ta từ trước đã có gì trong tay đâu. Và ngay cả khi nói về thành tích, U19 cũng có thành tích không tồi khi vào chung kết ở hầu hết các giải đấu họ tham dự. Thời gian qua nếu nhìn cách người ta chê bai U19, thì nhiều người không có thông tin gì về bóng đá VN sẽ tưởng rằng đội VN trước đây và HLV Miura là chuyên gia đoạt cúp mất.
Ở một số nước không hẳn bóng đá được tổ chức tốt và mức sống cao nhưng vẫn có đội tuyển giỏi, vì tố chất cơ thể của họ khác. Các cầu thủ Brazil có thể sinh ra trong nghèo đói, nhưng bộ gen của họ không giống chúng ta. Trong các châu lục, thể chất người châu Á yếu nhất. Ở châu Á, Đông Nam Á yếu nhất. Ở Đông Nam Á, Việt Nam chẳng khỏe hơn nước nào. Như thế mà chúng ta đòi một tấc lên giời, một chốc hóa rồng? Nếu không cải tổ, không học tập, chúng ta muôn đời giậm chân tại chỗ.
Học ai đây? Nhìn người Nhật kia, cũng châu Á đấy, lại còn “lùn” nữa, mà vẫn thay đổi được.
Chú ý là học một nền bóng đá không phải chỉ đơn thuần thuê một ông HLV nước đó về dẫn dắt đội tuyển quốc gia là xong. HLV đội tuyển hầu hết chỉ kế thừa sản phẩm của nền bóng đá mà thôi chứ khó có thể tạo ra được một cuộc cách mạng.
Ông Miura là người Nhật nhưng ông lại theo trường phái bóng đá Đức thực dụng cổ điển. Ở Nhật ông bị coi là có chiến thuật phòng thủ cứng nhắc trong khi bóng đá Nhật từ xưa đã học theo Brazil.
Chọn HLV đội tuyển quốc gia, quan trọng nhất là chọn người có phong cách phù hợp với những cầu thủ mà nền bóng đá có trong tay chứ không phải chạy theo ông HLV đó dù biết không phù hợp.
Làm một cuộc các mạng về bóng đá có thể có thể mất 10 năm, 20 năm hoặc hơn thế, nhưng thà muộn còn hơn là không bao giờ. Người ta sẽ vẫn hy vọng, hy vọng một cách thực tế với những bước tiến dần dần trong quá trình ấy dựa vào hành động cụ thể chứ không phải vài thành tích trồi sụt lẻ tẻ vô nghĩa.
Chừng nào các quan chức, những người làm bóng đá không bắt tay vào, chừng đó giấc mơ bóng đá Việt Nam sẽ mãi chỉ là những giấc mộng hão huyền mà thôi.
Hồng Lĩnh (Danlambao) - Cũng đã lâu không theo dõi bóng đá nước nhà, hôm nọ lên mạng xem trận U19 Việt Nam - U19 Nhật Bản thì lại thấy hiện nguyên hình về thực trạng của bóng đá Việt Nam mà đại diện là lứa U19 đầy hứa hẹn, được tung hô từ chục năm trước khi lứa U19 này còn là những đứa trẻ vừa mới bước chân vào Học viện bóng đá HAGL - Asenal.
Đá bóng gì mà thảm quá chừng. Đội bạn ghi đến 5 bàn rồi thì cũng phải tìm cách mà gỡ lại một bàn danh dự chứ đằng này nó ghi đến 7 bàn mà muốn kiếm lấy 1 bàn cho đỡ xấu hổ cũng không được, thật là cực hình cho những người hâm mộ khi chứng kiến đội nhà thi đấu đầy bế tắc như vậy, mà bế tắc trong sự “Vinh quang và chiến thắng”. Bởi vì dù thế nào đi chăng nữa thì cuối cùng dưới sự lãnh đạo của đảng cũng chả đưa nền bóng đá nước nhà đi đến thắng lợi. Vả lại dưới sự chỉ đạo khách quan và đầy trách nhiệm của ban huấn luyện đội bóng, mặc dù mình là đội bóng yếu hơn nhưng các vị vẫn tự đặt mình ở cửa trên của đội U19 Nhật Bản và tất cả các đối thủ sau này nữa mình vẫn “tự sướng” như vậy. Bởi vậy nên vừa mới vào trận là bắt các cháu tấn công dồn dập, đội bạn buộc phải phòng ngự để dưỡng sức. Chờ khi nào mình đủ khỏe mà đội bạn yếu thì hẵng tấn công, khả năng ghi bàn trong những thời điểm như vậy như các khán giả đã chứng kiến chí it cũng lên đến 98%. Thực tế thì kết thúc trận đấu đội nhà đã thu được 7 trái, cũng may là có 11 cầu thủ đá chính nếu không thì đã đủ để chia cho mỗi cầu thủ một trái, nếu đây là vụ mùa thì bà con đã gọi như thế là “Bội thu” rồi.
Cũng phải thừa nhận mình là người kiên trì khi chứng kiến từng đoàn khán giả lũ lượt bỏ về thì tôi đây vẫn cố nán lại bên màn hình laptop để theo dõi nốt trận đấu này, cố tìm xem một sự thay đổi mang dấu ấn chiến thuật của các vị trong ban huấn luyện để tìm lấy một bàn danh dự mà không tài nào nhận ra một sự thay đổi nhỏ nào.
Vẫn là lối đá tiqui-taka sao chép đó, mà dường như các vị mới chỉ áp dụng có một nửa cái lý thuyết bóng đá nổi tiếng này, đó là khi có bóng thì cắm đầu cắm cổ tấn công đên kiệt sức để đến khi mất bóng thì không còn sức để lấy bóng hoặc bắt người nữa, để các cầu thủ cứ mãi chạy vật vờ như vậy trên sân, từ đầu đến cuối trận không có một sự thay đổi mang dấu ấn huấn luyện nào, đá với một nhịp độ duy nhất từ đầu đến cuối trận.
Xem bóng đá của các vị tôi cứ thấy nó tự phát, chủ quan duy ý chí thế nào ấy, đã bao giờ có vị nào tự hỏi xem tại sao người dân việt nam có 90 triệu người và rất đam mê bóng đá, nghĩa là có một tiềm lực bóng đá rất lớn nhưng tại sao họ lai quay lưng với bóng đá nước nhà chưa, tôi tin rằng có vị làm bóng đá có lòng tự trọng cũng đã từng đặt ra câu hỏi đó và chắc chắn một ngày không xa 90 triệu dân Việt sẽ tự tìm câu trả lời.
Dân tộc VN xưa nay vốn có truyền thống thượng võ, nên rất coi trọng việc rèn luyện cơ thể hằng ngày như là phương tiện để mà phát triển quân sự. Đá cầu là một trong những môn chơi rất được mọi tầng lớp xã hội các thời Lý, Trần, Hậu Lê, Nguyễn.ưa thích và được coi đây là xuất xứ của môn Túc Cầu VN, chính thức thành hình hơn 100 năm qua.
Theo tài liệu, thì đội túc cầu đầu tiên của nước ta ra đời vào năm 1906 tại Gia Định. Hai mươi năm chiến tranh (1955-1975) với bao nhiêu nổi buồn bom đạn nhưng cũng là thời kỳ huy hoàng nhất của nền túc cầu Nam VN, chẳng những trong khu vực Đông Nam Á, mà tiếng thơm còn bay bổng tận làng bóng quốc tế, với những tên tuổi Phạm Văn Rạng, Phạm Văn Mỹ, Đỗ Thới Vinh, Phạm Huỳnh Tam Lang, Lâm Hồng Châu ...
Ở Miền Bắc xã nghĩa, từ năm 1964 các giải Túc Cầu thường diễn ra trên các sân vận động Hải Dương, Thái Bình, Bắc Giang ... mà không tổ chức tại Hà Nội, vì sợ máy bay Mỹ oanh tạc. Năm 1965, đội tuyển Bắc Việt, tham dự Giải Túc Cầu hữu nghị, được tổ chức tại sân vận động Bình Nhưỡng (Bắc Hàn) gồm các đội banh Trung Cộng, Nam Dương, Kampuchia, Guinee, Bắc Cao. Đội Bắc Việt đứng hạng ba. Năm 1966, Liên Xô đá giao hửu và thua Bắc Việt 1-0. Cũng năm 1966, trong giải Ganefo tổ chức tại Nam Vang, gồm 10 nước tham gia, đội Bắc Việt lãnh huy chương đồng. Nói chung, trước năm 1975, Bắc Việt cũng có một đội Túc Cầu, gồm Nguyễn Văn Vĩnh (thủ môn) và các cầu thủ Hiếu, Thêm, Hiền, Hiển, Long, Vinh, Thọ, Ngọc, Phàn, Chinh ... tuy nói là tham dự nhiều nới, nhưng chẳng đem về cho quê mẹ một chiến thắng nào đáng kể, vì lúc đó Đảng tại Bắc Bộ Phủ, chỉ trăm phương ngàn kế, để mà làm sao cưỡng chiếm cho được Miền Nam, nên đâu còn sức lo cho thể thao, Túc Cầu ... những món hàng được coi là xa xĩ, vô ích trong thế giới các nước xã hội chủ nghĩa.
Đội Tuyển Túc Cầu Miền Nam VN
Năm 1959, lần đầu tiên đội tuyển Túc Cầu VNCH đã đoạt được huy chương Vàng, tại Đông Nam Á Vận Hội (không có sự tham dự của Nam Dương và Phi Luật Tân). Kỳ đó, phái đoàn thể thao Nam VN tham dự rất nhiều môn thi đấu như Boxing, bơi lội, bóng bàn, bóng chuyền, bóng rổ, xe đạp, điền kinh và Túc Cầu. được tổ chức tại Thái Lan. Về đội tuyển VNCH có Phạm Văn Rạng (thủ môn), Nguyễn Văn Cụt, Phạm Văn Hiếu, Nguyễn Ngọc Thanh, Lê Văn Hổ (Myo), Nguyễn Văn Nhung, Đỗ Thới Vinh, Há, Đổ Quang Thách, Nguyễn Văn Tư. Đội tuyển VN vào chung kết hạ đội Thái Lan 3-1 và được chính tay Hoàng Thái Tử Xiêm trao chiếc cúp vàng, tại sân vận động.
Trước đó ở miền Nam, có trung phong đội AJS (Association de la Jeunesse Sporttive), tức là Đội Cảnh Sát Quốc Gia sau này, cầu thủ Phạm Văn Mỹ, nổi danh trong làng bóng Đông Nam Á là "Cọp Đồng Nai" qua kỷ thuãt chơi bóng, cú sút trời giáng, tốc độ nước rút phi thường. Bên cạnh còn có Phạm Văn Rạng, từng được tạp chí thể thao hàng đầu của Pháp là tờ 'France Football' vinh danh là thủ môn số 1 của nền Túc Cầu Châu Á, khi đội tuyển VNCH đã thắng đội banh Do Thái 2-0, trong khuôn khổ vòng loại, để được tham dự Thế Vận Hội năm 1964. Trận đấu diễn ra trên sân vận động Cộng Hoà, do công của Ngôn và Quang. Nhờ những thành tích trên, nên đội tuyển túc cầu VNCH đã có 4 cầu thủ là Phạm Văn Rạng, Nguyễn Ngọc Thanh, Đổ Thới Vinh, và Nguyễn văn Ngôn, được vào đội tuyển Châu Á, do Thiết túc cầu đại vường Hương Cảng là Lý Huệ Đường làm huấn luyện viên và Peter Velappan phụ tá.
Năm 1966, đội tuyển VNCH lại lập thêm kỳ tích khi đoạt cúp vàng Merdeka, tổ chức tại Mã Lai Á. Tham dự lúc đó gồm có Lâm Hồng Châu (thủ môn), Lại văn Ngôn, Phạm Văn Lắm, Văn Có, Phạm Huỳnh Tam Lang, Nguyễn Văn Chiêu, Nguyễn Vinh Quang, Nguyễn Văn Ngôn, Dương văn Thà, Đổ Thới Vinh, Nguyễn Văn Mộng, Trên sân cỏ, đội banh VN đã liên tiếp hạ Tân Gia Ba (5-0), Nhật (3-0), Mã Lai Á (5-2), Đài Loan (6-1) và thua Ấn Độ (0-1). Cuối cùng VN vào chung kết với Miến Điện. Trong trận này, đối phương tấn công VN tới tắp và ba lần banh vào khung thành của thủ môn Lâm Hồng Châu nhưng đều bị gạt ra ngoài, nhờ tài nghệ phi thường của cặp trung phong Văn Có - Tam Lang và thủ môn Châu. Đến phút 68, Tam Lang cướp được banh dẫn thẳng vào tuyến địch và sút vào cầu môn Miến, đem về chiếc cúp vàng vô địch cho quê hương.
Tại Đông Nam Á Vận Hội kỳ IV năm 1967, đội Túc Cầu VNCH lại đoạt huy chương Bạc, khi thắng Lào 5-0, Thái Lan 5-0 và thua Miến Điện 1-2 khi vào chung kết. Trong trận đó, hội tuyển VN có Lâm Hồng Châu (thủ môn), Hồ Thanh Chinh, Lại Văn Ngôn, Nguyễn Văn Mộng, Phạm Huỳnh Tam Lang, Nguyễn Vinh Quang, Dương Văn Thà, Nguyễn Thái Hưng, Đỗ Thới Vinh, Võ Bá Hùng, Lê Văn Đức, Nguyễn Văn Thuận, Hồ Thanh Cang, Quang Kim Phụng, Nguyễn Văn Chiêu, Cù Sinh, Nguyễn Văn Ngôn, Trương Văn Tư. Năm 1973, tại Đông Nam Á Vận Hội ở T6n Gia Ba, đội tuyển VN lại dành Huy chương bạc, sau khi vào chung kết lại thua Miến Điện, khi trận đấu chỉ còn 8 phút thì kết thúc với tỷ số 3-2.
Trong nỗi thăng trầm của túc cầu VNCH từ 1955-1975, chỉ có một điều đáng tiếc được báo chí thời đó ghi nhận,là sự xung đột giữa trung phong Ứng đội CSQG và tiền vệ Tống Mành của đội Tổng Tham mưu. khi tranh dành chức vô địch trên sân cỏ, Mành chẹn gãy chân Ứng. Tuy nhiên đó chỉ là chuyện rất thường trên sân cỏ. Điều quan trọng nhất là hầu như tất cả các cầu thủ của VNCH, hiện còn sống tại Sài Gòn, khi được báo chí thành Hồ phỏng vấn, đều tỏ ra xúc động và luyến tiếc thời vàng son của nền Túc Cầu Miền Nam, giờ đây gần như tuyệt vọng, trước tệ nạn tham nhũng và cá độ của cái gọi là đội tuyển quốc gia,khi mang chân tới đá tại các sân cỏ xứ người, mà tỷ số thắng thua đã được định trước bằng tiền thưởng.
Dương Văn Thà, một cầu thủ lừng danh là ' thần mã', của đội tuyển Miền Nam từ 1967-1974, cho biết trước năm 1975 là thời kỳ cực thịnh của Túc Cầu VN, qua nghệ thuật nhồi bóng cùng với tinh thần kỹ luật, tự giác và sự luyện tập. Còn Lê văn Tâm (cha Lê Huỳnh Đức, trung phong số 1 của VN ngày nay), nhắc lại trận đấu giữa VN và Nam Hàn, trong giải King's cup ở Thái Lan năm 1970, VN thắng nước này 1-0, qua cú sút phạt của Võ Thành Sơn và Lê văn Tâm đội đầu.
Thế mà ngày nay, đội bóng của VN càng ngày càng sa sút, trong khi đó Nam Hàn, chẳng những lừng lẫy tại Á Châu mà còn được chen chân vào các kỳ Thế Vận Hội,điển hình là kỳ World Cup 2006 tại Đức sắp tới. Riêng Đổ Cẩu cho biết, cầu thủ VNCH khi dự các cuộc tranh giải ở các quốc gia bạn, đều được đồng bào địa phương, thương mến, trân trọng vì bản chất của cầu thủ VN hiền lành, đứng đắn, biết tôn trọng kỷ luật trên sân cỏ, cũng như đã giao đấu rất dũng mãnh, nhiệt tình, để dành vinh quang danh dự về cho màu cờ, sắc áo của dân tộc. Sau năm 1975, các cựu cầu thủ miền Nam như Phạm Huỳnh Tam Lang, Quảng Trọng Hùng, Cao Cường, Dương Văn Thà ... làm huấn luyện viên thể thao, Nguyễn Kim Hằng bán cà phê, Tư Lê lái taxi, Nguyễn văn Mộng, Đinh Công Hoàng ... thì ẩn dật ...
Viết chuyện người khiến hồn thêm bồi hồi khi nghĩ tới quê hương và những ngày xa cũ, nhất là Phan Thiết quê tôi, vùng đất đam mê đá banh như là món ăn tinh thần không sao thiếu được. Trước khi Việt Cộng cưỡng chiếm được VNCH ngày 30/04/1975, Bình Thuận là một trong những tỉnh có phong trào thể thao rất mạnh, mà tiêu biểu là môn túc cầu. Từ năm 1962-1968, hàng năm Bình Thuận đều tham gia giải Liên quân khu, gồm 11 đội bóng của các tỉnh Quảng Ngãi, Pleiku, Kontum, Darlac, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Ninh Thuận, Lâm Đồng, Tuyên Đức và hầu như chức vô địch trong những lần tổ chức ấy, khó có đội nào hơn được Bình Thuận.
Năm 1971, tại giải vô địch toàn miền Nam, với sự tham dự của 43 đội từ các tỉnh thị và 4 quân khu, đội bóng Bình Thuận, đã đoạt chức vô địch Túc Cầu toàn quốc, sau khi hạ đội Mỹ Tho với tỷ số 2-1 tại sân vận động Cộng Hoà. Ngoài ra đội Bình Thuận còn đá giao hữu với các đội chuyên nghiệp lúc đó tại Sài Gòn như Quan Thuế, Không Quân, Hải Quân và Cảng. Các cầu thủ Tam Lang, Dương Văn Thà, Nguyễn Văn Ngôn, Võ Thành Sơn, Cù Sinh, Phạm văn Rạng ... măc dù chơi hay, nổi tiếng và chuyên nghiệp nhưng khi đụng với Phan Thiết, cũng rất e dè và thán phục.
Đó cũng là do công dìu dắt của ông bầu Tăng Khánh (nhà sách Vui Vui), và các ông Quản Đầu, Ba Hoàng (nước mắm Vĩnh Hương), Khánh Cao. Nhưng đặc biệt nhất phải kể tới công của ông Bầu Ba Toại, đã chiêu dụ được nhiều cầu thủ danh tiếng ở tỉnh ngoài về đá cho Phan Thiết như Đổ Thới Vinh, từng đá cho các đội Quân Cụ, Quan Thuế, Tổng Tham Mưu tại Sài Gòn. Với chiếc đầu hói, sống mũi dọc dừa, đôi mắt sâu sâu và nước da ngâm đen, đã tạo cho đồng đội nhiều cơ may dứt điểm khung thành địch. Vinh đang ở trong đội tuyển Miền Nam, thì được chọn vào đội tuyển Quốc Gia tham dự giải Đông Nam Á Vận Hội.
Cầu thủ Trần Ta, em ruột cầu thủ Trần Néo, sinh tại Phú Trinh, Phan Thiết, năm 18 tuổi là cầu thủ của đội trường trung học Phan Bội Châu, giúp đội đá bại trường trung học Võ Tánh, Nha Trang, đoạt chức vô địch Túc Cầu cấp tỉnh miền Trung. Sau Trần Ta về đầu quân cho đội Thương Khẩu của Bầu Quyền. Rồi được tuyển chọn vào Đội túc cầu Thanh Thiếu Niên Miền Nam, tham dự nhiều nước Đông Nam Á như Phi, Mã và Nam Dương. Từ năm 1961 trở về sau, tài năng của cầu thủ Trần Ta người Phan Thiết đang lên vùn vụt, thì đột nhiên anh bị tử nạn năm 1966, trên đường từ Sài Gòn đi Đà Lạt. Người ta đã tìm thấy xác Ta và chiếc xe gắn máy hiệu Sprint dưới lũng sâu của đèo Blao, quốc lộ 20.
Tuy nhiên cũng có nguồn tin nói là Trần Ta bị Việt Cộng chận đường giết, rồi xô xuống đèo làm như là một tai nạn giao thông, câu chuyện xì xào một thời gian rất lâu trong giới mộ điệu thể thao tại Phan Thiết. Hai anh em Trần Mai và Trần Đáng cũng được Bầu Toại chiêu mộ từ Huế vào, đá cho đội banh Phan Thiết. Nhiều năm liền, cả hai rất được hâm mộ, vì đều là trụ cột làm bàn, sát bóng manh, lừa giỏi, đưa đội bóng Bình Thuận đoạt được nhiều giải tại miền Trung và toàn quốc. Sau năm 1957, hai anh vì lý do gia cảnh, nên trở về Huế và gia nhập đội tuyển miền Trung từ giai đoạn 1961-1963.
Tóm lại, ngoài các cầu thủ trên, thành phần đội túc cầu Bình Thuận-Phan Thiết gồm có : Thủ môn Đại, Du (thập niên 50,60). Hậu vệ Xây, Bụt (sau bị hư một mắt), Lâu (được mệnh danh là trụ đồng), Ngọ (búa). Hàng tiền vệ có Thơm, Néo (anh ruột Trần Ta), Phối, Nhiều, Minh. Tiền đạo Mỉn (chết trong tù cải tạo VC năm 1975), Phê, Tùng (năm 1970 được tuyển vào Đội Thanh Thiếu Niên Miền Nam, tham dự các giải Đông Nam Á), Quang. Hàng Trung phong có Hoan dù chỉ thuận chân mặt nhưng là một trong những kiện tướng làm bàn hàng đầu của Đội.
Phan Thiết còn có Huyền Vũ, là một ký giả thể thao nổi tiếng, qua những bài tường thuật cũng như bình luận, các trận cầu quốc tế tại sân cỏ, trên làn sóng phát thanh Sài Gòn, được phóng đi cùng khắp. Do trên nhiều người không có thì giờ vì bận rộn sinh kế, công vụ, chỉ cần mở máy thu thanh cũng đủ cảm thấy như mình đang tham dự trận đá một cách thích thú. Giọng tường thuật của ông rất truyền cảm, thu hút được nhiều người nghe cũng như ái mộ.
Ông cũng là ký giả của nhiều tờ báo, viết nhiều bài tường thuật rất có giá trị. Theo Đinh văn Ngọc, vì ông với bản tính ăn ngay nói thật của người Phan Thiết, thấy sao nói vậy, không bưng bợ hay phe cánh cá nhân, do trên bị va chạm nhiều người, nhất là giới thể thao và đồng nghiệp. Tên thật là Nguyễn Ngọc Nhung, sinh tại Phú Trinh Phan Thiết, chủ bút tạp chí thể thao hàng tuần và báo Nguồn Sống trước năm 1975 ... Ngoài ra cũng kể thêm một ký giả thể thao khác của Bình Thuận là Thanh Điều kiêm Trọng tài các trận túc cầu giao hữu trên sân cỏ Phan Thiết Huyền Vũ vừa qua đời tại Hoa Kỳ.
Trước năm 1975, những ông bầu túc cầu nổi tiếng của Phan Thiết như Tăng Khánh, Ba Hoàng, Khánh Cao, Ba Toại ... là những nhà Mạnh Thường Quấn, rất quan tâm tới đội tuyển của tỉnh nhà. Tiệm cà phê Phú Ngữ là nơi thường trực tập trung các cầu thủ cũng như giới hâm mộ, mỗi buổi sáng, để bàn chuyện thể thao. Trong những khi có trận đấu, trước khi đội ra sân, các cầu thủ tập trung tại Phú Ngữ, vừa uống cà phê, vừa lắng nghe Huấn Luyện Viên Nguyễn Văn Quới, nguòi Hóc Môn, Gia Định, đã từng đá cho các đội AJS, Cảnh Sát Quốc Gia và Đội tuyển Miền Nam. Ông Quói được Đại Tá Ngô Tấn Nghĩa, chọn về làm huấn luyện viên trưởng cho đội tuyển Túc Cầu Phan Thiết, nhờ vậy mới đạt được nhiều thành quả tốt đẹp.
Vậy mà cũng bốn chục năm rồi đó, nhưng không làm sao quên được, những tháng sáu mùa hè, ngồi trong lớp học hay đi dọc theo con đường Nguyễn Hoàng, bất chợt nhìn thấy hoa phượng chúm chím nở hoa, là lòng lại bồi hồi xúc động và vui tới rớm lệ khi giờ cuối cùng đã hết, học trò lớn nhỏ, ai cũng nhắp nhỏm chờ lên tàu, để trở về quê củ, có thầy me đợi em trông, trên đường làng huyết lệ nở thành bông và vườn rộng nhiều trái cây ngon ngọt, như Xuân Tâm đã viết, mà bọn học trò nhỏ ngày xưa ai cũng thuộc.
Nhưng làm sao quên được những niềm vui ấu thơ, những ngày theo bạn bè đá banh hay leo tường vào sân vận động, để mà xem chui những trận giao đấu banh, giữa các đội học sinh Trung Học Phan Bội Châu với đội tuyển Phan Thiết và các đội banh danh tiếng tại Sài Gòn.
Nhật Trường Trần Thiện Thanh trước khi trở thành ca nhạc sỷ nổi tiếng của VN, từng là thủ môn của đội Túc Cầu Trung Học Phan Bội Châu - Phan Thiết.
Mường Giang
Vũ Tứ Lang
Danh thủ Tam Lang đã qua đời chỉ vài tuần trước khi World Cup mở màn.
Tên thật là Phạm Huỳnh Tam Lang, ông sinh năm 1942 ở Gò Công, năm 1955 lên Sài Gòn và thi đậu vào trường Petrus Ký, được một người đồng hương là Nguyễn Văn Tư cưu mang.
Duyên may, người đồng hương này là cầu thủ nổi tiếng của làng bóng Sài Gòn với biệt danh “mũi tên vàng đội AJS”. Nguyễn Văn Tư đưa Tam Lang về nhà ở và dìu dắt vào nghiệp cầu thủ: buổi sáng đi học, buổi chiều cùng ông đến tập luyện với đội bóng.
Sau khi vừa học chữ vừa luyện bóng năm năm, năm 1949 Tam Lang được nhận vào đội tuyển thiếu niên Nam Việt Nam cùng với Võ Bá Hùng, Phạm Văn Lắm, Nguyễn Văn Ngôn, Quan Kim Phụng…. Từ đội tuyển thiến niên, năm 1960 Tam Lang được nhận vào đội tuyển VNCH, tức lúc chỉ có 19 tuổi. Đến năm 1966 khi chuẩn bị đi Malaysia dự Merdeka Cup, Tam Lang được HLV Waigang chọn làm thủ quân.
Tuy nhiên đội tuyển chỉ tập trung trong các dịp thi đấu quốc tế và phần lớn thời gian Tam Lang đứng trong đội hình chính thức của đội bóng Cảnh sát Quốc gia: ngoài những phụ cấp cho một cầu thủ, trong sổ lương ông ăn lương trung sĩ cảnh sát.
Trận chung kết Merdeca 1966 đội VNCH gặp đội Miến Điện, mà lúc đó VNCH lại có cái “huông” thua Miến Điện giống như VN thường thua Thái Lan mấy năm nay. Theo hồi ức của người dự trận thì Tam Lang đã đá trận này không chỉ bằng chân mà bằng miệng: từ vị trí hậu vệ, Tam Lang đã hò hét khản cổ để điều quân chống trả những đợt tấn công sấm sét của đội Miến, đặc biệt khi VNCH chuyển từ thế công ở đội hình 1-4-2-4 sang thế thủ 1-4-3-2-1 sau khi ghi được một bàn thắng.
Thời đó Tam Lang nổi tiếng nhờ lối đá mà báo chí Sài Gòn gọi là “mạnh mẽ, quyết liệt nhưng hào hoa, lịch thiệp” với những pha bật tường nhỏ và rất nhuyễn. Đặc biệt Tam Lang có một kỹ thuật độc chiêu là miếng xỉa từ phía sau để cướp bóng mà báo chí thời đó gọi là miếng “bọ cạp nước”.
Xỉa người chuồi chân để cướp bóng từ phía sau là động tác nguy hiểm vì dễ gây lỗi khi đụng chân đối thủ, dễ bị trọng tài nhìn nhầm và do đó dễ ăn thẻ vàng hay thậm chí thẻ đỏ. Tuy nhiên theo người thời đó thì dù chạy sau đối phương ở khoảng cách từ 2 tới 3 mét, Tam Lang vẫn có thể phóng người bay lên rồi chuồi chân để cướp bóng rất chính xác. Họ cho biết thời đó người Nhật đã quay đi quay lại “ngón” này của Tam Lang để mang về làm tài liệu luyện tập cho cầu thủ của mình.
Sau ngày 30-4-1975, Tam Lang chơi trong đội Cảng Sài Gòn và đã tham gia trận ra mắt trong trận đấu giao hữu với Hải Quan (hậu thân của đội Quan Thuế) trên sân Thống Nhất. Năm 1980, Tam Lang giã từ đời cầu thủ, thăng lên làm HLV phó cho đội Cảng Sài Gòn rồi được đưa sang Đông Đức để theo học một khóa huấn luyện viên.
Tại sao một “trung sĩ cảnh sát” lại được ưu ái cho đi du học trong thời điểm này?
Điều này có nhiều lý do. Một phần, chính sách của Sài Gòn dưới thời ông Võ Văn Kiệt có phần cởi mở hơn là bộ sậu trung ương ở Hà Nội, bằng cách “xử đẹp” với người nổi tiếng của VNCH như Tam Lang, ông sẽ có thể giữ lại được nhiều nhân tài đang nhấp nhổm vượt biên. Mặt khác, dù sao thì lúc này Tam Lang cũng “kiếm” được một lý lịch khá tốt: bố là “liệt sĩ” chống Pháp.
Năm 1981 Tam Lang trở về nắm chức HLV trưởng đội Cảng Sài Gòn và giúp đội này đoạt bốn danh hiệu vô địch quốc gia (1986, 1993-1994, 1997, 2001-2002), ba lần đoạt cúp quốc gia và hàng loạt cúp vô địch Sài Gòn, vô địch giải bóng đá các tỉnh thành phía Nam.
Cũng xin nói thêm: năm 1993 “cựu trung sĩ cảnh sát quốc gia” Phạm Huỳnh Tam Lang được kết nạp, trở thành đảng viên ĐCSVN.
Năm 1997 Tam Lang chính thức giữ vai trò HLV phó đội tuyển quốc gia dưới quyền HLV trưởng Colin Murphy (HCĐ SEA Games 1997), Alfred Riedl (HCB Tiger Cup 1998, HCB SEA Games 1999, Tiger Cup 2000, Dido SEA Games 2001).
Tháng 9-1982 chính thức làm HLV đội Cảng Sài Gòn cho đến nay với bốn lần đội đoạt chức vô địch quốc gia: 1986, 1994, 1997, 2002
Năm 2003, đội Cảng Sài Gòn rớt hạng và ngày 1-9-2003 ông nhận quyết định nghỉ hưu. Sau đó ông chuyển sang làm việc tại Trung tâm thể thao Thành Long, chuyên về công tác đào tạo tài năng trẻ.
Năm 2004 khi kỷ niệm 50 năm thành lập, Liên đoàn bóng đá Á châu (AFC) yêu cầu các quốc gia hội viên bình chọn nhân vật tiêu biểu cho nền túc cầu quốc gia trong nửa thế kỷ qua để tặng kỷ niệm chương.
Sau cuộc bình chọn gây nhiều tranh cãi, Liên đoàn bóng đá Việt Nam (LĐBĐVN) đã đưa ra kết quả như sau:
- Lê Thế Thọ: 76 phiếu
- Phạm Huỳnh Tam Lang: 19
- Nguyễn Cao Cường: 12
- Nguyễn Thế Anh (Ba Đẻn): 6
- Trần Duy Long: 4
- Nguyễn Trọng Giáp: 4
- Nguyễn Hồng Sơn: 3
- Lê Huỳnh Đức: 1
Đây là một kết quả gây nhiều tranh cãi. Nhiều người cho rằng LĐBĐVN không hiểu gì về túc cầu Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) nên đem Tam Lang đặt lên trên Phạm Văn Rạng và Đỗ Thới Vinh và rồi dìm Tam Lang dưới Lê Thế Thọ.
Nay nhân sự ra đi của cầu thủ lừng lẫy một thời và cũng nhân mùa bóng World Cup sắp diễn ra, tưởng cũng nên nói lại danh tiếng một thời của nền túc cầu Việt Nam cộng hòa và lý do tại sao túc cầu Việt Nam tàn lụi.
Một thủa vàng son của nền túc cầu VNCH
Bài thể thao
Đội banh quốc gia VNCH trước 1975 là một đội banh có hạng ở Đông Nam Á, thậm chí cả Á Đông, từng thắng nhiều giải, có nhiều cầu thủ được vinh danh ở đấu trường châu lục. Sơ lược có thể kể cúp Vô địch Merdeka (cúp độc lập Malaysia) năm 1966; vô địch năm 1959 Giải Thể Thao Bán Đảo Đông Nam Á (SEAP Games), 2 lần giành huy chương bạc, và 2 lần giật huy chương đồng; vô địch giải quân đội Thái Lan năm 1971; 2 lần lọt vào vòng chung kết Cúp Á Đông (Asian Cup) ở các giải đầu tiên, đều giành hạng tư.
Nguyên thuỷ trò chơi du nhập vào VN nhờ người Pháp vào cuối thế kỷ 19. Môn đá banh tiến triển mạnh tại Nam Kỳ, dần dần lan rộng ra Bắc Kỳ và Trung Kỳ. Những người Việt đầu tiên đá banh ở Sài Gòn gồm giới công chức, thương gia, v.v... Thời 1930-40, Bắc Kỳ có các đội banh khét tiếng như: Chớp Nhoáng, Trường Bưởi (Hà Nội), Voi Vàng Đất Cảng (Hải Phòng), Hồng Bàng (Nam Định)... Ở Sài Gòn, các sân banh thời đó còn thô sơ: ở công viên thành phố - sau này là sân Tao Đàn; sân Citadelle - tức sân Hoa Lư về sau; sân Renault - trở thành sân Cộng Hoà rồi sân Thống Nhất sau này... Về tổ chức, có đội Cercle Sportif Saigonnais đầu tiên được tổ chức bài bản nhất, liên tiếp vô địch các giải đấu giữa các câu lạc bộ vào 2 thập niên đầu thế kỷ 20. Hai đội sớm góp mặt khác là Gia Định Sport và Ngôi Sao Xanh, sang thập niên 1920 hợp thành đội Ngôi Sao Gia Định -- từng bá chủ cầu trường Sài Gòn và cả Nam Kỳ cho đến khi mở màn nền Đệ Nhất Cộng Hoà 1954. Từ đó, các đội AJS, đội Cảnh Sát, đội Tổng Tham Mưu, Quan Thuế... thay phiên khuynh loát cầu trường Miền Nam đến ngày mất nước năm 1975.
Hàng tiền đạo đội banh VNCH đoạt cúp Quân Đội Thái năm 1974, từ trái: Nguyễn Văn Thắng, Quang Đức Vĩnh, Võ Thành Sơn (người ôm cúp vô địch), và Lê Văn Tâm.
Thủ quân trung vệ Tam Lang và cúp vô địch Merdeka năm 1966 với đội banh VNCH.
Toàn cảnh đá banh Á Châu, đá banh du nhập vào Á Đông khá trễ. Việt Nam thuộc vào hàng phát triển sớm nhất, mặc dù cầu thủ nhỏ con, song lại nổi tiếng nhanh nhẹn, kỹ thuật khéo léo... Nền đá banh Nam Kỳ sớm thành danh nhưng từ thập niên 1950 trở về sau, không còn giữ được thanh thế so với các nước khác phát triển chậm hơn, nhưng bài bản quy củ, lại không bị chiến tranh cản trở, đáng kể là trường hợp Nam Hàn (South Korea). Một trong những trận banh lớn của đội banh quốc gia VNCH là chiến thắng Do Thái (Israel) 2-0 trong khuôn khổ vòng loại Olympic 1964 vào tháng 3-1964. Cũng vòng loại Thế Vận Hội, năm 1968, đội banh VNCH hạ Philippines 10-0, là trận thắng tỉ số đậm đà nhất.
Huy hiệu đội banh quốc gia VNCH.
Tiền vệ Đỗ Thới Vinh, trái, chân sút thần sầu của VNCH một thời.
Thời đó thế lực đội banh VNCH gói gọn ở Á Châu, chưa phải là đội banh tầm cỡ thế giới. Chỉ duy nhất một lần VNCH dự vòng loại World Cup 1974 nhưng phải ra về sớm ngay từ vòng loại. Trên đấu trường World Cup, ngay từ kỳ thứ hai năm 1938, Indonesia đã là quốc gia Á Đông đầu tiên từng tranh tài chung kết (lúc đó còn mang danh nghĩa thuộc địa của Hoà Lan "Dutch East Indies"). Từ giữa thế kỷ 20, Nam Hàn (South Korea) nổi lên là đệ nhất anh hào Á Đông, đi World Cup cả thảy 8 lần: đầu tiên năm 1954, và liên tục từ World Cup 1986 đến nay. Riêng Nhật Bổn (Japan) góp mặt đều đặn từ World Cup 1998.
Trong các giải tranh tài cấp châu lục, giải Cúp Á Đông "Asian Cup" thiết lập năm 1956 có lẽ uy tín nhất. Và VNCH là một trong những nước tiên khởi gởi đội banh quốc gia góp mặt từ những ngày đầu. Tại Cúp Á Đông lần thứ nhất "Asian Cup Hong Kong 1956", đội banh VNCH được vào chung kết sau khi đứng đầu vòng loại nhóm "Central Zone". Kết quả chung kết 4 đội: VNCH hoà Hong Kong 2 - 2; thua Do Thái 1-2; và thua Nam Hàn 3-5. Đội Nam Hàn vô địch, nhưng VNCH lần đó có chân sút Lê Hữu Đức tung lưới 3 lần, kém vua phá lưới của giải chỉ 1 bàn. Ở giải Cúp Á Đông lần thứ hai "Asian Cup Korea 1960", một lần nữa VNCH dễ dàng vượt qua vòng loại nhóm "Central Zone", được vào chung kết "tứ hùng". Kết quả VNCH thua chủ nhà Nam Hàn 1-5; thua Đài Loan 0-2; thua Do Thái 1-5. Tính tổng cộng thành tích tranh tài Cúp Á Châu, VNCH đã đá 21 trận với 7 thắng, 2 hoà, 12 thua. Riêng với "Asian Cup", từ buổi ban đầu khiêm tốn, đến nay mỗi kỳ chung kết có đến 16 đội tham dự. Sau Nam Hàn, khán giả còn chứng kiến sự trỗi dậy của các thế lực Nhật Bổn, Iran, Saudi Arabia, Iraq, Kuwait... "Asian Cup" ngày nay lớn và uy tín đủ để thu hút thêm Úc Châu (Australia) gia nhập tranh tài từ năm 2007.
Từ trái sang: Thủ thành đội banh VNCH Nguyễn Quốc Bảo, cầu vương Pele (Brazil), và tiền đạo Quang Đức Vĩnh tại Thái Lan năm 1974.
Thủ thành Lâm Hồng Châu trong đội hình Việt Nam Cộng Hòa đi đá SEAP Games 1973 tại Singapore.
Trên đấu trường Á Vận Hội (Asian Games), phái đoàn thể thao VNCH tham dự liên tục từ 1954 đến 1970, trong đó bao gồm đội banh quốc gia. Tại "Asian Games 1958", VNCH vào đến bán kết, chịu thua Nam Hàn 1- 3. Tại "Asian Games 1962", VNCH đoạt huy chương đồng. Tổng cộng trên đấu trường Á Vận Hội, đội banh VNCH đá 15 trận (5 thắng, 2 hoà, 8 thua). Cũng phải kể thêm giải thể thao bán đảo Đông Nam Á "SEAP Games" (Southeast Asian Peninsular Games, ngày nay là SEA Games). Tại giải này, đội banh VNCH từng 1 lần vô địch (SEAP Games 1959), 2 lần về nhì (SEAP Games 1967 và SEAP Games 1973), và 2 lần giật huy chương đồng (SEAP Games 1965 và SEAP Games 1971). Năm 1959, đội banh VNCH với thủ thành Phạm Văn Rạng, tiền vệ Đỗ Thới Vinh... vào chung kết hạ đội Thái Lan 3-1.
Ngoài ra, còn một giải đá banh rất uy tín khác tên gọi "Merdeka Cup". Giải này tổ chức dịp Lễ Độc Lập Mã Lai Á (Malaya). Giải Merdeka thường mời nhiều anh hào Á Đông, gần như một giải Á Đông thường niên thu nhỏ. Các đội mạnh nhất ở giải này là Malaysia và Nam Hàn. Phần VNCH cũng có nhiều kỷ niệm đáng nhớ tại Merdeka Cup. Giải Merdeka 1961, VNCH thắng Nhật Bản 3-2. Giải Merdeka 1964, một lần nữa VNCH lại hạ Nhật Bản 2-0. Và nhất là Merdeka Cup năm 1966, với 12 nước tham dự, đội banh VNCH đã giật cúp vô địch. Trên sân cỏ Malaya năm đó, VNCH với các hảo thủ như thủ thành Lâm Hồng Châu, Lại Văn Ngôn, Tam Lang, Nguyễn Văn Ngôn, Đỗ Thới Vinh... lần lượt hạ New Zealand 5-0, Nhật Bản 3-0, Mã Lai Á 5-2, Đài Loan 6-1. Trận chung kết, các chân sút VNCH oanh liệt khuất phục Miến Điện (Burma) 1-0.
Thủ thành Lâm Hồng Châu tung người giải nguy trước khung thành trận VNCH đá với Đan Mạch (Denmark).
"Lưỡng thủ vạn năng" Phạm Văn Rạng ký tên tặng các thiếu nữ hâm mộ người Nhật.
Có thể gọi các thập niên 1940 đến đầu 1970 là thời kỳ hoàng kim của nền đá banh Miền Nam và VNCH. Làng cầu thủ Việt từng có trung phong Phạm Văn Mỹ đội AJS (Cảnh Sát Quốc Gia sau này), nổi danh Đông Nam Á với biệt danh "Cọp Đồng Nai": mau lẹ, lừa banh siêu hạng, và nhất là cú sút sấm sét không ai bì... Thời đó, nhiều tên tuổi cầu thủ Việt chẳng những nổi bật tại Đông Nam Á, mà danh tiếng lan xa cả Á Đông: những Tam Lang, Đỗ Thới Vinh, Cù Hè, Cù Sinh, Đỗ Quang Thách... Đặc biệt, thủ thành Phạm Văn Rạng từng được báo giới thể thao vinh danh là thủ thành số một Á Đông. Ông và 3 chân sút khác của VNCH (Nguyễn Ngọc Thanh, Đỗ Thới Vinh, Nguyễn Văn Ngôn) cũng từng được chọn vào đội banh tiêu biểu của Á Đông. Cầu thủ VNCH khi "mang chuông đi đấm xứ người", dự các cuộc thư hùng tại các quốc gia bạn, thường được tôn trọng, thu phục nhiều mến chuộng từ khán giả, không chỉ bằng sự ngoan cường, giao đấu dũng mãnh trên sân, mà còn vì tinh thần thượng võ, thái độ nhã nhặn, bặt thiệp, thượng tôn kỷ luật, và tôn trọng đối phương. Các viên chức thể thao đá banh hàng đầu Á Châu ngày nay, như ông Peter Velappan, cựu Tổng Thơ Ký Liên Đoàn Đá Banh Á Châu, không ít lần nhắc về các cầu thủ thời VNCH với nhiều phần cảm phục.
TT
Túc cầu VNCH
Nói về túc cầu VNCH, người ta nhắc tới ba ngôi sao sáng: Phạm Văn Rạng, Đỗ Thới Vinh và Tam Lang.
Ngày xưa còn nhỏ những ai đã từng mê truyện Duyên Anh cũng đã nhiều lần nghe tác giả nhắc tới trong tác phẩm của mình. Trong các nhân vật của Duyên Anh có chú bé “Bồn Lừa” với tài lừa banh và “Chương Còm” với tài “bắt gôn”, xuất hiện trong nhiều tác phẩm như Dzũng Đa Kao, Thuở mơ làm Quang Trung, Gấu Rừng và đặc biệt là Bồn Lừa, tác phẩm mang tên nhân vật chính. Bồn Lừa có khi được tác giả gọi là “Vinh em”, còn “Chương Còm” được gọi là “Rạng em”, ý muốn nói đó là những thế hệ tiếp nối, hậu duệ của hai bậc đàn anh.
Trong tác phẩm trên Duyên Anh tưởng tượng ngày Đội tuyển VNCH chiếm giải quán quân World Cup ngay trên đất Ba Tây, sự kiện khiến nước Pháp phải xấu hổ và xin lỗi về 80 năm thực dân hóa nước ta. Duyên Anh tưởng tượng cảnh “Vinh em” lừa bóng “chiến” đến độ Pelé đổ quạu chơi xấu còn “Rạng em” chinh phục thế giới với cú bay người như chim để bắt cú sút điểm trúng góc vuông khung thành: một tay bắt bóng và một tay ôm xà ngang đu người trên không.
Với điều này, tác giả như có ý nói rằng nếu những thế hệ sau có thể tiếp tục ngọn lửa của những Rạng và Vinh thời ấy thì ngày Việt Nam đến với World Cup cũng chẳng có gì là xa vời.
Quả đúng, ngày đó người Việt ai cũng tin tưởng như vậy. Sau trận VNCH đá thắng đội Nhật vào năm 1966, các ký giả Nhật đặt câu hỏi là bao giờ VN sẽ tham dự vòng chung kết World Cup. Lúc đó nguyên thủ quân đội tuyển VNCH Tam Lang nhẩm tính 20 năm nhưng khiêm tốn trả lời: “Khoảng chừng 30 năm nữa”.
Thế nhưng hơn gần 50 năm sau thì thực tế trái hẳn: Nhật từng vào vòng II World Cup, đã từng vô địch Asian Cup trong khi đó thì may lắm Việt Nam mới lọt vào tứ kết Asian Cup và tuyệt đối không dám mơ tuởng đến World Cup.
Nói lại nền túc cầu VNCH, ở đây chúng ta đề cập đến các tuyển thủ lừng lẫy một thời: ngòai Tam Lang đã nói ở trên, còn hai bậc đàn anh là Phạm Văn Rạng và Đỗ Thới Vinh.
Phạm Văn Rạng
Với đôi tay bắt bóng như nam châm hút sắt hay “bắt dính như nhựa Mít-xờ-lanh”, thủ môn Phạm Văn Rạng được ký giả thể thao Thiệu Võ gọi là “Lưỡng thủ vạn năng” và từ đó ông đã “chết” cái tên này. Trong khi đó thì báo chí Á châu gọi Phạm Văn Rạng là “Đệ nhất thủ môn Á châu”.
Phạm Văn Rạng sinh ngày 8.1.1934 tại Mỹ Tho và chiến tranh đã xô đẩy gia đình lên Sài Gòn và tại đây ông theo học tại trường tư thục “Việt Nam Học Đường”. Thời ấy phong trào túc cầu ở Sài Gòn rất sôi nổi và Phạm Văn Rạng được giữ chân trung phong trong đội bóng Việt Nam Học Đường. Năm 1949 khi đội Việt Nam Học Đường so chân với đội bóng trường Huỳnh Khương Ninh vào năm 1949, thủ môn của đội nhà vắng mặt vào giờ chót vì chuyện gia đình nên Phạm Văn Rạng xung phong thay thế.
Được giáo viên thể dục chấp nhận, Phạm Văn Rạng đã vĩnh viễn gắn bó với vị trí này và càng ngày càng nổi tiếng. Năm 1951 Phạm Văn Rạng được ông bầu Võ Văn Ứng của đội bóng Ngôi sao Bà Chiểu của mời về làm thủ môn. Đến năm 1953 ông được đưa vào đội hình Đội tuyển Thanh Niên, thay cho thủ môn sáng giá nhất thời đó là Lâm Kinh.
Theo lệnh quân dịch, năm 1953 Phạm Văn Rạng gia nhập quân đội và được điều về làm thủ môn cho đội bóng Bộ Tổng tham mưu. Sau đó, khi hết hạn quân dịch Phạm Văn Rạng chuyển qua đá cho đội Quan Thuế với vai trò cầu thủ kiêm HLV.
Trong thời gian từ năm 1952 đến 1964 ông là thủ môn chính của đội tuyển VNCH và đã tham dự các đại hội thể thao SEAP Games 1959, 1963, 1965; các giải Á vận hội 1958 và 1962, Cúp Merdeka từ năm 1958 đến năm 1962. Chính Phạm Văn Rạng đã góp phần đem về cho đội tuyển VNCH một huy chương vàng, hai huy chương đồng SEAP và hai giải tư Á châu.
Năm 1964 Phạm Văn Rạng giải nghệ, chuyển ngạch sang làm công chức ngành quan thuế nhưng năm 1966, sau khi đã giải nghệ 2 năm, anh được HLV Lý Huệ Đường năn nỉ để mời anh đứng vào đội hình đội tuyển All Stars Team of Asia, quy tụ toàn những ngôi sao lừng lẫy nhất của bóng đá Á châu.
Thực sự thì khi Phạm Văn Rạng giải nghệ thì cả Á châu chưa sinh sản được một thủ môn xứng với tầm vóc của anh, người được báo chí Á châu và cả AFC bình chọn là “Đệ nhất thủ môn Á châu”. Cũng mở ngoặc để nói thêm rằng trong thập niên 50 và 60 phong trào túc cầu ở Hồng Công rất sôi nổi với trung phong Lý Huệ Đường nổi danh là “vua bóng đá Á châu”, một thứ “Pelé da vàng”. Khi đó AFC mời Lý Huệ Đường làm HLV trưởng Đội tuyển Á châu, còn phụ tá HLV là Peter Velappan, người nắm chức Tổng Thư ký AFC, tức LĐBĐ Á châu từ 1987 đến 2007.
Và quả Lý Huệ Đường đã không chọn lầm người. Trong trận đấu trên sân Malaysia năm đó Đội tuyển Á châu đã hạ gục CLB Chelsea 2 –1 trong đó công đầu phải thuộc về Phạm Văn Rạng: bất chấp những đợt tấn công sấm sét của hàng tiền đạo Chelsea, khung thành đội tuyển Á châu vẫn vững vàng với đôi tay Việt Nam.
Sau năm 1975 Phạm Văn Rạng được đội Tổng cục Vật tư mời làm HLV cho đến năm 1978 và từ đó ông bắt đầu cuộc mưu sinh chật vật với rất nhiều nghề, tới nhiều địa phương, trường học huấn luyện các đội bóng con con. Năm 1985, ông được công ty Cao su Bình Long mời về làm HLV và sau đó là đội bóng Cao su Lộc Ninh.
Cho đến khi qua đời vào ngày 7 tháng 11 năm 2008 thì cuộc sống của Phạm Văn Rạng khá chật vật, không có nhà phải ở nhà thuê và không có xe để đi lại. Năm 2005, các cựu tuyển thủ thuộc thế hệ sau ông như Tam Lang, Dương Văn Thà, Võ Thành Sơn, Tư Lê, Hồ Thanh Cang... và người hâm mộ tổ chức trận đấu giao hữu để quyên tiền giúp ông mua một căn nhà nhỏ để ở. Sau đó thầy trò trường Lê Hồng Phong đã tổ chức quyên góp để giúp ông tiền mua một chiếc Chaly (xe máy phân khối nhỏ) để chạy: trước kia ông từng huấn luyện cho đội bóng của trường!
Đỗ Thới Vinh
Ðỗ Thới Vinh sinh khoảng năm 1940 quê ở Phan Thiết và đến tuổi trưởng thành vào Sài Gòn và đầu tiên chơi trong đội bóng Quân Cụ. Sau hơn hai năm ở đầy, Ðỗ Thới Vinh giã từ Quân Cụ để đầu quân cho đội Quan Thuế.
Với lối đi banh lắc léo khiến hậu vệ đối phương khó truy cản cùng với những đường banh chuyền chính xác, tài nghệ của Ðỗ Thới Vinh đã được Tổng Cuộc Túc Cầu VNCH để ý đến và có chân trong đội tuyển VNCH từ năm 1956 cho đến 1969.
Đỗ Thới Vinh – có biệt danh Vinh Sói - được xem là tuyển thủ tiêu biểu của nền túc cầu VNCH với phong cách thi đấu “hào hoa và hiệu quả”, từng đứng vào đội hình đội tuyển Á châu cùng với Phạm Văn Rạng.
Trong đội tuyển VNCH Đỗ Thới Vinh thi đấu ở vị trí tiếp ứng, tức cầu thủ mang danh vị “trung phong”, người thực sự nắm giữ linh hồn của trận dấu với vai trò liên lạc giữa tuyến dưới và tuyến trên. Trong trận đấu với Miến Điện ở giải Merdeca 1966, Đỗ Thới Vinh thi đấu ở một trong hai vị trí liên lạc của đội hình 4-2-4.
Sau năm 1966, với chiếc cúp vô địch Merdeka trở về, Đỗ Thới Vinh đầu quân trong đội bóng Tổng Tham Mưu. Sau này, khi được biệt phái lại ngành cũ, Ðỗ Thới Vinh lại thi đấu trong đội hình Quan Thuế.
Ông là cầu thủ tiền vệ tạo được nhiều kỷ lục nhất:
- 13 năm liên tục là tiền vệ của đội tuyển VNCH với 118 trận đấu quốc tế.
- Một lần được vinh hạnh chọn đá trong thành phần đội tuyển Châu Á.
- 11 lần tham dự giải Merdeka từ 1957 đến 1969.
- 6 lần dự giải Ðông Nam Á Vận Hội (SEAP Games).
- 6 lần có mặt ở giải King's Cup của Thái Lan.
- 2 lần dự Á Vận Hội.
Những dấu ấn mà tiền vệ Ðỗ Thới Vinh tạo ra trên sân cỏ nhiều lắm nhưng đáng kể nhất là SEAP Games 1959 và giải Merdeka 1966.
Trận chung kết đem chiếc huy chương vàng đầu tiên về cho VNCH của giải bóng tròn SEAP Games 1959 sau khi đá bại đội tuyển Thái Lan 3-1 đã in đậm công lao và tài năng của Vinh “đầu sói”, đặc biệt với cú bay người đánh đầu đưa banh làm thủng lưới Thái Lan.
Một dấu ấn khác cũng được nhắc đến với Ðỗ Thới Vinh, với tài năng chói sáng của Vinh, đã khiến cho chính vị thủ tướng cũng như dân chúng Malaysia thời bấy giờ rất ngưỡng mộ và chính vị thủ tướng Malaysia vào năm 1968, Abdul Rahman, vừa là Chủ Tịch Liên Ðoàn Bóng Tròn Á Châu thời bấy giờ, đã đích thân viết thư mời Ðỗ Thới Vinh sang Malaysia đá cho đội tuyển Á Châu.
Ngoài ra Vinh còn có phong cách thi đấu hòa nhã và mã thượng. Trong trận mở màn Merdeca Cup với đội Malaysia trên sân Kuala Lumpur năm 1966, Đỗ Thới Vinh đã để lại những ấn tượng tuyệt vời với khán giả nước ngoài: Sau khi bị một hậu vệ Malaysia hất té lăn tròn mấy vòng, Đỗ Thới Vinh đã bật dậy và xăm xăm chạy lại khiến ai cũng lo ngại, những tưởng rằng anh sẽ chạy lại để gây gỗ, đánh lộn. Thế nhưng hóa ra Vinh chỉ chạy lại để chìa tay ra bắt tay hậu vệ Malaysia và hành động mã thượng này đã khiến hàng vạn khán giả vỗ tay hoan hô, tán thưởng. Nhờ vậy nên khi đội tuyển VNCH đấu trận chung kết với Miến Điện, khán giả Malaysia đã trở thành những cổ động viên nhiệt tình nhất của họ.
Sau năm 1975 cuộc sống của Ðỗ Thới Vinh trở nên bần hàn, không được sung túc, thiếu trước hụt sau. Sau năm 1975 đội Quan Thuế này chuyển thành đội Hải Quan và Đỗ Thới Vinh có mặt trong đội hình của Hải Quan trong trận gặp đội Ngân Hàng ngày 2.9.1975.
Xin nói thêm rằng đội Ngân Hàng cũng lấy từ đội Việt Nam Thương Tín trước năm 1975, bởi thế trận đấu này quy tụ nhiều cầu thủ VNCH như Hồ Thanh Chinh, Trần Thanh Long, Đỗ Minh Khá, Nguyễn Văn Ngôn, Trần Tiết Anh, Hồ Thanh Cang, Võ Thành Sơn, Quang Đức Vĩnh, Dương Văn Thà.
Đến năm 1976 tỉnh Sông Bé thành lập hai đội bóng và mời ông về làm HLV trưởng. Chỉ hai năm sau tỉnh Sông Bé cử cả hai đội bóng tỉnh tham dự giải bóng đá hạng A toàn quốc và đội thứ hai đoạt chức vô địch khu vực phía Nam. Sau thành công này tỉnh Sông Bé sáp nhập hai đội lại thành một đội tuyển và đuổi việc Đỗ Thới Vinh, giao cho ông Nguyễn Kim Phụng làm HLV trưởng. Về sau tay cơ hội chủ nghĩa này trở thành Phó Giám đốc sở TDTT tỉnh Bình Dương.
Điều này cho thấy khi đã thành công thì họ gạt Đỗ Thới Vinh ra ngoài và sau đó không thấy báo chí trong nước nhắc gì tới ông nữa.
Một số tài liệu cho biết trong khoảng năm 1989-1990 Đỗ Thới Vinh lâm cảnh bần cùng, phải tìm đến một người anh em quen biết đang trông coi sân Kỵ Mã, Tao Ðàn và sống trên chiếc giường nhỏ cho qua ngày tháng. Sau đó ông mất bên sân cỏ vì bệnh tiểu đường nhưng không nói rõ mất năm nào. Chỉ được biết rằng từ năm 2002 các cựu đồng đội và hậu duệ vẫn đều đặn tổ chức các “trận đấu tưởng niệm Đỗ Thời Vinh”.
Cứ đến ngày giỗ tiền đạo tài hoa này thì các thế hệ đàn em ông và cả những học trò từng sống với Đỗ Thới Vinh trong những ngày cuối đời của ông trên sân Kỵ Mã đều tổ chức giỗ. “Đám giỗ” có khi chỉ là một trận bóng và sau đó tất cả quây quần bên những ly trà đá hoặc nếu khá giả thì thì có thêm thêm vài chai bia.
Trong những ngày giỗ này không ít những cựu tuyển thủ chống gậy đến sân, trong đó có Tam Lang. Cũng có những cựu tuyển thủ nghèo khó, tuổi già sức yếu lại sống nhờ con cái vốn không khá giả, nhưng tất cả đều có một chữ tình. Thí dụ trận đấu giỗ ngày 18.5.2013, trên sân Tao Đàn (quận 1, Sài Gòn) với trận bóng đá giữa cựu tuyển thủ Sông Bé (cũ) và cựu tuyển thủ Sài Gòn.
Cầu thủ tinh hoa của Việt Nam?
Tháng Ba năm 2004 khi AFC yêu cầu các quốc gia hội viên bình chọn bầu chọn nhân vật tiêu biểu cho nền túc cầu quốc gia, các quan chức thể thao ở Hà Nội đã len lén “bầu trộm” ông Lê Thế Thọ.
Lúc đó ông Thọ này là Phó chủ tịch LĐBĐVN kiêm trợ lý túc cầu của Chủ nhiệm ủy ban thể thao quốc gia Danh Thái (chức chủ nhiệm này tương đương bộ trưởng), trước đây là thủ quân đội tuyển Thanh Niên miền Bắc và cầu thủ đội tuyển Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH).
Lúc đó ông Thọ đang bị báo chí trong nước chỉ trích như là “thế lực kìm hãm và trì trệ” trong LĐBĐVN, do đó khi chuyện “bầu chọn” thiếu minh bạc này” lộ ra thì dư luận từ Nam chí Bắc phản đối ầm ĩ, dọa sẽ phản đối lên AFC. Thấy vậy, một mặt LĐBĐVN tìm cách giải thích, chữa thẹn, một mặt đề xuất ra những tiêu chuẩn bầu chọn cùng danh sách ứng viên.
Như vậy là họ đem cái cày đặt trước mặt con trâu, một cách làm việc rất “đặc thù xã hội chủ nghĩa: dù đã “bầu chọn” ông phó chủ tịch kiêm trợ lý bộ trưởng Lê Thế Thọ xong rồi, nhưng vì bị chửi quá nên mới soạn thảo thể thức bầu chọn!
LĐBĐVN ấn định tiêu chuẩn được bầu chọn làm "Cầu thủ vàng" trong nửa thế kỷ của AFC như sau:
- Thời gian hoạt động từ 1954 tới năm 2004
- Tham gia đội tuyển quốc gia và thi đấu xuất sắc được công luận tôn vinh
- Có phẩm chất đạo đức tốt, không vi phạm pháp luật
- Sau thi đấu có trình độ chuyên môn cao và cống hiến cho sự phát triển nền bóng đá nước nhà, khu vực và thế giới
Sau đó LĐBĐ đề cử 7 ứng viên thuộc 4 thế hệ:
- Thế hệ 1: Phạm Huỳnh Tam Lang, Trần Duy Long, Lê Thế Thọ
- Thế hệ 2: Nguyễn Trọng Giáp
- Thế hệ 3: Nguyễn Cao Cường
- Thế hệ 4: Lê Huỳnh Đức, Nguyễn Hồng Sơn
Lúc đó một số nhà báo đề nghị đưa tên Thế Anh (Ba Đẻn) vào danh sách ứng viên, và lúc này hãy còn sợ báo chí, LĐBĐ “vui vẻ” chấp nhận ngay.
LĐBĐ còn quy định một thể thức bầu cử khá buồn cười: 158 phiếu bầu phát cho cá nhân và tổ chức. Cá nhân đây là các chủ tịch, phó chủ tịch, tổng thư ký LĐBĐ Việt Nam các khóa, các uỷ viên thường vụ LĐBĐ đương nhiệm (khóa IV), các Ủy viên Hội đồng HLV quốc gia khóa II. Ngoài ra, để ve vuốt báo chí, LĐBĐ còn phát phiếu cho một số ký giả thể thao lão thành như Tú Hào, Trần Can, Lê Bách, Nguyễn Lưu, Chánh Trinh cũng được mời tham gia bỏ phiếu.
Về phiếu tổ chức thì giao cho các Sở thể dục thể thao ở các địa phương có đội bóng tham gia giải Ngoại hạng, hạng Nhất, hạng Nhì; các LĐBĐ địa phương là thành viên LĐBĐVN; các CLB chuyên nghiệp và hạng Nhất; các cơ quan thông tin đại chúng, tính ra khoảng 25 báo đài trên toàn quốc. Mỗi tổ chức cũng chỉ được 1 phiếu, ngang với phiếu cá nhân.
Khỏi nói việc phân phối quyền đầu phiếu: ông Lê Thế Thọ là quan chức cỡ bự của LĐBĐVN, lại là trợ lý túc cầu của bộ trưởng thể thao. Mặt khác ông còn khét danh là “thế lực đen” trong liên đoàn, việc trao quyền bầu cử cho các cá nhân và tổ chức nằm dưới quyền điều hành ông ta thì làm sao bảo đảm được tính dân chủ?
Tuy nhiên vấn đề không chỉ là dân chủ suông mà còn là chuyên môn: cả việc đề cử ba ứng viên của thế hệ thứ nhất là Tam Lang, Trần Duy Long và Lê Thế Thọ đã thấy vô lý và bất công.
Lúc đó nhà bình luận thể thao Chánh Trinh, người được mời bầu chọn, cũng phản đối chuyện này. Chánh Trinh tức Lý Quý Chung, ký giả thể thao tại Sài Gòn trước 1975, từng đắc cử dân biểu và cử làm Bộ trưởng thông tin trong chính phủ Dương Văn Minh vào tháng 4 năm 1974, sau 1975 đã viết bình luận túc cầu cho tờ Tuổi Trẻ và Lao Động. Chánh Trinh cho rằng LĐBĐVN đã “hoàn toàn không hiểu biết về túc cầu miền Nam” khi đem Tam Lang đặt lên trên Đỗ Thới Vinh và Phạm Văn Rạng.
Là một trong những người am hiểu phong trào túc cầu miền Nam hơn ai hết, ký giả trên cho rằng nếu nêu tên các “cầu thủ huyền thoại” của miền Nam trong 50 năm qua phải nhắc tới Phạm Văn Rạng và Đỗ Thới Vinh.
Theo Chánh Trinh thì cả hai cầu thủ Phạm Văn Rạng và Đỗ Thới Vinh đều hội đủ cả 3 điều “lớn nhất và vinh dự nhất” của một cầu thủ bóng đá. Họ đều có tài năng tuyệt vời trên sân cỏ, có thành tích chính thức qua các giải và sự ngưỡng mộ của đông đảo giới mộ điệu. Hai cầu thủ Rạng và Vinh đều đều góp phần đoạt vô địch SEAP Games, tức vô địch Đông Nam Á - tiền thân của SEA Games. Họ cũng được chọn vào đội hình của Đội tuyển Ngôi sao Châu Á, còn sự ngưỡng mộ của giới hâm mộ quần chúng ở miền Nam thì quá lớn. Là người được LĐBĐVN chọn để tham gia cuộc bầu cử, ký giả Chánh Trinh tâm tình: “Quả tình, vì là người biết rất rõ bóng đá miền Nam trước 1975, tôi không thể làm điều thất thố đặt Tam Lang lên trên Đỗ Thới Vinh và Phạm Văn Rạng.”
Tuy nhiên nói gì thì nói, trò hề bầu cử này chỉ là chuyện phù phép để giải độc dư luận. Đó chỉ là kế sách để rựa mặt cho LĐBĐVN nhằm hợp thức hóa việc bầu chọn đen tối trước đó.
Cuối cùng LĐBĐVN đưa ra kết quả như đã nói ở trên, trong đó Lê Thế Thọ được 76 phiếu, qua mặt Tam Lang chỉ có 19 phiếu.
Việc bầu chọn này đã góp phần giải đáp câu hỏi tại sao nền túc cầu VN sa sút, mất hẳn khí thế của thời VNCH.
Tại sao túc cầu VN sa sút?
Như đã nói ở trên, Tam Lang không thể sánh với Đỗ Thới Vinh và Phạm Văn Rạng nhưng nếu so với Lê Thế Thọ thì rực rỡ hơn nhiều!
Tam Lang từng cùng Đội tuyển VNCH giành chức vô địch Merdeka Cup năm 1966, là cầu thủ Việt Nam đầu tiên được chọn vào đội hình các ngôi sao châu Á năm 1967, còn Lê Thế Thọ là ai?
Lê Thế Thọ sinh năm 1941 tại Hải Dương và học Trường Huấn luyện kỹ thuật TDTT 1 và đá trong đội hình Đội tuyển thanh niên miền Bắc, từng dự giải “tứ hùng” gồm bốn nước VNDCCH, Trung Quốc, Bắc Hàn, Mông Cổ tại Hà Nội.
Đỉnh cao trong sự nghiệp cầu thủ của Lê Thế Thọ là vai trò thủ quân đội tuyển trong trận hữu nghị với đội tuyển trẻ Liên Xô trên sân Dinamo Matxcơva năm 1966, trong đó VN thắng Nga.
Trong vai trò cầu thủ, Lê Thế Thọ chưa giúp đội tuyển miền Bắc đọat giải nào cả, không tạo ra sự thu hút quốc tế như Tam Lang. Trong vai trò huấn luyện viên ông ta cũng thua xa Tam Lang.
Năm 1971 Lê Thế Thọ được đưa sang Đông Đức học huấn luyện viên túc cầu và năm 1976 thì về nước. Từ năm 1977 đến 1981 đảm nhiệm vị trí HLV trưởng đội tuyển thanh niên VN. Từ năm 1978 - 1989 là Tổng thư ký lâm thời Hội Bóng đá VN, Tổng thư ký LĐBĐVN khóa I (1989-1993). Từ 1997- 2001 là Phó chủ tịch LĐBĐVN, chủ tịch Hội đồng HLV quốc gia.
Chỉ là HLV trưởng đội tuyển thanh niên, Lê Thế thọ thua xa Tam Lang đã dẫn dắt Cảng SG bốn lần vô địch quốc gia.
Nhưng đường làm quan của Thọ lại rạng rỡ hơn. Từ năm 2002 đến tháng 5.2005, Lê Thế Thọ là Trợ lý bộ trưởng kiêm Phó chủ tịch LĐBĐVN. Chính trong cương vị đầy quyền lực này Thọ trở thành “cầu thủ vàng” của nửa thế kỷ túc cầu Việt Nam.
Thế nhưng tới cuối năm 2005 thì Lê Thế Thọ phải từ giã chức vụ trong nhục nhã. Theo báo chí thì ông Thọ là “mưu sĩ” trong LĐBĐVN, luôn đâm bị thóc, thọc bị gạo: mọi việc bổ nhiệm người cho đội tuyển đều có bàn tay của ông ta và nhất nhất mọi sự đều được xem xét sao có lợi cho phe nhóm của ông ta chứ không phải cho đội tuyển. Ông Thọ cũng bị tố cáo là kẻ đứng đằng sau trò “trích phần trăm tiền thưởng” của các cầu thủ đội tuyển, khiến họ nhiều lúc khinh nhờn ban huấn luyện và lãnh đạo của đội, cò kè ngã giá với ban huấn luyện trước khi ra trận như là hàng tôm hàng cá.
Nhưng giọt nước tràn ly lại là sự kiện SEA Games 23 ở Philippines năm 2005. Năm đó ông Thọ là trưởng đoàn, được giao đặc trách khu vực Bacolod và bộ môn túc cầu. Mà nơi đây lại là nơi diễn ra vụ tai tiếng bán độ: cho dù ông Thọ đã được một cầu thủ báo cáo rằng nhiều đồng đội đã rủ rê mình bán độ, ông ta vẫn cứ khoanh tay cho vụ bán độ diễn ra.
Trước áp lực này, ngày 26.12.2005 ông Thọ phải nộp đơn xin từ chức, thôi làm Phó chủ tịch LĐBĐVN.
Nền túc cầu Việt Nam ngày càng sa sút cũng vì lẽ đó: không tôn trọng người có tài mà chỉ đứng về phía kẻ có quyền, trong khi đó thì kẻ có quyền chỉ vun xén cho bè cánh của mình!
Chủ tịch VFF Lê Hùng Dũng bị tố cáo nhận hối lộ
Thứ Hai, 15/06/2015 05:09
(Thethaovanhoa.vn) -Mới đây, báo chí đăng tin một cựu quan chức của VFF gửi đơn tố cáo tới nhiều cơ quan chức năng và báo chí về việc hai lãnh đạo VFF nhận hối lộ. TT&VH đã có cuộc trao đổi với ông Lê Hùng Dũng, Chủ tịch VFF.
Trong cuộc trao đổi qua điện thoại với phóng viên tối ngày 14/6, ông Dũng cho biết những nội dung thông tin liên quan tới ông trong đơn tố cáo là bịa đặt. Theo ông Dũng, ông Nguyễn Văn Chương trước đây là Phó Giám đốc Trung tâm đào tạo trẻ của VFF, nhưng chỉ là phụ trách hành chính, chứ không liên quan tới lĩnh vực chuyên môn khi trung tâm vẫn còn Giám đốc là Phạm Quang.
“Gần Tết (âm lịch, tháng 2/2015), Chương có gọi điện cho tôi nói muốn từ Hà Nội vào TP.HCM gặp tôi. Tôi cũng đã từ chối khéo vì nghe phong thanh cậu này có vấn đề về tiền nong, đánh giá là chạy chọt chức quyền. Tôi có nói với cậu ấy là tôi đang đi địa phương, không gặp được. Ba bốn ngày sau đó thì Chương lại gọi điện và Chương bảo là nếu chưa gặp được tôi thì không về Hà Nội”, ông Dũng nói tiếp - “Sau đó thì tôi cũng đồng ý gặp nhưng biết là cậu ấy chạy chọt gì đó nên tôi bảo cậu ấy qua một nhà hàng ở đường Nguyễn Huệ, trung tâm TP.HCM. Tôi muốn ra đó vì nó công khai, và tôi cũng mời cả anh Nguyễn Văn Lam, đại diện của VFF tại FIFA tới đó. Ý tôi là muốn có người ngồi làm chứng, chứng kiến.
Khi tôi đến nơi thì cậu ấy đã ngồi chờ rồi, nói chuyện vài câu thì móc túi đưa tôi phong bì. Tôi từ chối, tôi bảo tiền đâu mà quà cáp thế này. Cứ đưa qua đưa lại (phong bì). Năm ba phút như vậy, mà lúc đó đông, ai cũng quay ra nhìn mà nhiều người biết tôi. Tôi mới nói là nếu tôi bỏ đi thì cậu phải trả tiền, mà tôi không muốn. Thứ hai là, bỏ tiền ra đây thì mất tiền của cậu thì tội cậu. Nói hoài tôi cũng bỏ đi, Chương chạy theo, dúi tiền.
Tôi mới nói, tôi cầm tiền của cậu, và sẽ đưa số tiền này cho anh Hỷ (nguyên Chủ tịch VFF Nguyễn Trọng Hỷ). Anh Hỷ lúc ấy đang bị bệnh nặng, mổ ở Viện 108. Sau đó thì tôi ra Hà Nội thăm anh Hỷ và đưa số tiền ấy. Tôi nói với anh Hỷ là Chương nó đưa tiền, nhưng em không có nhận tiền của VFF nên em đưa tiền này cho anh coi như tiền Chương hỗ trợ anh tiền thuốc men”, ông Dũng nói.
“Lần thứ hai thì tôi mổ bên Singapore hồi tháng 8 năm ngoái. Anh Trần Duy Long có gọi cho tôi bảo, anh mổ tôi tới thăm được không. Tôi nói được quá đi chứ, vì hai người cùng làm với nhau ở Liên đoàn bóng đá Thành phố. Anh Long tới nhà tôi thì thấy có cả Chương. Tôi ngạc nhiên quá, hỏi sao lại có cả cậu này. Anh Long xin lỗi, nói là thì nghe thấy tôi tới thăm anh thì muốn đi theo tôi vào thăm. Trong bụng tôi cũng nghĩ là Chương có mưu gì đây, chạy chọt muốn làm Giám đốc (Trung tâm đào tạo trẻ) đây vì tôi thì không muốn.
Khi Chương về thì có để lại cái túi, tôi mới hỏi là cậu để lại cái gì đó. Trong cái túi có cái đồng hồ, cái đồng hồ vớ vẩn, vỏ gỗ chạy bằng pin. Nhà tôi đủ đồng hồ rồi, thiếu gì đâu. Tôi mới bảo trả lại nhưng cậu ấy không đồng ý, đứng dậy đi về. Tôi mới bảo Chương là tôi để lại đây nha, sau này tôi ra Hà Nội sẽ trả lại nhé, tôi không nhận ba cái thứ này của cậu. Chuyện là như thế thôi”.
“Chương muốn làm Giám đốc Trung tâm, muốn bỏ cái chữ “Quyền”. Tôi thì biết có mấy chuyện xì xào về Chương từ lúc là Phó GĐ rồi lên quyền giám đốc liên quan tới tiền bạc. Mấy lần tôi yêu cầu nhưng lập lờ không báo cáo. Chương khi ấy cứ vận động riết, và tôi có nói là sau Đại hội Liên đoàn sẽ giao cho anh Tuấn (ông Trần Quốc Tuấn, Phó Chủ tịch VFF). Anh Tuấn có ý kiến thì tôi mới quyết”, ông Dũng cho biết.
Ngoài ra trong đơn tố cáo, Ông Chương còn nêu tên một quan chức nữa của VFF.
Bên cạnh đó, ông Dũng còn khẳng định là trong suy nghĩ của mình khi tranh cử chức Chủ tịch VFF là ông đã quyết định có ba vị trí sẽ được dành cho những người Nhật Bản trong chủ trương hợp tác toàn diện với Nhật. Hiện HLV đội tuyển nam và nữ đều do người Nhật đảm trách. Còn vị trí Giám đốc Trung tâm đào tạo trẻ thì bên Nhật Bản chưa tìm được người, nên tạm thời giao cho ông Trương Hải Tùng.
Tuệ Chính (ghi) Thể thao & Văn hóa
Thua Thái Lan 1-2, tuyển Bóng đá nữ Việt Nam lỡ cơ hội giành vé vào chung kết
(HNMO) – Đông đảo người hâm mộ đã đến SVĐ Thống Nhất cổ vũ cho đội tuyển Bóng đá nữ Việt Nam thi đấu với ĐT bóng đá nữ Thái Lan trong khuôn khổ trận bán kết thứ hai Giải Bóng đá nữ vô địch Đông Nam Á (AFF Cup) 2015 tối 8-5. Hai đội hòa 1-1 trong thời gian thi đấu chính thức.
Nếu đi tìm trận đấu đẹp nhất của U23 Việt Nam trong suốt hành trình SEA Games năm nay, có thể nhiều người sẽ chọn trận đấu với U23 Myanmar ở bán kết. Ngặt nỗi, ngay ở trận mà chúng ta đá đẹp nhất, tấn công bài bản nhất, mảng miếng rõ ràng và đa dạng nhất, thì chúng ta lại thua.
So về số lượng cơ hội, U23 Việt Nam hơn đứt U23 Myanmar. So về thời lượng kiểm soát bóng, đội bóng của HLV Miura cũng hơn đứt đội bóng được dẫn dắt bởi đồng nghiệp Kiy Lwin. Nhưng về số lượng bàn thắng, chúng ta lại thua.
U23 Việt Nam một lần nữa không thể vượt qua U23 Myanmar
Ngặt một nỗi nữa, trong bóng đá, số lượng bàn thắng quan trọng hơn số lượng cơ hội và thời lượng kiểm soát bóng, đồng thời kết quả xem ra còn quan trọng hơn lối chơi.
Bảo U23 Việt Nam kém may mắn khi thất bại không phải không có lý, khi ở bàn thua thứ 2, bàn thua chính thức tiễn chúng ta ra khỏi trận chung kết, bóng dội chân hậu vệ U23 Việt Nam rồi bay vào lưới theo hướng không ngờ nhất. Nhưng, một thất bại thì không chỉ bao gồm chuyện may mắn hay không may mắn.
Không thể nói việc các chân sút U23 Việt Nam thiếu may mắn khi liên tục bỏ lỡ những cơ hội tốt. Đấy là vấn đề thuộc về năng lực, cụ thể là năng lực dứt điểm, năng lực kỹ thuật. Mà so về điểm này, U23 Myanmar rõ ràng trội hơn U23 Việt Nam.
Họ hầu như chỉ có 2 tình huống đáng có bàn thắng trong suốt trận, nhưng họ tận dụng hết cả 2 tình huống ấy. Cùng một trận đấu, cùng phải chịu áp lực như nhau, cầu thủ U23 Myanmar giải quyết tốt hơn cầu thủ U23 Việt Nam khi cần giải quyết các tình huống, thì rõ ràng phải thừa nhận họ hơn mình.
HLV lão làng Nguyễn Thành Vinh chia sẻ những gì mà chúng ta thấy ở đội tuyển hiện nay nói cho cùng cũng chỉ là sản phầm từ giải quốc nội. Nhìn lại trình độ thực chất của chính chúng ta để thấy rằng cách các đội bóng trong nước hiện sử dụng các chân sút ra sao, để đến nỗi các chân sút trở nên kém cỏi như bây giờ?
Thua 3 trận knock-out liên tiếp
Ở Asiad tháng 9 năm ngoái, U23 Việt Nam bị loại ở vòng 1/8, sau khi đá cực hay ở vòng bảng. Ở AFF Cup 2014 vào cuối năm, đội tuyển quốc gia của chúng ta thua ở bán kết. Và giờ, đội U23 lại thua ở vòng bán kết SEA Games 2015.
Cũng không thể nói chuyện may mắn hay không may mắn ở đây, bởi chuyện may – rủi thì không thể cứ lặp đi lặp lại hết giải này đến giải khác. Mà vấn đề thực chất có khi nằm ở chỗ năng lực giải quyết các trận đấu theo kiểu một mất một còn của chúng ta có hạn.
Đấy lại là vấn đề liên quan đến bản lĩnh, mà bản lĩnh cũng là trình độ. Tại sao đối phương biết cách đứng vững trước áp lực của chúng ta, của khán giả Việt Nam tràn ngập trên các khán đài, còn cầu thủ của ta thì không?
Vấn đề này cũng được HLV kỳ cựu Nguyễn Thành Vinh lý giải thông qua lăng kính giải quốc nội. Theo ông Vinh, làm sao các cầu thủ bản lĩnh cho được khi nhiều đội bóng trong nước hiện nay chưa chú trọng đến chuyện sử dụng các cầu thủ trẻ tại V-League. Nói nôm na, cầu thủ không được sử dụng thường xuyên thì lấy đâu ra bản lĩnh?
Ngay ở đội tuyển U23 Việt Nam hiện nay cũng vậy thôi, nhiều cầu thủ chưa phải là các trụ cột tại CLB, thậm chí chưa phải là những người thường xuyên được đá chính ở giải quốc nội, kể cả nhóm trụ cột của đội tuyển U23 như Huy Toàn, Duy Mạnh, Ngọc Thắng, Tiến Dũng, Minh Long…
Ở đây, HLV Miura dù có giỏi nhào nặn cách mấy, có cố gắng cách mấy thì ông không thể trong một thời gian ngắn, thay đổi được bản lĩnh của một đội bóng gồm nhiều cầu thủ thậm chí còn chưa được đánh giá cao ở tầm CLB.
Nhìn thấy rõ năng lực thật sự của mình để mà thay đổi, thay đổi cả một hệ thống, thì mới thấy được sự bổ ích của thất bại. Phải nhìn đúng trình độ của mình ở đâu, thì mới mong thay đổi được trình độ ấy, thay vì nói chuyện may mắn hay không may mắn ở đây!
Kim Điền
Bóng đá Việt Nam đang ở đâu tại Đông Nam Á?
Bóng đá Việt Nam dĩ nhiên vẫn nằm trong nhóm đội khá. Nhưng bị loại 2 lần liên tiếp ở vòng bán kết, cũng có nghĩa là chúng ta chưa có khả năng tranh chấp vị trí cao nhất...
Ngoài trừ Thái Lan giờ đã trên tầm khu vực, so với các nền bóng đá còn lại tại Đông Nam Á, rất khó nói các đại diện của bóng đá Việt Nam đứng trên hay đứng dưới họ? Dưới thời HLV Miura, các đội tuyển của chúng ta đã biết cách đánh bại Malaysia, Philippines. Nhưng ngặt nỗi, bây giờ, đến lượt Myanmar có thể hạ chúng ta, có thể trở thành rào cản của các đội tuyển Việt Nam.
Cần nhắc lại chi tiết Myanmar vốn trong khoảng 20 năm nay, cho đến trước SEA Games 2013 cách nay 2 năm, hầu như sa sút nhiều hơn là tiến bộ. Thế nhưng, khi họ có dấu hiệu quay lại, thế hệ cầu thủ trẻ của họ hiện tại lại có thể vượt mặt thế hệ cùng trang lứa của bóng đá Việt Nam.
Cụ thể, ngoài đội tuyển U23 Myanmar vừa thắng U23 Việt Nam ở bán kết SEA Games 2015, đội tuyển U19 của nước này còn vào đến VCK World Cup U20 thế giới, trong khi lứa Công Phượng và các đồng đội của tuyển U19 Việt Nam năm ngoái lại thất bại với mục tiêu tương tự.
Vấn đề của các đội tuyển Việt Nam từ năm ngoái đến năm nay là rất thiếu ổn định. Chúng ta có thể chơi bùng nổ trong những trận cầu ít được chờ đợi, thậm chí bị đánh giá là lép vế so với đối thủ (như trận thắng Philippines ở vòng bảng, thắng Malaysia ở bán kết lượt đi AFF Cup 2014), nhưng lại hay ngã ngựa trong những trận cầu đòi hỏi sự điểm tĩnh, khi đã nắm lợi thế trong tay (thua Malaysia ở bán kết lượt về AFF Cup 2014, thua Myanmar ở bán kết SEA Games 2015).
Sự thiếu ổn định của đội tuyển U23 Việt Nam phản ánh đẳng cấp thấp của nền bóng đá nói chung
Đấy có lẽ cũng là vấn đề liên quan đến đẳng cấp của nền bóng đá. Nếu là đẳng cấp trên người khác, có lẽ người ta sẽ không phụ thuộc quá nhiều vào yếu tố phong độ hay tâm lý trong từng trận đấu riêng lẻ (ví như Thái Lan, có thể có khi họ đá hay, có khi đá chưa thật hay, nhưng điểm chung là hay hoặc không hay thì họ vẫn đủ sức đánh bại các đối thủ khác, vì đẳng cấp họ cao hơn).
Chân đế không vững, phần ngọn đung đưa
Nhưng bây giờ nếu trách riêng đội tuyển, hoặc trách các thành viên của đội U23 Việt Nam đang dự SEA Games về sự thiếu ổn định của đội bóng này có lẽ là chưa đủ, và chưa thật công bằng đối với họ.
Nguyên nhân sâu xa hơn cho sự thiếu ổn định đấy chắc chắn bắt nguồn từ giải trong nước. Không thể đòi hỏi một đội tuyển giữ được sự ổn định khi mà ngay chính giải quốc nội cũng chẳng ổn định. Càng không thể đòi hỏi đội tuyển có đẳng cấp cao trong một nền bóng đá có phần chân đế nói chung là giải trong nước có chất lượng không cao.
U23 Việt Nam thất bại trước Myanmar trong trận bán kết SEA Games chủ yếu đến từ 2 nguyên nhân chính là chất lượng kỹ thuật và tâm lý thi đấu. Sự thiếu ổn định về mặt kỹ thuật, nhất là kỹ thuật dứt điểm khiến chúng ta không tận dụng các cơ hội triệt để bằng họ. Sự yếu kém về mặt tâm lý khiến cho đoàn quân của HLV Miura không biết cách giữ cái đầu lạnh trong những thời điểm không được phép mắc sai lầm (dạng như tình huống dùng tay chơi bóng dẫn đến phạt đền của Ngọc Thắng, hay sự phung phí của Hồng Quân).
Chất lượng của đội tuyển nói cho cùng chỉ phản ánh mặt bằng chung của toàn bộ nền bóng đá. Làm sao có được những thế hệ cầu thủ ổn định về mặt kỹ thuật khi người ta hết năm này đến năm khác cứ qua loa với khâu đào tạo (thậm chí cơ quan điều hành nền bóng đá còn sẵn sàng sửa đổi quy chế, để giúp một số đội lách luật, khỏi phải tham dự một vài giải đấu trẻ cấp quốc gia)? Làm sao có được dàn cầu thủ giàu bản lĩnh khi công tác sử dụng cầu thủ nội, nhất là cầu thủ trẻ vẫn chưa được chú trọng đúng mức?
Thành ra, thay vì cứ quanh quẩn với câu hỏi chúng ta có may mắn hay không khi bị loại ở bán kết SEA Games năm nay? Cứ phải nhìn thẳng vào điểm bóng đá Việt Nam bây giờ không mạnh, không đủ sức nằm trong nhóm tranh ngôi vô địch khu vực. Cứ thừa nhận những yếu kém của mình để biết yếu mà sửa, thay cho cái cách vụng chèo nhưng khéo chống của những người làm bóng đá suốt nhiều năm qua!
Trọng Vũ
Đảng sẽ ra định nghĩa mới về kinh tế thị trường định hướng XHCN
Sáng 28/2, tại Hà Nội, Hội đồng Lý luận TƯ phối hợp với Viện Hàn lâm Khoa học xã hội VN tổ chức tọa đàm “Nhận thức về kinh tế thị trường định hướng XHCN”, nhằm góp phần phục vụ hoàn thiện Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 30 năm đổi mới và dự thảo Báo cáo chính trị của TƯ tại Đại hội Đảng 12.
Báo cáo đề dẫn tọa đàm do GS.TS Nguyễn Xuân Thắng, Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam nêu rõ trong quá trình đổi mới, Đảng ngày càng nhận thức rõ, sát thực tế hơn khái niệm tổng quát về kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Thực tiễn 30 năm đổi mới đã chứng minh đầy sức thuyết phục về việc sử dụng kinh tế thị trường làm phương tiện để xây dựng CNXH.
Một góc TP HCM, đầu tàu kinh tế của cả nước. Ảnh: TTXVN
Nền kinh tế liên tục đạt được tốc độ tăng trưởng cao, phát triển ổn định; tỷ lệ đói nghèo giảm mạnh, bền vững và ấn tượng, được cộng đồng thế giới công nhận; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt.
Đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội và tình trạng kém phát triển, trở thành nước có thu nhập trung bình. Chính trị - xã hội ổn định, quốc phòng -an ninh được tăng cường. Quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng và đi vào chiều sâu, thế và lực của đất nước không ngừng được nâng cao trên trườngquốc tế.
Thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, nhất là hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách, tiếp tục được hoàn thiện. Vai trò, hiệu quả, sức cạnh tranh của các chủ thể kinh tế, các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế được nâng lên. Môi trường đầu tư và kinh doanh được cải thiện, bình đẳng và thông thoáng hơn.
Các yếu tố thị trường và các loại thị trường được hình thành đồng bộ hơn, vận hành cơ bản thông suốt, gắn kết với thị trường khu vực và quốc tế. Hầu hết các loại giá cả hàng hóa, được xác lập theo nguyên tắc thị trường.
Vai trò của Nhà nước được điều chỉnh phù hợp hơn với cơ chế thị trường, ngày càng phát huy dân chủ trong đời sống kinh tế - xã hội. Việc huy động và phân bổ các nguồn lực gắn với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội đã từng bước phù hợp với cơ chế thị trường; hạn chế và kiểm soát độc quyền kinh doanh. Hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng trên nhiều cấp độ, đa dạng về hình thức, từng bước thích ứng với nguyên tắc và chuẩn mực của thị trường toàn cầu.
Tuy nhiên, quá trình xây dựng, phát triển và hoàn thiện mô hình này còn có nhiều hạn chế, yếu kém và gặp không ít trở ngại, khó khăn.
Nhận thức mới
Trong quá trình nghiên cứu tổng kết thực tiễn, kế thừa và tiếp thu những thành quả lý luận của các Đại hội Đảng qua sáu kỳ đại hội, dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội 12 đã nêu ra định nghĩa mới về khái niệm kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Đó là: “Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Việt Nam là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế; có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền XHCN, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Việt Nam có quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế; các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theopháp luật; thị trường đóng vai trò chủ yếu trong huy động và phân bổ có hiệu quả các nguồn lực phát triển, là động lực chủ yếu để giải phóng sức sản xuất; các nguồn lực nhà nước được phân bổ theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phù hợp với cơ chế thị trường.
Nhà nước đóng vai trò định hướng, xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, minh bạch và lành mạnh; sử dụng các nguồn lực của Nhà nước và công cụ, chính sách để định hướng và điều tiết nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất kinh doanh và bảo vệ môi trường; thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước, từng chính sách phát triển. Phát huy vai trò làm chủ của nhân dân trong phát triển kinh tế - xã hội.
Trên cơ sở thống nhất nhận thức về nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Việt Nam theo tinh thần nêu trên, dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội 12 đã tiếp tục cụ thể hóa, nêu ra phương hướng mục tiêu và nhiệm vụ phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN trong giai đoạn 5-10 năm tới.
Cụ thể, “Đến năm 2020, phấn đấu cơ bản hoàn thiện đồng bộ hệ thống thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN theo các tiêu chuẩn phổ biến của nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế; bảo đảm tính đồng bộ giữa thể chế kinh tế và thể chế chính trị, giữa Nhà nước và thị trường; bảo đảm sự hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, với phát triển văn hóa, phát triển con người, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, bảo vệ môi trường, phát triển xã hội bền vững; chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế gắn với xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ; bảo đảm tính công khai, minh bạch, tính dự báo được trong xây dựng và thực thi thể chế kinh tế, tạo điều kiện ổn định, thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội”.
Tại buổi tọa đàm, các chuyên gia, các nhà nghiên cứu đã thảo luận về: Thực trạng nhận thức và thực tiễn về kinh tế thị trường định hướng XHCN; nhận thức mới về kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Các nhà khoa học góp ý kiến về nhận thức khái niệm tổng quát về nền kinh tế thị trường định hướng XHCN sau 30 năm đổi mới có giá trị định hướng lâu dài trong suốt thời kỳ quá độ; nêu rõ những vấn đề cần tiếp tục cụ thể hóa nhận thức khái niệm tổng quát về nền kinh tế thị trường định hướng XHCN cho phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của Việt Nam và những biến đổi của tình hình quốc tế, khu vực trong vòng 5-10 năm tới, trước mắt đến năm 2020.
Từ những nhận thức tổng quát và cụ thể về nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, các đại biểu đề xuất những phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp mang tính đột phá; Những điều kiện và các cơ chế, chính sách thiết yếu cụ thể để thực hiện.