Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ
     Các chuyên mục 

Tin tức - Sự kiện
» Tin quốc tế
» Tin Việt Nam
» Cộng đồng VN hải ngoại
» Cộng đồng VN tại Canada
» Khu phố VN Montréal
» Kinh tế Tài chánh
» Y Khoa, Sinh lý, Dinh Dưỡng
» Canh nông
» Thể thao - Võ thuật
» Rao vặt - Việc làm

Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca
» Cần mời nhiều thương gia VN từ khắp hoàn cầu để phát triễn khu phố VN Montréal

Bản sắc Việt
» Lịch sử - Văn hóa
» Kết bạn, tìm người
» Phụ Nữ, Thẩm Mỹ, Gia Chánh
» Cải thiện dân tộc
» Phong trào Thịnh Vượng, Kinh Doanh
» Du Lịch, Thắng Cảnh
» Du học, Di trú Canada,USA...
» Cứu trợ nhân đạo
» Gỡ rối tơ lòng
» Chat

Văn hóa - Giải trí
» Thơ & Ngâm Thơ
» Nhạc
» Truyện ngắn
» Học Anh Văn phương pháp mới Tân Văn
» TV VN và thế giới
» Tự học khiêu vũ bằng video
» Giáo dục

Khoa học kỹ thuật
» Website VN trên thế giói

Góc thư giãn
» Chuyện vui
» Chuyện lạ bốn phương
» Tử vi - Huyền Bí

Web links

Vietnam News in English
» Tự điển Dictionary
» OREC- Tố Chức Các Quốc Gia Xuất Cảng Gạo

Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng

Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP



     Xem bài theo ngày 
Tháng Sáu 2026
T2T3T4T5T6T7CN
1 2 3 4 5 6 7
8 9 10 11 12 13 14
15 16 17 18 19 20 21
22 23 24 25 26 27 28
29 30          
   

     Thống kê website 
 Trực tuyến: 1
 Lượt truy cập: 29448430

 
Tin tức - Sự kiện 30.06.2026 00:43
Cháy nhà lòi mặt chuột: Trung Cộng tố VC nhượng Hoàng Sa, Trường Sa cho TQ
30.06.2015 00:29

HỒNG THỦY   Báo đảng Trung Quốc lại xuyên tạc "Việt Nam cất quân xâm lược Trường Sa"(GDVN) - Chính thể có thể khác nhau, nhưng Tổ quốc Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Nhà nước Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử đã thực thi đầy đủ...

Nhân cách và trí tuệ của Đại tướng Võ Nguyên Giáp khiến một số kẻ ở Trung Nam Hải khiếp sợ nên mới tìm cách bôi nhọ? Ảnh: The New York Times.

Thời báo Hoàn Cầu ngày 29/6 tiếp tục luận điệu chống phá Việt Nam quyết liệt hòng mưu đồ hỗ trợ âm mưu bành trướng của Bắc Kinh biến Biển Đông thành ao nhà của họ. Một trong những cơ quan ngôn luận hàng đầu của đảng Cộng sản Trung Quốc không chỉ bôi nhọ Việt Nam mà còn xấc xược xúc phạm anh linh Đại tướng Võ Nguyên Giáp, một trong những tâm hồn biểu tượng thiêng liêng của người Việt khi giật tít hỗn láo: "Năm 1975 Võ Nguyên Giáp từng chỉ huy hải quân Bắc Việt xâm chiếm Trường Sa, Trung Quốc".

Thực tế là Thời báo Hoàn Cầu xuất bản lại bài bình luận xuyên tạc bôi nhọ Việt Nam có tiêu đề xấc xược không kém: "Việt Nam lật mặt: Năm 1956 Thủ tướng Việt Nam từng thừa nhận các đảo ở Biển Đông thuộc về Trung Quốc" do tờ Nhân Dân nhật báo và chính Thời báo Hoàn Cầu đã xuất bản ngày 18/7/2011.

Bài báo của Tôn Lực Chu, một học giả Trung Quốc cổ súy cho tham vọng bành trướng bá quyền ở Biển Đông đã dùng những lời lẽ rác rưởi thậm tệ để mạt sát Việt Nam, bóp méo sự thật, xuyên tạc lịch sử đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam.

Trung Quốc đánh tráo các khái niệm pháp ly hòng bôi nhọ Việt Nam

Cơ quan ngôn luận của đảng Cộng sản Trung Quốc rêu rao rằng: "Trước năm 1974, bất luận là các cuộc họp, tuyên bố của chính phủ Việt Nam hay sách báo, bản đồ do nhà nước Việt Nam xuất bản đều thừa nhận Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ Trung Quốc. Nhưng sau đó Việt Nam trở mặt, không chỉ xuất quân xâm chiếm  Trường Sa mà còn tìm mọi cách ngụy biện cho sự thay đổi thái độ của mình".

Ngay câu đầu tiên, học giả và truyền thông nhà nước Trung Quốc đã cố tình bóp méo các khái niệm pháp lý cơ bản hòng lập lờ đánh lận con đen.

Trao đổi nhanh với chúng tôi qua điện thoại, Tiến sĩ Trần Công Trục, nguyên Trưởng ban Biên giới Chính phủ cho biết: "Lập luận này của phía Trung Quốc hoàn toàn vô giá trị trước ánh sáng công pháp quốc tế vì họ cố tình đánh tráo các khái niệm pháp lý cơ bản.

Thứ nhất, Nhà nước Việt Nam là nhà nước đầu tiên trong lịch sử đã chiếm hữu và thực thi chủ quyền của mình đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, khi chúng còn là đất vô chủ, ít nhất là từ thế kỷ XVII. Việc chiếm hữu và thực thi chủ quyền này là thật sự, liên tục, hòa bình và rõ ràng. 

Việt Nam hoàn toàn có cơ sở pháp lý và chứng cứ lịch sử có giá trị pháp lý để khẳng định và bảo vệ chủ quyền hợp pháp của mình, đáp ứng đủ những điều kiện của nguyên tắc chiếm hữu thật sự mà Luật pháp và thực tiễn quốc tế đã và đang có hiệu lực. Hoàng Sa và Trường Sa là những quần đảo của Việt Nam nằm giữa Biển Đông mà phạm vi của chúng đã được xác định trong các tài liệu chính thức của Nhà nước Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử. 

Ảnh chụp màn hình bài báo xấc xược của Thời báo Hoàn Cầu xúc phạm danh dự Đại tướng Võ Nguyên Giáp, bôi nhọ Việt Nam.

Thứ hai, theo Hiệp định Geneva 1954 mà Trung Quốc là một bên đặt bút ký, Cộng hòa Pháp trước đó đại diện cho Việt Nam về mặt đối ngoại thực thi chủ quyền đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, đã bàn giao hoạt động thực thi, bảo vệ chủ quyền cho các chính thể ở niềm Nam Việt Nam: Đầu tiên là Quốc gia Việt Nam và kế đó là Việt Nam Cộng hòa.

Các chính thể này đã tiếp quản và thực hiện nhiệm vụ quản lý phần lãnh thổ phía Nam Việt Nam, chờ ngày Tổng tuyển cử thống nhất đất nước. Cả trên phương diện pháp lý và thực tế, Việt Nam Cộng hòa đã thực thi đầy đủ chủ quyền hòa bình, hợp pháp, liên tục đối với 2 quần đảo này, kịp thời và liên tục lên tiếng phản đối các hành động xâm phạm chủ quyền đối với Hoàng Sa và Trường Sa. 

Chính thể có thể khác nhau, nhưng Tổ quốc Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Nhà nước Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử đã thực thi đầy đủ nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa một cách hòa bình, hợp pháp và liên tục kể từ khi Cộng hòa Pháp bàn giao năm 1954.

Trong giai đoạn 1954 – 1976, trước khi Việt Nam hoàn toàn thống nhất, thì các chính thể: Quốc gia Việt nam, Việt Nam Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa niềm Nam Việt Nam là những chủ thể  kế tục nhau, đại diện cho Nhà nước Việt Nam, Dân tộc Việt Nam, Tổ quốc Việt Nam thực thi sứ mệnh bảo vệ chủ quyền đối với với quần đảo này theo đúng nguyên tắc và thủ tục pháp lý của Công pháp quốc tế hiện hành.

Bởi vậy, mọi tuyên bố hay phát ngôn của cá nhân, tổ chức nào về Hoàng Sa, Trường Sa giai đoạn này không phải do các chính thể nói trên đưa ra đều vô giá trị trước Công pháp quốc tế. Giai đoạn này ngoài các chính thể nói trên ra, không tổ chức, cá nhân nào có quyền phát ngôn về Hoàng Sa, Trường Sa.

Trước sự tấn công xâm lược của lính Trung Quốc năm 1974, các quân nhân Việt Nam Cộng hòa đã chiến đấu anh dũng, đổ máu hy sinh để bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc, dù không giữ được đảo trước sức mạnh bành trướng xâm lược, nhưng sự thực lịch sử đó không thể thay đổi được!"

Tiến sĩ Trần Công Trục, nguyên Trưởng ban Biên giới Chính phủ.

Trung Quốc đã không ngừng tìm mọi cách “đổi trắng thay đen”, với rất nhiều thủ thuật, thủ pháp hết sức tinh vi, xảo quyệt, điển hình là lập luận này trên Thời báo Hoàn Cầu : "Năm 1933, Đan Mạch và Na Uy kiện nhau ra tòa về chủ quyền đối với đảo Greenland, cuối cùng Đan Mạch thắng kiện. Một trong những lý do để tòa án quốc tế đưa ra phán quyến này là vì năm 1919 Ngoại trưởng Na Uy Nils Claus đã nói với Công sứ Đan Mạch rằng, Na Uy không phản đối yêu sách chủ quyền của Đan Mạch đối với Greenland. Vụ kiện này đã trở thành án lệ của nguyên tắc "trước sau như một".

Tranh chấp Biển Đông giữa Trung Quốc với Việt Nam vài chục năm qua cũng tương tự: Trước năm 1974, các tuyên bố, sách báo, bản đồ do Việt Nam phát hành bao gồm cả công thư năm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đều thừa nhận Hoàng Sa, Trường Sa là của Trung Quốc. Nhưng sau đó Việt Nam lại lật mặt, không chỉ cất quân đánh chiếm Trường Sa mà còn ngụy biện cho sự thay đổi thái độ của mình?!"

Tiến sĩ Trần Công Trục khẳng định: "Trung Quốc đã cố tình lý giải sai nguyên tắc pháp lý quốc tế, nguyên tắc 'tiền hậu bất nhất'. Bởi vì, vấn đề là cần phải hiểu và xác định chủ thể trong quan hệ quốc tế, đại diện cho Nhà nước Việt Nam để quản lý quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa trong thời kỳ này là ai?

Câu trả lời duy nhất đúng là: Dưới ánh sáng của Công pháp quốc tế, đó là các chính thể: Quốc gia Việt Nam, Việt Nam Cộng hòa, tiếp đến là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.

Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không có trách nhiệm quản lý nhà nước đối với Hoàng Sa và Trường Sa theo quy định của Hiệp định Geneva 1954. Vì vậy, lập luận về nguyên tắc "trước sau như một" của ông Tôn Lực Chu hay Thời báo Hoàn Cầu, Nhân Dân nhật báo là đã bỏ qua yếu tố quan trọng này và vì vậy, nó hoàn toàn không có sức thuyết phục.

Phải chăng đây là sự thiếu hụt về kiến thức pháp lý hay là chủ tâm trong việc cố tình đánh tráo khái niệm về chủ thể trong quan hệ quốc tế theo Công pháp quốc tế?" Tiến sĩ Trần Công Trục bình luận.

Thời báo Hoàn Cầu xúc phạm anh linh Đại tướng Võ Nguyên Giáp

Thới báo Hoàn Cầu đã xúc phạm anh linh Đại tướng Võ Nguyên Giáp khi viết rằng: "Tháng 1/1974, hải quân Trung Quốc đánh nhau với hải quân Nam Việt (Việt Nam Cộng hòa), sau đó bức hải quân Nam Việt phải rời khỏi Hoàng Sa. Bắt đầu từ lúc này, lập trường của Bắc Việt (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) bắt đầu thay đổi rõ rệt, tranh chấp biển đảo giữa 2 nước bắt đầu từ đây."

Tháng 4/1975 khi chiến tranh thống nhất đất nước Việt Nam sắp bước vào hồi kết, lãnh đạo Bắc Việt (Đại tướng) Võ Nguyên Giáp nhanh chóng chỉ huy hải quân Bắc Việt xâm chiếm Trường Sa. Từ đầu năm 1975 Bộ Tư lệnh Hải quân Bắc Việt đã tiến hành các công tác chuẩn bị đánh chiếm (tiếp quản) các đảo ở Biển Đông và vịnh Thái Lan.

Ngày 4/4/1975 (Đại tướng) Võ Nguyên Giáp đã gửi quân lệnh đặc biệt cho Bộ Tư lệnh Quân khu 5 và Bộ Tư lệnh Hải quân yêu cầu nắm chắc thời cơ lên kế hoạch tác chiến, thời cơ đến lập tức chiếm (tiếp quản) Trường Sa. Ngày 13/4 (Đại tướng) Võ Nguyên Giáp chỉ thị, quân đội Nam Việt rút khỏi đảo nào, Bắc Việt chiếm (tiếp quản) đảo đó lập tức".

Tiến sĩ Trần Công Trục phân tích: "Không cần phải bình luận nhiều đối với luận điệu xuyên tạc này, chỉ cần nhìn hình ảnh người chiến sỹ quân Giải phóng niềm Nam Việt Nam kéo lá cờ hai màu xanh đỏ rất nổi tiếng của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam trên quần đảo Trường Sa khi được lệnh ra tiếp quản quần đảo này vào đầu năm 1975 thì cũng đã thấy rõ tính chất hợp pháp của sự tiếp quản này.

Lá cờ của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam được trang trọng kéo lên tại Trường Sa khi tiếp quản.

Dưới ánh sáng của Công pháp quốc tế, vai trò của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và lực lượng quân giải phóng của Chính phủ này mới có đủ tư cách để tiếp quản quần đảo này. 

Ông Trục cho biết: "Từ ngày 13 đến 28 tháng 4 năm 1975, các lực lượng Quân Giai phóng nhân dân miền Nam Việt Nam đã tiếp quản các đảo có quân đội Việt Nam Cộng hòa đóng giữ, đồng thời triển khai lực lượng đóng giữ các đảo, một số vị trí khác trong quần đảo Trường Sa.

Ngày 05 tháng 06 năm 1975, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tuyên bố khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Ngày 02 tháng 07 năm 1976, tai kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa 6 (1976-1981), Quốc hội của nước Việt Nam thống nhất được bầu vào ngày 25 tháng 4 năm 1976, đã quyết định đổi tên nước là Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoàn toàn có nghĩa vụ quyền hạn tiếp tục quản lý và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa."  Hồng Thủy

Bí Ẩn Biên Giới Việt-Hoa: Cắt Ải Nam Quan Cho Hoa Lục

Nguyễn Đình Sài

Năm 1989 đảng Cộng Sản Việt Nam bán  hang Bắc Bó cho  Trung Quốc

Ngày 17/2/1979 Trung Quốc (TQ) xua quân tràn qua biên giới với tuyên truyền là để dạy cho CSVN một bài học. Sau hai tuần lễ, TQ tuyên bố chiếm được Cao Bằng, Lạng Sơn và Lào Cay. Đột nhiên vào ngày 5/3/1979 Bắc Kinh rút quân về sau mục đích cho Hà Nội một bài học đã đạt. Nhưng TQ đã gài lại phía nam biên giới trên hai triệu quả mìn. Và sau nầy cả hai phía Việt - Trung phải tốn gần 6 năm mới tháo gỡ hết.

Trong tài liệu của King C. Chen, China's War With Vietnam, Bắc Kinh đã viện trợ cho Hà Nội trên 20 tỷ. Hà Nội phải trả bằng cách nầy hay cách khác. Tiền và tài nguyên không đủ thì trả bằng lãnh hải và lãnh thổ.

Dấu hiệu khởi đầu của chuyện trả nợ là văn thư nhượng đảo và nhượng biển của Thủ Tướng VNDCCH ký ngày 14/9/58, để đáp ứng với bản tuyên bố về lãnh hải và "bản đồ chín gạch" (the nine dash map" của TQ ban hành 10 ngày trước đó, bao gồm hai quần đảo Hoàng sa, Trường Sa và một lãnh hải bao bọc gần hết bờ biển Việt Nam, lan ra tận Philippines, chạy dài xuống tận bờ biển Nam Dương, Mã Lai.

Câu đầu của văn thư Phạm Văn Đồng gửi Chu Aân Lai "Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4 tháng 9 năm 1958, của Chính phủ Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc."

Người ta thấy đã có sự thỏa thuận bí mật giữa Bắc Kinh và Hà Nội, phát nguyên từ tham vọng thống nhất đất nước của đảng CSVN.

Về trận chiến biên giới1979, sau 15 lần thương thảo, CSVN chịu nhường cho TQ 720 cây số vuông ở vùng Lạng Sơn. Theo tài liệu từ TQ, cổng Hữu Nghị đã bị dời về phía nam, cách ải Nam Quan 5 cây số, và nằm trong địa phận Đồng Đăng.

Còn về hiệp ước biên giới song phương đã được bộ trưởng ngoại giao Tống Gia Xuân (TQ) và Nguyễn Mạnh Cầm (CSVN) ký ngày 30/12/1999. Ngày 29/4/2000 quốc hội TQ thông qua hiệp ước; ngày 9/6/2000 quốc hội CSVN cũng thông qua. TQ được chủ quyền các vùng đất huyết mạch kiểm soát phía bắc ngạn sông Kỳ Cùng và sông Bằng, hầu có thể mở tung cánh cửa vào phía nam, mà mấy ngàn năm qua các cuộc xâm lăng từ phương Bắc thường bị chặn vì địa thế hiểm trở.

Khi nhượng đất như thế Hà Nội được lợi gì? Theo nhật báo Xinhua (TQ), món lợi đưa đến cho CSVN là việc giao thương lên đến hàng tỷ mỹ kim và việc Bắc Kinh viện trợ cho Hà Nội xây dựng các dự án kỹ nghệ về thủy lực, thép, hơi đốt, phân bón và quặng nhôm.

Nhượng đất xong tiếp đến nhượng biển trong vịnh Bắc Việt. Theo Luke T. Chang, (China's Boundary Treaties and Frontiers Disputes), hiệp ước Pháp-Thanh được ký kết tại Bắc Kinh 100 năm trước, ngày 26/6/1887, ghi rõ ranh giới hải phận EEZ (Exclusive Economic Done) trong vịnh Bắc Việt theo đường kinh tuyến, khởi đầu từ bờ biển hai nước tại Vịnh Tonkin.

Bắc Kinh không tuân theo hiệp ước cũ đòi Việt Nam phải chấp nhận lấy đường trung tuyến để ấn định lãnh hải hai nước. Tuy nhiên đường trung tuyến của Bắc Kinh dựa trên đảo Hải Nam và bờ biển Việt Nam, trong khi Hà Nội chủ trương trung tuyến nằm giữa hai đảo Bạch Long Vĩ và Hải Nam. Tính ra sự khác biệt là một diện tích trên 5 ngàn cây số vuông. Vùng nầy nằm trong thềm lục địa Việt Nam, gần Bạch Long Vĩ, có nhiều hải sản cũng như tiềm năng về khí đốt.

Sau một năm thảo luận, Hà Nội lại phải nhượng bộ. Ngày 25/12/2000, chủ tịch CSVN Trần Đức Lương sang TQ lý hiệp ước chấp nhận hải phận theo đường vẽ của TQ.

Theo tài liệu của Giane's Intelligence, toàn vùng Trường Sa gồm khoảng 200 đảo lớn nhỏ và 200 bãi đá ngầm. Diện tích nổi chiỏ vào khoảng 8 cây số vuông, nhưng trải ra một diện tích mặt biển khoảng 240.000 cây số vuông (tài liệu của U.S Institution of Peace ghi 800.000 cây số vuông).

Ngoài các mỏ dầu hỏa, khí đốt, quần đảo nầy có tầm quan trọng về chiến lược, quốc gia nào chiếm giữ có quyền xác nhận hải phận 12 hải lý quanh bờ đảo và 200 hải lý đặc quyền kinh tế ngư nghiệp.

Từ năm 1976 TQ đưa tàu chiến xâm nhập và đổ bộ lên các đảo không người ở. Năm 1988, cuộc lấn chiếm liên tục của Bắc Kinh dẫn đến sự va chạm với Hà Nội. Trong cuộc đụng độ ätại vùng đá ngầm Fiery Cross Reef (Bãi Chữ Thập) ngày 14/3/1988, Hải Quân TQ đánh chìm ba chiến hạm Hải quân CSVN.

Cũng trong tháng 3, Hà Nội tố cáo Bắc Kinh khoan dầu trong hải phận CSViệt Nam, vịnh Bắc Việt, ngoài khơi Côn Sơn và đổ bộ vùng đá ngầm Đa Lực. TQ công bố "Chinese Law" xác quyết toàn vùng Đông Hải là nội hải của mình.

Đối với quần đảo Trường Sa, TQ chỉ chịu thương thuyết song phương với các quốc gia Phi Luật Tân, Mã Lai, nhưng lại không chịu thương thuyết với CSVN. Nguồn lợi dầu hỏa và khí đốt lớn lao trong vùng đảo không cho phép Hà Nội nhượng bộ dễ dàng. Mặc dù Hà Nội thừa hưởng di sản của VNCH để lại, nhưng trên 50% vùng dầu hỏa và khí đốt nằm trong hải phận EEZ của Mã Lai. Mặt khác, Hà Nội bị kẹt với văn thư của Phạm Văn Đồng chấp nhận lãnh hải rộng lớn của TQ từ năm 1958. Do đó, hiện nay Hà Nội có vẻ chịu phép với TQ.

Theo tờ Lateline News ngày 15/2/2001, Hà Nội đã tránh né trách nhiệm khi tờ Sài Gòn Giải Phóng đăng một bài tiết lộ rằng các viên chức cao cấp của đảng và quân đội họp kín để thảo luận việc thành lập một đơn vị quản trị hành chính riêng cho Trường Sa và thiết kế việc bảo vệ chủ quyền Việt Nam.

Lập tức, phát ngôn nhân TQ Dư Bằng Giao lên tiếng: " Trung Quốc có chủ quyền toàn vẹn bất khả tranh chấp với quần đảo Nansha và toàn vùng lãnh hải liên hệ. Bất cứ quốc gia nào có hoạt động gì trên quần đảo vầy đều xâm phạm chủ quyền TQ, đều bất hợp pháp và vô giá trị."

Phát ngôn nhân bộ Ngoại giao CSVN Phan Thúy Thanh giải thích: " Đó chỉ là một tờ báo thành phố." Bà nầy nhiều lần từ chối trả lời trực tiếp các câu hỏi của nhiều ký giả về việc nhà nước CHXHCNVN minh định thế nào về chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Trường Sa, mà chỉ giải thích rằng "theo sử liệu của Việt Nam Cộng Hòa thời trước, quần đảo nầy được xem là một phần của tỉnh Khánh Hòa."

Đầu năm 2000, cơ quan thông tấn AP có đề cập đến dự án xây xa lộ Trường Sơn trên đường mòn Hồ Chí Minh. Nhiều người lo ngại về môi sinh của dự án, nhưng không mấy ai để ý đến khía cạnh quân sự. Hiển nhiên, dự án nầy là kết quả của việc Hà Nội đã ký thuận bản hiệp ước biên giới vào cuối năm 1999. Điều đáng chú ý là đường mòn HCM thời chiến chỉ bắt đầu từ Nghệ An, mạn Bắc của rặng Trường Sơn, nhưng dự án xây xa lộ lại bắt đầu từ tỉnh Lai Châu, tỉnh cực tây bắc tiếp giáp với Lào và TQ. Dự án xa lộ chạy qua miệt tây rặng Hoàng Liên Sơn, qua phía đông Điện Biên Phủ, xuống Sơn La, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tỉnh, Quảng Bình ? vào tận An Lộc, nhập vào quốc lộ 1 Tây Ninh. Như vậy, việc chuyên chở từ biên giới cực bắc vào nam sẽ ngắn hơn và thuận tiện hơn quốc lộ 1. từ đó, người ta có thể suy ra viễn ảnh bán đảo Đông Dương có thể bị TQ thôn tính dễ dàng.

Nguyễn Đình Sài, Kỹ sư công chánh

Tân Hoa Xã nói gì về chuyến thăm chính thức Hoa Kỳ của Tổng bí thư?


(GDVN) - Sự thay đổi mà Tân Hoa Xã gọi là "đầy kịch tính" từ quan hệ thù địch không đội trời chung sang đối tác hợp tác toàn diện có thể xem như "phong vâ biến đổi...

Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng tiếp Ngoại trưởng Mỹ John Kerry. Ảnh: Tân Hoa Xã.

Tân Hoa Xã ngày 29/6 đưa tin, năm nay tròn 40 năm kết thúc Chiến tranh Việt Nam, cũng vừa đến dịp kỷ niệm 20 năm bình thường hóa quan hệ Việt - Mỹ. Một trong những hoạt động trọng điểm đánh dấu năm kỷ niệm này là 2 nước Việt Nam và Hoa Kỳ đang tích cực chuẩn bị cho chuyến công du nước Mỹ của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng và đoàn lãnh đạo cấp cao Việt Nam. Đồng thời hai bên cũng xúc tiến để cuối năm nay Tổng thống Mỹ Barack Obama có thể thăm chính thức Việt Nam.

Diễn biến của quan hệ Việt Mỹ hơn 60 năm qua, từ năm 1954 đến nay theo Tân Hoa Xã có thể dùng điển tích "bãi biển biến thành nương dâu" để nói lên mức độ thay đổi to lớn. Nói cách khác, hãng truyền thông nhà nước Trung Quốc bình luận rằng quan hệ Việt - Mỹ đã thay đổi từ chỗ "chiến tranh nóng" sang "chiến tranh lạnh" và bây giờ là bắt tay hợp tác.

Sự thay đổi mà Tân Hoa Xã gọi là "đầy kịch tính" từ quan hệ thù địch không đội trời chung sang đối tác hợp tác toàn diện có thể xem như "phong vân biến đổi khôn lường".

Điều này một lần nữa minh chứng cho phát biểu của Thủ tướng Anh Churchill rằng, không có bè bạn mãi mãi, cũng không có kẻ thù vĩnh cửu, chỉ có lợi ích là vĩnh hằng, Tân Hoa Xã bình luận.

Hãng thông tấn nhà nước Trung Quốc cho biết, hiện tại lịch trình cũng như hoạt động chi tiết chuyến thăm chính thức Hoa Kỳ của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng chưa được công bố, nhưng truyền thông Mỹ - Việt đã bắt đầu "đồn đoán", quan chức 2 nước cũng liên tục lên tiếng với những lời lẽ ngọt ngào.

Tân Hoa Xã cho rằng những tiếng nói từ phía Mỹ đang rất dễ nghe, nhưng về cơ bản truyền thông nhà nước Việt Nam vẫn tỏ ra khá "bình tĩnh, nắm chắc phương châm đã định". Các nhà quan sát Tân Hoa Xã cho là nghiêm túc thì nhận định, chuyến thăm Mỹ của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng nếu thành công sẽ có ý nghĩa lịch sử và mang tính biểu tượng.

Đầu tiên Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đường hoàng thăm chính thức nước Mỹ với vai trò lãnh đạo cao nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam là điều "chưa từng có trong lịch sử Việt Nam", nên ý nghĩa chuyến thăm vô cùng to lớn, Tân Hoa Xã bình luận.

Thứ hai, việc Nhà Trắng chính thức mời một nhà lãnh đạo cao nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam sang thăm chính thức Hoa Kỳ cũng là việc chưa từng có. Tân Hoa Xã lưu ý, phía Hoa Kỳ sẽ đón tiếp Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng ở cấp độ nào, lễ nghi nào sẽ là những điểm nhấn đáng chú ý.

Ông đã từng công du nhiều nước châu Á, châu Âu với cương vị Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam và được các nước này đón tiếp với nghi thức cao nhất dành cho nguyên thủ quốc gia, lần này Mỹ có làm như vậy hay không, có làm "mát mặt Việt Nam" hay không, Tân Hoa Xã đặt câu hỏi.

Hợp tác giữa bất kỳ quốc gia nào với nhau cũng đều dựa trên lợi ích chung, đồng thời nỗ lực tối đa hóa lợi ích của quốc gia mình. Và giữa các quốc gia đều có những khác biệt, hai bên đều sẽ giữ giới hạn của mình, Việt Nam và Hoa Kỳ cũng như vậy.

Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng tiếp Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Ash Carter. Ảnh: Tân Hoa Xã.

Lợi ích chung của Việt nam và Mỹ theo Tân Hoa Xã là khá nổi bật và dễ thấy. Trên nền tảng đó 20 năm qua quan hệ Việt - Mỹ đã tiến được một chặng đường dài. Trong mối quan hệ phức tạp giữa Việt Nam và Mỹ, hợp tác là một mặt rất quan trọng, nhưng đấu tranh cũng là một mặt không thể xem nhẹ, hãng thông tấn nhà nước Trung Quốc bình luận.

Những năm gần đây Mỹ đã tăng cường giao lưu với đối tác mới là Việt Nam. Mức độ hợp tác song phương Việt - Mỹ bị Tân Hoa Xã gọi là "mức độ lôi kéo Việt Nam", đây là một mắt xích trong chiến lược tái cân bằng của Mỹ ở châu Á. Tuy nhiên hãng thông tấn nhà nước  Trung Quốc cho rằng mức độ "gây áp lực, thúc đẩy biến đổi" của Mỹ đối với Việt Nam cũng chưa hề buông lơi, thậm chí hiệu quả không phải tầm thường?! 

Chủ trương đối ngoại nhất quán của Việt Nam là độc lập tự chủ, đa phương hóa đa dạng hóa các quan hệ quốc tế, chính sách quốc phòng Việt Nam duy trì là 3 không: Không tham gia liên minh quân sự, không cho nước nào lập căn cứ quân sự trên lãnh thổ của mình, không dựa vào nước này chống lại nước kia.

Tân Hoa Xã bình luận: "Nếu không biết được quốc sách cơ bản của Việt nam thì sẽ dễ bị truyền thông như bong bóng xà phòng mê hoặc, dễ dẫn đến phán đoán sai lầm, hiểu lầm mang tính biểu tượng trong một số vấn đề cụ thể."

Tân Hoa Xã cho rằng, trong cái hãng tin này gọi là trò tung tin của truyền thông xung quanh quan hệ Việt - Mỹ, thường bắt gặp logic đơn giản và nông cạn rằng "Việt Nam ngả theo Mỹ đối phó với Trung Quốc" hoặc "Mỹ lôi kéo Việt Nam kiềm chế Trung Quốc". Tuy nhiên, cái "logic đơn giản và nông cạn" ấy lại xuất hiện hàng ngày trên báo chí nhà nước Trung Quốc chứ không phải Mỹ hay Việt Nam - PV.

Tân Hoa Xã kết luận rằng, trong thế giới ngày nay bất kỳ mối quan hệ song phương quan trọng nào đều có thể ảnh hưởng đến các quốc gia liên quan, vấn đề là ít hay nhiều, nhỏ hay lớn mà thôi. Báo chí Việt Nam quan tâm đến sự thay đổi trong quan hệ Trung - Mỹ, thì báo chí Trung Quốc cũng "mẫn cảm"  với sự phát triển, thay đổi của quan hệ Việt - Mỹ. Hồng Thủy

Thiên hạ đã biết Đảng CSVN là do CS Tàu nó đẻ ra để phục vụ nó trong cuộc xâm lăng Đông Dương ba phần tư thế kỷ nay. Thế mà quân đội nhân dân đã bị chúng bưng bít cho đến nay, chỉ một số nhỏ mới biết. 

3 triệu bộ đội sanh Bắc tử Nam như con thiên thân.  Mấy chục ngàn bộ đội bị nướng bên Kampuchia, mấy chục ngàn bộ đội bị nướng ở biên giới Việt-Tàu cũng chỉ là để bảo vệ cái Đảng do Tàu nó đẻ ra.  Để giờ này chúng đem đất nước chúng dâng cho Tàu. 

Đau lắm chứ !  Nhục lắm chứ ! 

http://www.youtube.com/watch?v=djxGSBQ-7l0



Phỏng vấn Trung Tá Trần anh Kim ở Thái Bình 

Tôi là một sĩ quan đã từng chỉ huy chiến đấu đánh quân Trung quốc xâm lược, và tôi có thể nói rằng nếu không có tiểu đoàn của tôi chận đứng các trung đoàn của địch thì nó đã thực hiện mưu đồ xâm lược của chúng rồi. 

-        Chúng tôi thường nói là Mỹ nó xâm lược VN, nhưng không phải. Chính Tàu mới là xâm lược. Ông Nga chỉ là miệng hùm gan sứa thôi. Ổng chẳng ủng hộ gì, vũ khí toàn sản xuất từ năm 39 đến 42. 
-        Năm 1988 hạm đội Nga nằm ở Cam ranh, Tàu nó đánh Trường Sa, ông Nga 
không dám làm gì cả. 
-        Nếu như tôi, tôi thà thân Mỹ. Tôi coi các chiến sĩ VNCH giữ Hoàng sa 
đều là những anh hùng dân tộc VN cả.  Họ anh hùng hơn cả Quân đội Nhân dân VN. Họ có khả năng và can đảm gìn giữ Hoàng sa. 
-        Chúng tôi nhục lắm vì không giữ được Trường sa. 
-        Mục đích chúng tôi chiến đấu là để bảo vệ nhân dân, chứ không phải 
bảo vệ Đảng. 
-        Tôi vẫn tôn vinh các anh chiến sĩ VNCH năm 1974 giữ đảo Hoàng sa/ 
Trường sa. Chúng tôi vẫn coi các anh là anh hùng. Chúng tôi vẫn khâm phục các anh ấy. Chỉ có một cái lực lượng nhỏ như vậy mà dám chống đối lực lượng to lớn của Tàu. Trong khi chính cái Đảng CSVN đem bán cái đó cho Tàu. Đau lắm! Sau này chúng tôi mới biết, chứ lúc đó chúng bưng bít lắm anh ạ. Lúc đó chúng tôi không biết đâu. 
-        Cái Đảng CSVN này, cái Nhà Nước VN này nó hèn nhát. Nó bán đảo cho Tàu, nó bán biên giới cho Tàu, nó bán biển cho Tàu. Thế là coi như bán nước rồi. 
-        Trong lịch sử dân tộc VN, trong các triều đại, chưa có triều đại nào 
khốn nạn như cái triều đại CSVN.  Ngày xưa ông cha ta chưa có bao giờ nhường cho nó một tấc đất. 
-        Thế mà khi Tàu nó chiếm đảo, chiếm biển như thế Đảng cấm không cho nhân dân, sinh viên chống đối, chống Tàu.  Đảng lại cho cái lực lượng để đàn áp người ta. Người ta chống Tàu, chứ người ta có chống Đảng đâu? 
-        Tại sao lại cấm? Thế là đã lộ trân cái bộ mặt của cái chế độ CSVN này đã thân Tàu rồi. 
-        Nông Đức Mạnh đã thành Lê Chiêu Thống rồi. 

Chúng ta đã và đang hy sinh để phục vụ Đảng mà Đảng đây là cái Đảng phục vụ cho Trung Quốc chứ không phải cho Việt Nam. 

VN đánh Mỹ là đánh cho Trung Quốc,Liên Xô ( Lê Duẩn ...

www.youtube.com/watch?v=clCeXPRhTaA
Oct 30, 2012 - Uploaded by MrLecongnhan
VN đánh Mỹ là đánh cho Trung Quốc,Liên Xô ( Lê Duẩn ).wmv .... Thôi lãnh đạo cha ông của chúng ta đã sai và nhận ra mình 


Trung Quốc do thám phi pháp Việt Nam trên Biển Đông suốt 6 năm qua

)

(GDVN) - Đội Chim ưng biển do Trung Quốc lập ra chủ yếu nhằm do thám, thu thập thông tin về hoạt động của các giàn khoan dầu Việt Nam trên Biển Đông.

Hình minh họa.

South China Morning Post ngày 30/6 đưa tin, hải quân Trung Quốc đã điều máy bay do thám (bất hợp pháp) hoạt động của các giàn khoan, tàu thuyền Việt Nam trên Biển Đông ít nhất 5 đến 6 năm qua. Thông tin này được chính tuần san Liêu Vọng, một phụ bản của Tân Hoa Xã số mới nhất công bố.

Lực lượng do thám thuộc biên chế hạm đội Bắc Hải sử dụng máy bay do thám Y-8 để xâm nhập (bất hợp pháp). Tuy nhiên, các phi công điều khiển Y-8 do thám Biển Đông vốn là phi công lái máy bay chiến đấu và chỉ được huấn luyện từ 3 đến 6 tháng trước khi được tung xuống Biển Đông. Đinh Gia Hòa, một viên Thượng tá, phi công tham gia do thám nói với Liêu Vọng rằng, hoạt động huấn luyện bay quá ngắn do "nhiệm vụ cấp bách".

Liêu Vọng cho biết các phi công tham gia bay do thám Biển Đông đều trải qua 6 tháng thực hiện các nhiệm vụ khác nhau mỗi năm, hoạt động bay do thám kéo dài 7 đến 8 giờ trong mỗi thời điểm. Đội do thám (bất hợp pháp) của Trung Quốc được đặt tên là Chim ưng biển là lực lượng chức năng duy nhất của Bắc Kinh có khả năng hoạt động cảnh báo sớm phòng không, chỉ huy và kiểm soát, truyền dữ liệu chiến thuật và chỉ thị mục tiêu từ xa, Liêu Vọng viết.

Đội Chim ưng biển do Trung Quốc lập ra chủ yếu nhằm do thám, thu thập thông tin về hoạt động của các giàn khoan dầu Việt Nam trên Biển Đông cũng như một số nước có yêu sách khác. Lực lượng do thám này cũng theo dõi hoạt động của tàu chiến nước ngoài trên Biển Đông.

Nhà quan sát quân sự Hồng Kông Leung Kwok-Leung bình luận, đây là lần đầu tiên truyền thông nhà nước Trung Quốc công bố chi tiết về những phát triển và hoạt động gần đây của lực lượng do thám đa năng của họ. Yang Zhiliang, Phó Chính ủy của lực lượng do thám này nói rằng đội Chim ưng biển được thành lập từ cuối những năm 1980, nhưng chỉ mới được phát triển mạnh mẽ sau khi Bắc Kinh đặt ra mục tiêu biến Trung Quốc thành cường quốc biển.

Tuy nhiên một số nhà phân tích quân sự lo ngại tai nạn có thể xảy ra khi lực lượng phi công do thám Trung Quốc được huấn luyện bay quá ít, trong khi hoạt động bay ở Biển Đông rất khó khăn và phức tạp. Mặt khác nguy cơ va chạm, đối đầu với máy bay quân sự các nước khác ở Biển Đông cũng rất cao.

Hồng Thủ
Bộ Quốc Phòng Mỹ tin rằng TQ sẽ đánh VN

. Mộng bành trướng vươn ra biển lớn 
Đây là một chính sách, một chiến lược nhất quán, khó có thể thay đổi của Trung quốc, là phải bằng mọi giá phải chiếm và làm chủ phần lớn khu vực biển đông. Vì đây là con đường huyết mạch, giao thương chính của các cường quốc Chấu Á (Nhật Bản, Singapore và Nam Hàn) và thế giới. Một khi làm chủ, khống chế được khu vực này, thì Trung quốc xem như đã khống chế được cả khu vực Châu Á và tuyến đường hàng hải quan trọng của Thế giới. Giở lại những trang lịch sử thế giới cho thấy, Trung Quốc luôn luôn có tham vọng xâm chiếm lảnh thổ của các nước khác trong khu vực có lảnh thổ, đường biên giới giáp ranh với Trung Quốc. Đặc biệt Việt Nam là một quốc gia đã từng bị Trung Quốc xâm chiếm và cai trị cả hàng ngàn năm về trước, qua nhiều các triều đại phong kiến trước đây. Qua trải nghiệm của lịch sử, mỗi khi đất nước Trung Quốc có sự hưng thịnh, phát triển vế quân sự, kinh tế và khi có đủ sức mạnh, có đủ tự tin để tiến hành cuộc xâm lăng là họ sẽ ra tay tấn công các nước láng giềng. Trên thực tế, từ ngàn xưa cho tới nay, Trung quốc chưa bao giờ là người láng giềng hoà bình đối với các nước láng giềng xung quanh. Trung cộng chỉ hòa bình với các nước láng giềng, khi nội lực đất nước của họ có vấn đề v à họ không đủ sức để thực hiện mộng bá quyền.

2. Tại sao lại rơi vào thời điểm này?
Trước khi quyết định đặt giàn khoan HD981 Trung quốc chắc chắn đã tính toán rất kỹ lưởng. Vì ở vào giai đoạn này, Trung quốc được cho là hưng thịnh nhất, cả về quân sự lẫn kinh tế và theo các giới phân tích cho biết, nếu như một chọi một (One o­n o­ne conflict) mà Việt Nam không có sự giúp đỡ, tiếp sức của một cường quốc khác, thì Trung Quốc sẽ đánh bại quân đội Việt Nam trong vòng 2 tuần, cả trên biển lẩn trên đất liền. Ở vào thời điểm hiện tại Việt Nam đang bơ vơ, không có một đồng minh quân sự, không một hiệp ước để bảo vệ lãnh thổ như các nước khác đang làm như Nhật, Nam Hàn hay Philippines. Vậy đây là một cơ hội tốt để cho Trung Quốc “nuốt chửng và tấn công Việt Nam.” Một phần Trung Quốc muốn dùng Việt Nam để làm thí nghiệm sức mạnh quân sự của mình. Ở cuộc chiến này, nhiều phần Trung Quốc sẽ đưa ra các khí tài, các vũ khí tối tân nhất của mình ra sử dụng (Hoa Kỳ tin rằng TQ sẽ không dám sử dụng đến bom hạt nhân), không phải vì vũ khí của Việt Nam hiện đại, hay quân đội Việt Nam chiến đấu anh hùng. Nhưng Trung Quốc muốn răn đe, phô trương các cơ bắp của mình với các nước khác trong khu vực, có nước có hiệp ước phòng thủ với Hoa Kỳ như Philippines hay Nhật Bản. Một phần khác, Trung Quốc muốn đo lường mức độ phản ứng của Hoa Kỳ và các giới cường quốc phương Tây như thế nào đối với vấn đề biển đông. Vì thế Việt Nam sẽ là con mồi tế thần đầu tiên mà Trung quốc sẽ thưc hiện cho những tham vọng bành trướng của mình, cho dù giới lãnh đạo chóp bu đảng CSVN hay quân đội có giơ tay đầu hàng thì Trung quốc cũng vẫn sẽ nổ súng và những thứ vũ khí hiện đại nói trên vẩn sẽ được đưa ra sử dụng trong cuộc chiến, chỉ là số lượng sẽ nhiều hơn khi Việt Nam cương quyết chống cự, và ít đi nếu như Việt Nam tuyên bố đầu hàng sớm.
Giới phân tích tình hình cũng đặt ra câu hỏi ngược lại là, nếu như Trung quốc không ra tay trong lúc này, thì Trung quốc sẽ phải đợi đến thời điểm nào? Vì như đã nói ở lý do trên là vươn ra biển lớn (khống chế biển đông là một chính sách lớn không đổi của Trung quốc).
Câu trả lời là, nếu như Trung quốc đợi thêm vài năm tới, có lẻ Trung quốc sẽ không còn cơ hội nào khác nữa (phải nói rằng rất khó). Thứ nhất, quân đội Việt Nam sẽ ngày càng gia tăng và trau dồi huấn luyện, cũng như sở hữu thêm các loại vũ khí hiện đại, qua các hợp đồng mua bán vũ khí từ Nga (các Tàu Kilo) các loại hoả tiển đất đối không, đất đối biển, các loại vũ khí diệt tàu ngầm và chiếm hạm, mà các loại vũ khí này là những vũ khí tiên tiến không thua Trung quốc là mấy và sẽ gây ra những hậu qủa tổn thất khó lường cho quân Trung Quốc. Cuộc chiến trên bộ năm 1979 là một bài học nhớ đời cho giới lãnh đạo Trung quốc vì đã không tính toán được mức độ phản kháng và sự tinh nhuệ của quân đội Việt Nam. Trong vài năm tới nữa, biết đâu Việt Nam sẽ tìm ra được lối thoát về chính trị (đa đảng), cũng như nhận được sự thoả hiệp của Hoa Kỳ và từ đó dẫn đến một liên minh quân sự với Hoa Kỳ như Nhật và Philippines đang có. Và tới lúc đó mộng bành trướng vươn ra biển lớn của Trung quốc sẽ khó khăn vô cùng, nếu không muốn nói là vô phương,không còn cơ hội. Vì lúc đó Trung quốc không những phải trực tiếp đối đầu vơí Hoa Kỳ mà còn là các đồng minh của Hoa Kỳ ở Châu Á nữa.
Kế đến, Hoa Kỳ và các cường quốc Phương Tây đang bận rộn đối phó với Puttin qua cuộc khủng hoảng chính trị ở Ukraine và vùng Trung Đông (Syria), Afghanistan và Iraq cho nên Hoa Kỳ sẽ không có đủ sức để có hành động can thiệp quân sự mạnh bạo nào (nếu có) vào biển đông. Thêm vào đó Putin lúc này rất đang cần sự liên minh với Trung quốc để đối phó với Hoa Kỳ và khối Nato trong vấn đề Ukraine. Cho nên Nga sẽ bằng mọi cách ủng hộ, lấy lòng và thậm chí sẽ liên minh với Trung quốc trong vấn đề biển đông. Đây là cơ hội có một không hai mà Tập Cận Bình đã thấy được, cho nên hắn sẽ không bao giờ bỏ qua.

3. Giới lãnh đạo chóp bu của đảng CSVN và các tướng lãnh bị Trung Quốc mua chuộc
Hầu hết dân chúng Việt Nam đều biết, tất cả các quan chức đảng viên chop bu trong đảng CSVN đều dựa vào Trung quốc, để được giữ ghế, được chức vị, đươc tham nhũng. Phải nói chính xác rằng hiện nay tất cả các chức vị quan trọng trong đảng CSVN đều do bàn tay Trung Quốc đưa lên hay thao túng. Những khuôn mặt điển hình nhất phải kể đến là Nguyễn Phú Trọng, Trương Tấn Sang, Phùng Quang Thanh, Nguyễn Chí Vịnh, Trần Đại Quang, Hoàng Trung Hải, Nguyễn Thiện Nhân, Đinh Thế Huynh… Về phần các tướng lảnh quân đội, các cấp chỉ huy, các chính ủy từ Quân Đoàn, Sư Đoàn, đều do bàn tay Trung Quốc đào tạo và mua chuộc. Người dân Việt Nam đã nhiều lần được kiểm chứng những sự việc này qua các chuyến viếng thăm, đào tạo của các vị này tại Trung quốc, qua những phát biểu trên báo chí, mà ngay chính các tờ báo đảng ở trong nước đã đưa tin. Vậy khi cuộc chiến xảy, chính những tên tướng này sẽ quay lại trở cờ, họ sẽ trở thành một tập đoàn tay sai bán nước cho Trung cộng, sẽ mật báo, bán tin cho quân Trung cộng, như đã từng làm ở cuộc chiến “Núi Lão Sơn”, và kết qủa là hơn 4000 quân lính Việt Nam bị bán đứng, bị chết thảm. Sau đó xác của các binh lính bị vùi tập thể và bị thiêu đốt,không một nấm mồ. Cuộc chiến ở Trường Sa năm 1988 là một ví dụ điển hình khác, khi đó hải quân Việt Nam bị khóa tay, không được bắn trả vì lệnh trên của TW đảng, và vô hình chung hải quân Việt Nam bị biến thành những bia tập bắn cho bọn lính Trung cộng, mà cho tới ngày hôm nay giới lãnh đạo chóp bu của đảng CSVN vẫn không dám nhắc đến, không dám tưởng niệm.
Hiện nay, nếu chiến tranh xảy ra thì Trung quốc chỉ cần lo đối phó với sự phản kháng của các cấp chỉ huy ở cấp tiểu đoàn, hoặc Trung Đoàn là cùng, các cấp chỉ huy cấp tá đổ xuống. Vì các cấp này không đủ lớn để Trung Quốc mua chuộc. Nhưng các cấp này sẽ bị các tên tướng tay sai thao túng và mua chuộc, hoặc bị buộc phải buông súng đầu hàng sau những loạt đạn phàn kháng đầu tiên.
 

4. Giới lãnh đạo CSVN không đươc Lòng Dân 
Với chế độ độc tài toàn trị của đảng CSVN, giới lãnh đạo chóp bu của CSVN đã thừa biết, họ không được lòng dân. Ở thời điểm bùng nổ và phát triển của Internet toàn cầu, tất cả những yếu kém, những bê bối, tham nhũng của giới lãnh đạo CSVN đã và đang lần lượt được phơi bày ra ánh sáng, truớc mắt người dân. Càng ngày người dân càng tỏ ra không phục và chống đối lại đảng CS, điển hình nhất là những cuôc xuống đuờng của dân oan, phản đối những hành động cướp đất của chính quyền. Các cuộc biểu tình chống Trung quốc mổi khi có tin nóng như ngư dân Việt Nam bị Trung quốc đánh đập đòi tiền chuộc. Những cuộc biểu tình của những nhà yêu nước lên án, phản kháng lại những nhượng bộ, những hành động cuối đầu hèn hạ của các giới chức chóp bu trong đảng CS đã nhượng bộ với Trung Quốc trong vấn đề đất đai lảnh thổ và chủ quyền. Thêm vào đó, những nhu cầu đòi hỏi của người dân về sự phân minh của luật pháp,về những cải tố yếu kém của đất nước, như nạn tham nhũng hoành hành trở thành quốc nạn, sự xuống cấp suy đồi về đạo đức, sự lạc hậu và xảo trá của những kẻ rao giảng CNCS Mác-Lênin và những tệ nạn của xã hội trực tiếp, do sự lãnh đạo yếu kém và độc tài của đảng CS gây ra. Và những yêu cầu này đã không được đáp ứng giải quyết, dẩn đến người dân đòi hỏi phải có một thể chế minh bạch và dân chủ hơn, mà những đòi hỏi này đám chóp bu CS đểu xem là những tử huyệt đối với sự cai trị của đảng. Nếu như một khi chiến tranh xảy ra thì chắn chắn, trong nội bộ và trong đất nước sẽ có loạn và vô hình chung sẽ đẩy Việt Nam vào cuộc khủng hoảng cả trong lẫn ngoài. Đây là một lý do nữa mà Trung cộng đã nghĩ tới và chúng xem là một cơ hội thuận lợi để tấn công Việt Nam.
Khi đọc những dòng phân tích này, người viết đã bàng hoàng và dàn dụa nước mắt, khóc cho quê hương, cho dân tộc Việt Nam sẽ tang thương trong những ngày tháng sắp tới. Anh em chúng tôi đã ngồi xuống bàn bạc và cùng nhau đưa ra những giải pháp để hòng có thể làm một chút gì cho đất nước, chúng tôi mong rằng những người lãnh đạo chóp bu trong đảng CSVN hiện nay, nếu còn một chút lòng yêu tổ quốc và dân tộc thì xin hãy xem lại những đề nghị của chúng tôi như sau:
 
Thứ nhất: phải nhanh chóng trừ khử những bọn tay sai bán nước cho Trung cộng
. Một đất nước mà trong đó đầy dãy những căn bệnh ung thư, đầy dãy những sâu mọt, thì làm sao có thể đối phó với kẻ thù từ bên ngoài, vốn dĩ mạnh hơn ta gấp nhiều lần. Và nếu như làm, thì phải nhanh chóng làm ngay từ bây giở, trước khi, bọn Trung cộng khai chiến, kẻo sẽ qúa muộn. Nói tới vấn đề thanh trừng, trừ khử bọn tay sai bán nước, khi chúng còn đang tại chức, tại quyền qủa là chuyện không phải dể dàng, và cũng không có mấy người có thể làm được. Nhìn lại hàng ngũ chóp bu trong đảng CSVN hiện nay, ta có thể thấy được con số không qúa 3 người có thể làm được việc này. Nhưng ai trong số 3 người này vẫn còn có lòng yêu nước và dám làm chuyện lớn thỉ chúng ta không thể đoán được. Nhưng nếu làm thì các bước có thể nên thực hiện như sau:
Thứ Hai: Bí mật hợp tác với quân đội – nhớ kỹ chỉ nên hợp tác với các cấp tiểu đoàn hay trung đoàn mà thôi (cấp tá mà thôi). Như đã đề cập ở trên, các cấp tá hiện nay nhiều người chưa bị nhúng chàm với bọn Trung cộng, vì chưa đủ lớn. Tất cả các tướng lãnh trong quân đội hiên nay hầu hết, đều là tay sai của Trung cộng và không đáng tin cậy.
Thứ Ba: Dựa vào sức Dân – hãy bí mật kêu gọi sự hợp tác, ủng hộ của những người yêu nước, những người từng bị tù ra khám, bị đánh đập vì biểu tình yêu nước. Những lớp người này có sức mạnh lôi kéo được số lượng đông đảo quần chúng tham gia. Đặc biệt lớp người này là lớp người yêu nước thật sự (không thể giả được). Lực lượng này cộng với sự góp sức đông đảo của quần chúng sẽ dể dàng khống chế tất cả các tên tay sai bán nước.
Thứ Tư: Không dựa vào bọn côn an – như đã thấy bọn côn an chỉ là bọn kiêu binh của đảng CS và là kẻ trực tiếp gây ra biết bao nợ máu với người dân, với những người yêu nước. Bọn này không đáng tin cậy và sẻ trở cờ như trở bàn tay.
Thứ Năm: Khi thời cơ đến thì phải mau chóng kêu gọi giới quân đội và những người yêu nước làm một cuộc đảo chính, lật đổ bắt giam hết tất cả những tên bán nước trong Trung Ương đảng. Trong trường hợp gặp phải sự phản kháng của bọn tay sai bán nước, chúng ta sẽ kêu gọi sự giúp đở của chính phủ Hoa Kỳ gởi quân can thiệp (nếu cần sự giúp đỡ của chúng tôi thì xin hãy lên tiếng) chúng tôi hứa là sẽ làm hết sức mình với trái tim và mạng sống của chính mình.
Thứ Sáu: Mau chóng tuyên bố giải tán đảng CS và tuyên bố đa đảng trên các đài truyền hình, đài phát thanh và kêu gọi sự ủng hộ của thế giới (đặc biệt là Hoa Kỳ), giúp Việt Nam ổn định trật tự. Một khi có sự hổ trợ của quân đội Hoa Kỳ, có mặt ở Việt Nam thì giấc mơ bành trướng, xâm chiếm biển đông và cái đường lưi bò của Trung cộng sẽ tự dưng biến mất.
Xin được nhắc lại rằng, thời gian rất gấp rút và Việt Nam phải nên thực hiện các bước đi đã nêu trong phạm vi mùa hè này, trước khi bọn Trung cộng khai chiến, nếu không sẽ không kịp và Việt Nam có lẻ sẽ bị xoá sổ, bị Trung cộng cai trị đồng hóa như Tây Tạng, nếu như chiến tranh xảy ra.

Mike Nguyễn

30-4-1975: THẮNG CUỘC HAY TỘI ĐỒ?

 

Trần Gia Phụng

 

Chiến tranh Việt Nam kết thúc ngày 30-4-1975.  Cho đến nay, cộng sản Việt Nam (CSVN) thường tự hào họ là bên thắng cuộc.  Nhân mùa Quốc hận năm nay, có lẽ nên thử trở lại vấn đề ai là bên thắng cuộc trong cuộc chiến 1960-1975?

 

1.-   THẾ NÀO LÀ BÊN THẮNG CUỘC?

 

Trước hết cần phải xác định thế nào là thắng cuộc thì mới có thể biết bên nào thắng cuộc?  Thông thường, bên thắng cuộc là bên thực hiện được mục đích do chính bản thân đặt ra trước khi tham chiến.

 

Những bên tham chiến vừa qua là:  Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) hay Bắc Việt Nam (BVN),  Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam (MTDTGPMN), Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) hay Nam Việt Nam (NVN).  Ngoài ra, phía BVN có Liên Xô và Trung Quốc viện trợ và gởi quân làm cố vấn và bảo vệ BVN.  Phía NVN có Hoa Kỳ viện trợ và gởi quân tham chiến.

 

Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và MTDTGPMN tuy hai mà một, do đảng Lao Động (LĐ) điều khiển.  Tại Hà Nội, từ 5-9 đến 10-9-1960, diễn ra Đại hội đảng LĐ lần thứ III, được mệnh danh là "Đại hội xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thống nhất nước nhà", đưa ra hai mục tiêu lớn của đảng LĐ là xây dựng BVN tiến lên xã hội chủ nghĩa và “giải phóng hoàn toàn miền Nam...” (Lê Mậu Hãn chủ biên, Đại cương lịch sử Việt Nam, tập III, Hà Nội: Nxb Giáo Dục, 2001, tt. 154-155.)  Sau Đại hội nầy, đảng LĐ thành lập MTDTGPMNVN, ra mắt tại Hà Nội ngày 12-12-1960 và ra mắt tại xã Tân Lập, quận Châu Thành, tỉnh Tây Ninh (vùng chiến khu Dương Minh Châu) ngày 20-12-1960.

 

Trong chế độ dân chủ, quyền tuyên chiến, quyền quyết định chiến tranh, một vấn đề tối quan trọng, liên hệ đến vận mạng đất nước, thuộc về quốc hội, đại diện toàn dân quyết định.  Ở BVN, quyết định chiến tranh và tuyên chiến, lại do đảng LĐ quyết định, chứ không do quốc hội, chứng tỏ rõ ràng rằng đảng LĐ nắm quyền tuyệt đối ở BVN, và nhà cầm quyền Hà Nội chỉ là bù nhìn của đảng LĐ mà thôi.  Thế là BVN khởi binh đánh NVN.

 

Tuy viện cớ thống nhất đất nước, nhưng thực sự đảng LĐ quyết tâm đánh chiếm miền Nam vừa vì tham vọng bành trướng cố hữu của CS, vừa làm tay sai quốc tế cho Liên Xô và Trung Quốc. Lê Duẫn bí thư thứ nhất đảng LĐ, đã từng nói: “Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc.(Vũ Thư Hiên, Đêm giữa ban ngày, Nxb. Văn Nghệ, California, 1997, tr. 422 và tiết lộ của Nguyễn Mạnh Cầm, ngoại trưởng CSVN từ 1991 đến 2000, trong cuộc phỏng vấn của đài BBC ngày 24-1-2013.)

 

Liên Xô (LX) và Trung Quốc (TQ) đều mang đặc tính chung của các nước CS là luôn luôn chủ trương bành trướng, bá quyền.  Tại LX, ngày 15-10-1964, Leonid Brezhnev đảo chánh và lên làm thư ký thứ nhất đảng CSLX thay Nikita Khrushchev.  Brezhnev, tăng cường viện trợ BVN, gởi quân và chuyên viên sang giúp BVN.  Đây là khởi đầu chủ trương can thiệp mới của Liên Xô, mà về sau các nước Tây phương gọi là chủ thuyết Brezhnev, theo đó. “Nguyên lý Xô viết về luật quốc tế khẳng định quyền của Cộng đồng Cộng sản can thiệp bất cứ ở đâu mà các lực lượng nội tại và ngoại lai thù địch đối với chủ nghĩa cộng sản tìm cách biến đổi sự phát triển một nước theo chủ nghĩa xã hội hướng về chủ nghĩa tư bản, một tình thế được xem có tính cách đe dọa đối với tất cả các nước cộng sản.” (The New Lexicon Webster's Encyclopedic Dictionary of English Language, Nxb. Lexicon, New York, 1988, mục "Brezhnev Doctrine".)

 

Trung Quốc ở sát ngay phía bắc của Việt Nam.  Từ năm 1950, TQ giúp CSVN vừa vì sự cầu viện của CSVN và của Hồ Chí Minh, vừa vì lợi ích an ninh bản địa TQ.  Mao Trạch Đông đã từng nói: “Không thể chỉ nói Trung Quốc giúp Việt Nam, phải nói rằng Việt Nam cũng giúp Trung Quốc là sự giúp đỡ lẫn nhau.”(La Quý Ba, “Mẫu mực sáng ngời của chủ nghĩa quốc tế vô sản”, trong Ghi chép thực về việc đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc viện trợ Việt Nam chống Pháp, một nhóm tác giả, Bắc Kinh: Nxb Lịch sử đảng Cộng Sản Trung Quốc, 2002, Trần Hữu Nghĩa, Dương Danh Dy dịch. Montreal: Nxb. Tạp chí Truyền Thông (in lại), số 32 & 33, 2009, tr. 27.)

 

Thật vậy, từ năm 1956, mối bang giao TQ - LX rạn nứt.  Liên Xô bao vây TQ ở phía bắc và phía tây.  Phía tây nam, Ấn  Độ chận TQ.  Phía đông (biển Thái Bình) là hàng rào ba nước đồng minh của Hoa Kỳ và ký hiệp ước phòng thủ song phương với Hoa Kỳ là Nam Triều Tiên, Nhật Bản và Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan). Nếu để cho Hoa Kỳ bao vây luôn BVN, thì TQ bị chận hết các đường ra biển.  Vì vậy, TQ giúp BVN chẳng những do ý thức hệ CS và sự cầu viện của BVN, nhưng đồng thời cũng do TQ bị bao vây các mặt, trừ một phần phía nam TQ là BVN. 

 

Năm 1954, chính phủ Quốc Gia Việt Nam không đồng ý chia hai đất nước, nhưng nghiêm chỉnh thi hành hiệp định Genève (20-7-1954).  Thủ tướng Ngô Đình Diệm tuyên bố thành lập nền Cộng Hòa năm 1955.  Việt Nam Cộng Hòa theo chế độ tự do dân chủ, dầu hạn chế vì chiến tranh, duy trì nền văn hóa dân tộc cổ truyền, hệ thống giáo dục khai phóng, cởi mở, quyết tâm chiến đấu để bảo vệ nền tự do dân chủ ở NVN, chống lại cuộc xâm lăng của BVN.  Tuy nhiên, vì yếu sức, VNCH phải nhờ đến sự giúp đỡ của Hoa Kỳ.

 

Sau thế chiến thứ hai, từ năm 1946, trên thế giới bắt đầu xảy ra chiến tranh lạnh giữa hai khối tư bản và CS.  Hai khối tư bản và CS tranh chấp quyết liệt trên toàn cầu.  Tuy vậy Hoa Kỳ và Liên Xô tránh đụng độ trực tiếp vì cả hai đều thủ đắc võ khí nguyên tử, sợ chiến tranh nguyên tử xảy ra thì cả hai đều thiệt hại.  Tình trạng tranh chấp căng thẳng nhưng không đánh nhau nầy, gọi là chiến tranh lạnh.

 

Trong chiến tranh lạnh, Liên Xô và khối CS dùng chiêu bài giải phóng dân tộc để tuyên truyền và bành trướng thế lực.  Hoa Kỳ và khối tư bản cho rằng khi một nước bị CS chiếm quyền, thì các nước lân bang dần dần sẽ bị mất vào tay CS, nghĩa là một quân cờ domino sụp đổ, thì các quân cờ domino khác cũng sụp theo.   Đó là nguồn gốc thuyết domino tại các nước Tây phương, nhất là Hoa Kỳ. 

 

Vì vậy, khi TQ (ngày 18-1-1950) rồi LX (ngày 30-1-1950) thừa nhận nhà nước VNDCCH do Hồ Chí Minh làm chủ tịch, thì Hoa Kỳ (ngày 4-2-1950) và Anh (ngày 7-2-1950) thừa nhận chính phủ QGVN do Bảo Đại làm quốc trưởng.  Từ đó, Hoa Kỳ giúp Pháp và QGVN chống lại CSVN.

 

Sau hiệp định Genève, Việt Nam bị chia hai.  Để ngăn chận làn sóng CS ở Đông Á, nhất là ngăn chận Trung Quốc xuống phía nam, Hoa Kỳ vận động ký kết Hiệp ước Hỗ tương Phòng thủ Đông Nam Á (Southeast Asia Collective Defence Treaty) tại Manila, thủ đô Phi Luật Tân, ngày 8-9-1954.  Từ đó ra đời Tổ chức Liên phòng Đông Nam Á (Southeast Asia Treaty Organization, SEATO), gồm các nước Australia (Úc), France (Pháp), New Zealand (Tân Tây Lan) Pakistan (Hồi Quốc), Philippines (Phi Luật Tân), Thailand (Thái Lan), United Kingdom (Anh), và United States of America (Hoa Kỳ). 

 

Trong phụ bản (protocol) của hiệp ước SEATO, ba nước Cambodia (Cao Miên), Laos (Lào) và NVN được liệt kê trong vùng lãnh thổ được SEATO bảo vệ.  Hoa Kỳ dựa vào phụ bản nầy để minh chứng sự ủng hộ của họ đối với các chế độ chống cộng ở Đông Nam Á, và giúp xây dựng NVN thành một “tiền đồn chống cộng”.  Lúc đầu, Hoa Kỳ chỉ gởi cố vấn sang giúp NVN.  Từ năm 1965, Hoa Kỳ đưa quân trực tiếp tham chiến.

 

Tuy nhiên, vào cuối thập niên 60, tình hình thay đổi.  1) Giới phản chiến Hoa Kỳ hoạt động mạnh, yêu cầu chính phủ Hoa Kỳ rút quân khỏi Việt Nam. 2) Trong khối CS, cuộc tranh chấp LX-TQ càng ngày càng trầm trọng.  Chính phủ Hoa Kỳ liền thay đổi chính sách ngoại giao toàn cầu.  Khi lên cầm quyền năm 1969, tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon quyết định rút quân ra khỏi NVN bằng kế hoạch Việt Nam hóa chiến tranh nhằm yên lòng dân chúng Hoa Kỳ; đồng thời Nixon thay đổi chính sách ngoại giao đối với khối CS, hòa hoãn với Trung Quốc và Liên Xô, đào sâu sự chia rẽ giữa LX và TQ.

 

Richard Nixon sang thăm TQ từ 21-2 đến 28-2-1972, và ký kết với thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai  bản Thông cáo chung Thượng Hải (Shanghai) ngày 28-2-1972, làm nền tảng cho chính sách của cả hai bên về Đông Á cho đến ngày nay.  Tiếp theo, Richard Nixon thăm Liên Xô từ 22 đến 30-5-1972, cùng Leonid Brezhnev ký kết hiệp ước SALT (Strategic Arms Limitation Treaty = Hiệp ước giới hạn võ khí chiến lược) ngày 26-5-1972, và hứa hẹn sẽ cho Liên Xô quy chế tối huệ quốc (most favored nation).

 

Sau hai cuộc viếng thăm nầy, Hoa Kỳ ký hiệp định Paris ngày 27-1-1973, đơn phương rút quân khỏi Việt Nam.  Quốc hội Hoa Kỳ giảm viện trợ cho VNCH.  Quân đội VNCH thiếu nhiên liệu, thiếu phương tiện chiến đấu, đành buông súng; VNCH sụp đổ ngày 30-4-1975.

 

2.-   AI LÀ BÊN THẮNG CUỘC

 

Dựa trên mục đích của các bên tham chiến và diễn tiến tình hình chiến tranh Việt Nam được sơ lược trên đây, vấn đề đặt ra là ai là bên thắng cuộc trong cuộc chiến 1960-1975?

 

Trước hết và rõ ràng nhất, sau cuộc chiến vừa qua, người CS thường huyênh hoang tự hào là họ là kẻ thắng cuộc.  Quả thật, ngày 30-4-1975, VNCH sụp đổ, VNDCCH chiếm được NVN, thực hiện mục tiêu “giải phóng” miền Nam đã được đề ra trong Đại hội III đảng LĐ ở Hà Nội từ ngày 5 đến ngày 10-9-1960.  Tuy nhiên, sau khi CS làm chủ toàn bộ đất nước, CS có thật sự là bên thắng cuộc hay không?

 

Ngay tức khắc, sau khi CS chiếm NVN, khoảng 150,000 người di tản ra nước ngoài.  Tiếp đến là phong trào vượt biên.  Dầu CS kiểm soát gắt gao, khoảng trên 1,500,000 bỏ nước ra đi bằng tất cả các phương tiện, “cây cột đèn cũng muốn ra đi”, trong đó khoảng 500,000 người bỏ mình ở biển Đông.  Biển Đông trở thành nghĩa địa biển lớn nhất thế giới.  Ở trong nước, nhiều phong trào nổi lên chống đối CS đều bị đàn áp.  Như thế, CS chiến thắng bằng súng ống, chiếm được đất đai, nhưng hoàn toàn thất bại về nhân tâm, không chiếm được lòng người, không thống nhất được lòng dân.

 

Những người ra đi bị ghép tội “phản động”, chạy theo bơ sữa “đế quốc Mỹ” năm 1975, sau đó bỗng chốc trở thành “khúc ruột ngàn dặm”, “Việt kiều yêu nước”.  Nhà nước CS kêu gọi hòa giải hòa hợp với “khúc ruột ngàn dặm”, nhưng chỉ có một nhóm người đếm được trên đầu ngón tay, tìm kiếm chút hư danh, về nước nói là “đóng góp xây dựng đất nước”, trong khi đại đa số người Việt hải ngoại chẳng có nhu cầu hòa giải hòa hợp với CS toàn trị.  Về Việt Nam du hí thì có, nhưng về Việt Nam để giúp chế độ CS thì không.  Như thế, CSVN có phải là “bên thắng cuộc” hay không?

 

Phải vay nợ súng ống thì mới có súng ống chiến đấu.  Cộng sả n Vay nợ LX và TQ.  Vay nợ thì phải trả nợ.  Sau năm 1975, CSVN trả nợ LX, giao hải cảng Cam Ranh cho LX và muốn chạy theo LX để xù nợ TQ, liền bị TQ dạy cho một bài học năm 1979, làm 6 tỉnh biên giới tan hoang. Năm 1990, khối Đông Âu sụp đổ, CSVN quay qua đầu phục TQ ở Thành Đô (TQ), đưa đến các hiệp ước 1999 và 2000, mất đất mất biển.  Sau đó còn nhiều chuyện tiếp theo, thuê rừng, khai thác bauxite, tấn công ngư dân...

 

Sau năm 1975, một điểm nổi bật là hầu hết người BVN, từ cán bộ, bộ đội, đến thường dân, khi vào Nam đều học theo cách sống của người Nam, chứ hầu như người Nam không học theo người Bắc.  Người Bắc (1975) thích ăn bận theo người Nam, đua đòi thời trang miền Nam, nghe nhạc Nam mà CS gọi là "nhạc vàng", đọc sách Nam, từ tiểu thuyết  trữ tình, tiểu thuyết kiếm hiệp đến văn chương, triết học, và làm tất cả các cách để thành người Nam.  Ngay cả những cán bộ cao cấp trong Bộ chính trị đảng LĐ (năm 1976 cải danh thành đảng CS) cũng từ bỏ bộ áo quần đại cán cao cổ để ăn bận Âu phục theo kiểu người Nam.  Chẳng những thế, hầu như toàn thề BVN cũng được Nam hóa, trang bị bằng sản phẩm của NVN, nghĩa là được đồng hóa theo NVN. Cho đến nay, CSVN muốn trở lại con đường của NVN, duy chỉ muốn bảo vệ quyền lực đảng CSVN. Ngang đây, cũng tạm đủ để cho thấy CSVN có phải là kẻ thắng cuộc hay không? 

 

Về phần VNCH, ngày 30-4-1975, quân đội VNCH bị thiếu tiếp liệu, súng ống, đành phải ngưng chiến đấu.  Chính phủ VNCH sụp đổ.  Cộng sản đặt ách thống trị lên NVN.  Tuy nhiên, dân chúng còn bị kẹt lại ở trong nước, vẫn quy hướng về chính thể VNCH, vẫn mong muốn hít thở không khí tự do dân chủ của VNCH, luôn luôn tưởng nhớ VNCH, nghĩa là linh hồn VNCH vẫn còn đó.  Vì bị đàn áp, dân chúng đành lặng thinh, nhưng ai ai cũng mong sẽ có ngày giải trừ CS, tái xây dựng chế độ Cộng hòa.  Vậy làm thế nào giải thích hiện tượng nầy?  Phải chăng VNCH chỉ tạm thời thất bại năm 1975 nhưng vẫn chưa bị tiêu diệt.  Anh linh VNCH còn đó.  Ai cũng tin sẽ có ngày VNCH phục sinh.  Thời gian sẽ trả lời.

 

Về các nước ngoài:  Hoa Kỳ mang tiếng là đã bị CSVN đánh cho “Mỹ cút”, nhưng thật sự Mỹ không cút, Mỹ cũng chẳng “tháo chạy” (như tựa đề quyển sách Khi đồng minh tháo chạy), mà phải nói cho thật đúng diễn tiến lịch sử là Mỹ tức Hoa Kỳ ngưng, không tiếp tục hiện diện ở Việt Nam vì thay đổi chiến lược toàn cầu của họ, và Hoa Kỳ đã thành công trong các mục tiêu chiến lược của họ:  Rút quân khỏi Việt Nam, giải quyết chuyện nội bộ Hoa Kỳ, bắt tay với Trung Quốc, và cuối cùng chiến thắng cuộc chiến tranh lạnh với LX khi LX sụp đổ năm 1991.  Riêng nội bộ Hoa Kỳ, nhân dân Hoa Kỳ mất gần 60,000 thanh niên ưu tú trong chiến tranh Việt Nam.  Đổi lại Hoa Kỳ thí nghiệm nhiều loại võ khí tối tân tại Việt Nam, kể cả những chuyến oanh kích thử nghiệm đầu tiên của B52.  Tư bản kỹ nghệ võ khí Hoa Kỳ thu lợi như thế nào thì không được thống kê đầy đủ.

 

Ngoài ra, một số đồng minh của Hoa Kỳ cũng hưởng lợi:  Nhật Bản phục hưng nhanh chóng nền kỹ nghệ sau thế thiến thứ hai nhờ cung cấp hàng tiêu dùng cho Việt Nam, nhất là cho quân nhân Hoa Kỳ phục vụ tại Việt Nam.  Thái Lan, Mã Lai, Phi Luật Tân nhờ VNCH làm lá chắn ngăn chận làn sóng CS và các nước nầy kịp phục hồi kinh tế và an ninh để chống lại sự bành trướng của TQ.

 

Trung Quốc thu lợi nhiều mặt.  Trước hết, thông qua chiến tranh Việt Nam, TQ bắt tay được với Mỹ năm 1972, được Mỹ thừa nhận chỉ có một nước TQ, công nhận Đài Loan là một phần lãnh thổ TQ, công nhận không kiếm cách làm chủ khu vực châu Á-Thái Bình Dương, và chống đối bất kỳ nước nào hay nhóm nước nào muốn làm bá chủ vùng nầy, ý ám chỉ Liên Xô.  Đó là những điều TQ mong muốn nhất.

 

Về biển Đông, Phạm Văn Đồng ký công hàm ngày 14-9-1958 thừa nhận Hoàng Sa và Trường Sa là của TQ để TQ viện trợ cho BVN đáng NVN.  Vì vậy năm 1974, nhân cơ hội VNCH bị Mỹ bỏ rơi, bị BVN tấn công dồn dập, TQ ra tay cướp đoạt Hoàng Sa thuộc lãnh thổ VNCH.  Sau năm 1975, khi CSVN chạy theo LX, muốn trốn nợ TQ.  Trung Quốc liền đánh 6 tỉnh biên giới năm 1979, dạy cho CSVN một bài học.  Vì vậy, khi Đông Âu lung lay, CSVN qua Thành Đô xin đầu hàng TQ năm 1990, đưa đến hai hiệp ước 1999 và 2000.  Trung Quốc chiếm đất, chiếm biển của Việt Nam.  Như vậy, tuy không được tiếng là bên thắng cuộc, nhưng TQ là kẻ thu hoạch nhiều nhất sau chiến tranh Việt Nam. 

 

Liên Xô viện trợ cho BVN không kém gì TQ.  Đầu năm 1975, viện trợ của LX cho BVN để BVN đánh NVN tăng gấp bốn lần so với trước. (Henry Kissinger, Years of Renewal, New York: Simon & Schuster, 1999, tr. 481.)  Sau năm 1975, Việt Nam gia nhập khối COMECON (Council for Mutual Economic Assistance tức Hội đồng Tương trợ Kinh tế) ngày 27-6-1978.  Ngày 3-11-1978, Lê Duẫn, tổng bí thư đảng CSVN, sang Liên Xô và ký với Leonid Brezhnev, tổng bí thư đảng CSLX, Hiệp ước Hai mươi lăm năm Hỗ tương và Phòng thủ giữa hai nước.  Từ sau hiệp ước nầy, hải quân Liên Xô bắt đầu tiến vào sử dụng hải cảng Cam Ranh làm căn cứ tại Viễn đông. 

 

Có hai ảnh hưởng gián tiếp đáng ghi nhận sau chiến tranh Việt Nam:  1) Khi rời bỏ Việt Nam năm 1975, Hoa Kỳ chủ trương để lại nguyên vẹn và không phá hủy tất cả máy móc thiết bị mà Hoa Kỳ giao lại cho VNCH.  Cộng sản rất mừng tiếp nhận được những chiến lợi phẩm nầy.  Sau ngày 30-4-1975, đại diện các nước CS trên thế đến thăm viếng NVN, chúc mừng sự thành công của CSVN, rất ngạc nhiên về những chiến lợi phẩm nầy, sự tiến bộ vượt bậc về khoa học, kỹ thuật, y khoa của Hoa Kỳ so với Liên Xô mà lâu nay Liên Xô bưng bít, giấu kín.  Nhờ đó, các nước Đông Âu mới biết rõ sự cách biệt giữa Hoa Kỳ và Liên Xô, khiến họ giảm tin tưởng đối với đàn anh Liên Xô và bắt đầu nhìn về phía Hoa Kỳ, nhập cảng sản phẩm của Hoa Kỳ, tạo tâm lý thuận lợi cho sự sụp đổ của khối CS.  2) Làn sóng vượt biên vĩ đại của người Việt Nam chạy ra nước ngoài tỵ nạn CS sau năm 1975, khiến cho lương tâm thế giới, nhất là các nước Tây Âu, lâu nay thiên tả là một “thời trang”, bừng tỉnh về giấc mộng “xã hội chủ nghĩa”, ghê sợ và chán ghét các chế độ CS.  Các nước Tây Âu quay qua giúp đỡ các phong trào kháng chiến ở các nước CS Đông Âu, góp phần dần dần đưa đến sự sụp đổ của hệ thống CS Đông Âu.

 

KẾT LUẬN

 

Đặt kết quả chiến tranh Việt Nam trong chiều rộng của không gian và trong chiều dài của thời gian, mà vẫn khó có thể thẩm định ai là bên thắng cuộc.  Tuy nhiên chắc chắn có hai điều rất rõ ràng: 1) Toàn dân Việt Nam ở cả Bắc và Nam Việt Nam đều thua cuộc về nhiều mặt.  Ngoài thiệt hại vật chất, nhà cửa, ruộng vườn, hàng triệu gia đình tan nát vì chủ nghĩa CS, hàng triệu người tử vong vì chiến tranh do CS gây ra, nền văn hóa và đạo đức suy đồi trầm trọng.  2)  Thủ phạm của tấn thảm kịch nầy chính là kẻ đã du nhập chủ nghĩa CS ngoại lai bạo tàn, chính là kẻ đã rước voi về giày mồ tổ tiên, chính là kẻ chủ trương gây chiến để phục vụ quyền lợi ngoại bang và chỉ làm lợi cho ngoại bang dù là CS hay tư bản.  Chúng là những tên phản quốc dâng đất, dâng đảo, dâng biển cho kẻ thù phương bắc.  Đám nầy không ai khác hơn là tập đoàn lãnh đạo đảng CSVN.  Sau năm 1975, chúng dần dần lộ diện.  Chúng mất trắng tất cả vốn liếng chính trị mà chúng đã dày công lừa phỉnh toàn dân Việt Nam và thế giới.  Chúng không phải là bên thắng cuộc.  Chúng chẳng những trở thành kẻ thua cuộc, mà chúng còn là tội đồ dân tộc.  Lịch sử sẽ ghi tội, hậu thế sẽ đời đời lên án.

 

TRẦN GIA PHỤNG

Cảnh sát biển VN chạm trán cướp biển: Bắn thẳng vào cabin

TT - Trước khi nhận tin bọn cướp chặt neo chạy trốn, đại tá Nguyễn Quang Đạm đã lường trước và chỉ đạo lực lượng tại hiện trường: nếu cướp biển cố tình nhổ neo hoặc chặt neo thì được phép sử dụng vũ khí ngăn chặn, kết hợp cảnh cáo qua kênh 16.

Tướng Nguyễn Quang Đạm, tư lệnh Cảnh sát biển VN (bìa trái) Ảnh: VŨ LIÊN NHÂM
Tướng Nguyễn Quang Đạm, tư lệnh Cảnh sát biển VN (bìa trái) - Ảnh: Vũ Liêm Nhâm

Cục Cảnh sát biển cũng đề nghị Bộ Tổng tham mưu thông báo cho đại sứ Malaysia, Indonesia biết để đề phòng những thiệt hại ngoài ý muốn.

Bắn!

Trong khi đó ở hiện trường, cuộc chiến với cướp biển thật sự bắt đầu. Chúng khởi động máy, cho một tên lao ra chặt neo để tháo chạy trong khi một tên nói trên kênh 16: “Sẽ ngay lập tức rời khỏi lãnh hải Việt Nam”.

Đại tá Lê Xuân Thanh - chỉ huy trưởng Vùng Cảnh sát biển 3 - nhận lệnh từ cục trưởng Cục Cảnh sát biển: nổ súng bắn chỉ thiên để uy hiếp cướp biển. Nếu các đối tượng ngoan cố chống trả thì được phép bắn bị thương.

Không chần chừ, đại tá Thanh ra lệnh cho hai chiến sĩ nổ súng AK bắn chỉ thiên. Tên cướp biển nhận nhiệm vụ chặt neo hoảng sợ nhưng vẫn cố chặt đứt dây neo. Cùng lúc đó, giọng nói của thuyền trưởng Lê Hải Trường vang lên: “Lực lượng cảnh sát biển Việt Nam thông báo: chín thuyền viên bị các anh ném xuống biển đã được cứu sống. Nếu đầu hàng sẽ được an toàn tính mạng và được sự khoan hồng của pháp luật, nếu không sẽ bị tiêu diệt”.

Nhưng tàu Zafirah vẫn tăng tốc. Rõ ràng cướp biển đang tìm cách bỏ trốn. Tình huống buộc lực lượng cảnh sát biển phải hành động quyết liệt. Hai tàu Cảnh sát biển 4031, 4034 tăng tốc đến 30 hải lý/giờ (khoảng 56 km/h) lao lên cắt mũi, chặn đầu và ra lệnh dừng tàu. Nhưng cướp biển vẫn tăng tốc mở đường vây để tháo chạy. Biên đội ba tàu cảnh sát biển vừa bao vây vừa gọi hàng và cùng lúc này vòi rồng đã phun nước vào cabin.

Nhưng khi vòi rồng vừa ngưng phun thì hải tặc lại tăng tốc. Lực lượng cảnh sát biển tiếp tục thuyết phục qua loa. Thuyền trưởng Lê Hải Trường nhiều lần liên lạc qua kênh 16 nhưng cướp biển nhất định không nghe máy. Lúc này từ phòng làm việc của trung tướng Trần Quang Khuê (phó tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam), cục trưởng Cục Cảnh sát biển, ra lệnh: tiếp tục nổ súng bắn cảnh cáo.

Những loạt đạn đại liên 12,7 li và AK 47 đã làm bọn cướp bấn loạn, dù lực lượng cảnh sát biển Việt Nam chỉ bắn lên trời. Qua ống nhòm khi zoom lại, thuyền trưởng Lê Hải Trường thấy cướp biển đã dồn hết vào cabin, khu vực đài chỉ huy cố thủ.

Lực lượng cảnh sát biển tiếp tục thuyết phục cướp biển qua kênh 16. Đáp lại vẫn chỉ là sự im lặng đầy thách thức.

15 phút trôi qua. Đại tá Lê Xuân Thanh được cục trưởng ra lệnh: cho bắn thẳng vào cabin.

Lúc này, các ụ súng máy trên hai tàu cảnh sát biển đã sẵn sàng nhả đạn. Việc nổ súng bắn thẳng vào cabin với mục đích uy hiếp khiến cướp biển phải dừng tàu là một tình huống khó. Dù cabin là vị trí an toàn nhất cho tàu dầu Zafirah khi bị súng bắn vào nhưng chỉ cần một vệt đạn đi không đúng, tàu sẽ phát nổ ngay. Khi đó khu vực biển Vũng Tàu sẽ bị ảnh hưởng rất nhiều.

Biên đội tàu cảnh sát biển bao vây, dùng xuồng cao tốc áp sát để bắt giữ hải tặc - Ảnh: Đức Định
Biên đội tàu cảnh sát biển bao vây, dùng xuồng cao tốc áp sát để bắt giữ hải tặc - Ảnh: Đức Định

Loạt súng quyết định

Khi đại tá Lê Xuân Thanh chuẩn bị ra lệnh cho xạ thủ bắn vào cabin thì nhận được lệnh của cục trưởng Nguyễn Quang Đạm: bắn vào cabin buộc chúng dừng tàu nhưng tuyệt đối không tiếp cận gần, đảm bảo không để một cán bộ, chiến sĩ nào phải đổ máu.

Thế rồi không gian bị xé toạc bởi loạt đại liên và AK nhắm thẳng vào cabin. Mặt kính cabin tàu Zafirah như bị xé nát. Những vết nứt như mạng nhện xuất hiện đầy trên cửa kính, rụng cả đèn hành trình! Trong khi đó tiếng loa kêu gọi cướp biển dừng tàu, đầu hàng vẫn tiếp tục vang lên.

Một phút, rồi hai phút trôi qua trong không khí căng thẳng đến nghẹt thở. Hàng trăm chiến sĩ cảnh sát biển căng mắt hướng về phía cabin tàu bị cướp, chờ đợi... Biên đội năm tàu cảnh sát biển đều đã mở bạt che pháo 25 li (tầm bắn 5km), vây xung quanh tàu bị cướp.

Loạt đạn uy hiếp này có sức mạnh ngay lập tức: tàu Zafirah từ từ giảm tốc độ, dừng lại, nhưng bọn cướp biển vẫn không hợp tác. Chúng chấp nhận thả neo tại chỗ nhưng không ra khỏi cabin. Cục trưởng Nguyễn Quang Đạm lệnh cho thuyền trưởng Lê Hải Trường tiếp tục sử dụng tiếng Anh kêu gọi cướp biển phải đầu hàng và phải ra mũi để đếm. “Yêu cầu các anh lên hết boong mũi. Nếu ngoan cố chống cự sẽ bị tiêu diệt” - giọng thuyền trưởng Lê Hải Trường vang lên.

Bọn cướp biển vẫn chần chừ không chịu ra.

Những loạt đại liên 12,7 li và AK47 xé tai lại vang lên.

Và rồi một tên, hai tên, ba tên cướp biển lóp ngóp bò ra khỏi cabin, giơ hai tay chấp nhận đầu hàng. Theo yêu cầu của cảnh sát biển Việt Nam, bọn cướp dồn hết lên trước boong mũi nhưng đếm mãi vẫn chỉ có 11 tên, trong khi thuyền trưởng người Malaysia cho biết bọn chúng có 12 tên! Cục trưởng Nguyễn Quang Đạm nghĩ ngay đến tình huống tên còn lại đang ẩn nấp, đeo mìn kích nổ tàu dầu hoặc gây sát thương cho lực lượng cảnh sát biển Việt Nam.

Anh lệnh cho thuyền trưởng Lê Hải Trường: “Nói với bọn chúng nếu không ra nốt tên thứ 12 là sẽ bắn chết bốn người ngay lập tức”. Rồi anh hạ giọng: “Chú ra lệnh như vậy, cháu cứ nói tiếng Anh như thế cho bọn chúng nghe nhưng đừng bắn chết bốn tên thật nha. Khi hô bắn thì bắn lên trời để dọa cho tên cuối cùng phải ra”.

Khi tiếng súng vang lên, bọn cướp biển la hét hoảng loạn. Một tên hét lớn: chỉ có 11 người! 11 người!

Không thể để anh em nhảy lên tàu khống chế bọn cướp biển, cũng không được cập mạn. Thuyền trưởng người Malaysia nói bọn cướp có súng, dao và kiếm... Nếu cập mạn, cướp biển chống trả chắc chắn sẽ có đổ máu. Zafirah lại là tàu hóa chất.

Nếu cập mạn, tàu mình bị nổ sẽ rất nguy hiểm, thiệt hại rất lớn. Thuyền trưởng Lê Hải Trường được chỉ thị: hạ năm xuồng, lệnh cho bọn cướp cởi hết quần áo, chỉ mặc mỗi quần xà lỏn và nhảy xuống biển. Phải nhảy thứ tự từng tên một. Xuồng cảnh sát biển sẽ vớt ...

Các tàu cảnh sát biển vẫn giữ đội hình, bao vây xung quanh. Lúc này biên đội năm tàu cảnh sát biển kẹp sát hai bên mạn tàu Zafirah. Hai chiếc xuồng từ tàu cảnh sát biển 4031 nhanh chóng thả xuống làm nhiệm vụ áp giải cướp biển về tàu cảnh sát biển 4034. Các xuồng cao tốc còn lại làm nhiệm vụ yểm trợ hai xuồng áp giải, đảm bảo không có bất kỳ sơ suất nào xảy ra.

16g30. 11 tên cướp xếp hàng, lần lượt nhảy xuống biển. Cứ mỗi xuồng bắt được một tên thì lại quay đầu chạy về tàu cảnh sát biển 4034.

17g10, chỉ sau 50 phút nổ súng vào cabin, cảnh sát biển Việt Nam đã bắt gọn 11 tên cướp biển mà không phải bắn chết một tên nào. Phương án bắt giữ, khống chế kết thúc thành công, không để xảy ra sơ suất, bảo đảm an toàn tuyệt đối cho các lực lượng cảnh sát biển lẫn tàu bị cướp với 300 tấn dầu.

Tàu cảnh sát biển 4034 được lệnh chạy với tốc độ cao nhất chở 11 tên cướp biển vào bờ. Còn tàu 4031, 9001 vẫn ở lại hiện trường tiếp tục quan sát, bảo vệ tàu Zafirah và... dò mìn.

_____________

Kỳ tới: Những chuyện chưa kể

MY LĂNG - MINH PHƯỢNG



 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email  Thảo luận


Những nội dung khác:
Chúc Mừng Năm Mới 2026 [01.01.2026 19:26]




Lên đầu trang

     Tìm kiếm 

     Tin mới nhất 

     Đọc nhiều nhất 
Kiều bào phát triển quê hương [Đã đọc: 461 lần]
Tin tức thế giời mới nhât song ngữ Việt Anh để học sinh ngữ [Đã đọc: 435 lần]
Siêu đô thị Đà Nẵng mở rộng, siêu đầu tư địa ốc làm giàu [Đã đọc: 430 lần]
Làm Giàu Bằng Đầu Tư Chứng Khoán [Đã đọc: 417 lần]
Một châu Âu đứng trước ngã ba lịch sử [Đã đọc: 383 lần]
Làm thế nào đòi lại Hoàng Sa, Trường Sa từ Trung Cộng [Đã đọc: 371 lần]
Nghệ Thuật Làm Giàu Của Người Việt Hải Ngoại - “The Art of Wealth for Overseas Vietnamese”. [Đã đọc: 366 lần]
“NHỮNG NGƯỜI CUỐI CÙNG CÒN GIỮ LẠI CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN”** [Đã đọc: 364 lần]
Cách mạng chiếc đòn gánh của phụ nữ VN [Đã đọc: 362 lần]
Triết lý dân tộc Việt Nam siêu việt vượt tất cả triết lý Tàu, Tư Bản và CS [Đã đọc: 359 lần]

Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ

Bản quyền: Vietnamville
Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút: Tân Văn.