Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ
     Các chuyên mục 

Tin tức - Sự kiện
» Tin quốc tế
» Tin Việt Nam
» Cộng đồng VN hải ngoại
» Cộng đồng VN tại Canada
» Khu phố VN Montréal
» Kinh tế Tài chánh
» Y Khoa, Sinh lý, Dinh Dưỡng
» Canh nông
» Thể thao - Võ thuật
» Rao vặt - Việc làm

Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca
» Cần mời nhiều thương gia VN từ khắp hoàn cầu để phát triễn khu phố VN Montréal

Bản sắc Việt
» Lịch sử - Văn hóa
» Kết bạn, tìm người
» Phụ Nữ, Thẩm Mỹ, Gia Chánh
» Cải thiện dân tộc
» Phong trào Thịnh Vượng, Kinh Doanh
» Du Lịch, Thắng Cảnh
» Du học, Di trú Canada,USA...
» Cứu trợ nhân đạo
» Gỡ rối tơ lòng
» Chat

Văn hóa - Giải trí
» Thơ & Ngâm Thơ
» Nhạc
» Truyện ngắn
» Học Anh Văn phương pháp mới Tân Văn
» TV VN và thế giới
» Tự học khiêu vũ bằng video
» Giáo dục

Khoa học kỹ thuật
» Website VN trên thế giói

Góc thư giãn
» Chuyện vui
» Chuyện lạ bốn phương
» Tử vi - Huyền Bí

Web links

Vietnam News in English
» Tự điển Dictionary
» OREC- Tố Chức Các Quốc Gia Xuất Cảng Gạo

Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng

Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP



     Xem bài theo ngày 
Tháng Sáu 2026
T2T3T4T5T6T7CN
1 2 3 4 5 6 7
8 9 10 11 12 13 14
15 16 17 18 19 20 21
22 23 24 25 26 27 28
29 30          
   

     Thống kê website 
 Trực tuyến: 3
 Lượt truy cập: 29448439

 
Tin tức - Sự kiện 30.06.2026 00:48
Tân Hoa hậu thế giới Canada gốc Hoa không khiếp sợ áp lực CS mà lại hiên ngang tố cáo TQ vi phạm nhân quyền
01.07.2015 06:10

Có trên 3 triệu đồng bào VN bỏ nước ra đi đa số thuộc thành phần tị nạn CSVN độc tài tàn ác chà đạp nhân quyền và còn thân nhân ở lại VN.  Trong khi những đồng bào trong nước anh dũng đứng lên phản đối chế độ công an trị áp bức dân lành cướp đất đánh đập, tù đày những người đấu tranh, hàng  vạn người Việt hải ngoại xuống đường biểu tình, dùng phương tiện truyền thông Việt ngữ và thế giới tố cáo chế độ tàn ác thì một số không nhỏ viện lý do còn thân nhân tại VN nên họ sợ thân nhân bị trả thù không dám tham gia.  Họ hãy can đảm noi gương hoa hậu thế giới người gốc Hoa đại diện cho Canada can đảm dùng diễn đàn thế giới và vị thế của mình tố cáo chính quyền TQ vi phạm nhân quyền theo bài báo duới đây:



Tân Hoa hậu thế giới Canada tiết lộ cha mình bị đe dọa tại Trung Quốc

 Tân hoa hậu thế giới Canada- cô Anastasia Lâm

Tân hoa hậu thế giới Canada – cô Anastasia Lâm trong khoảnh khắc đăng quang (ảnh: Andrew Chin)

Lực lượng an ninh Trung Quốc đang nhanh chóng thực hiện động thái nhằm dập tắt các tin tức về Tân hoa hậu thế giới Canada – cô Anastasia Lâm, đe dọa người cha hiện sống tại Trung Quốc của cô rằng nếu cô tiếp tục hoạt động ủng hộ nhân quyền thì cha cô và toàn thể gia đình cô tại Trung Quốc sẽ phải trả giá.

Cô Lâm, người mới vừa giành giải thưởng sắc đẹp quốc gia tại Toronto vào ngày 16 tháng 5 vừa qua và sẽ thay mặt Canada tham gia cuộc thi Hoa hậu thế giới, đã nhận được một cuộc điện thoại đáng buồn từ cha mình đang sống tại Trường Sa, tỉnh Hồ Nam vào tối thứ Tư ngày 20 tháng 5. Ông nói rằng lực lượng an ninh Trung Quốc đã tới tìm gặp ông.

Trước đó, ông đã rất vui mừng vì thắng lợi của cô.

“Ban đầu, bố tôi rất vui bởi vì tất cả truyền thông Trung Quốc đều đăng tin về chiến thắng của tôi, và ông gửi thông tin này đi các nơi – mọi người tại làng quê tôi rất tự hào”, cô Lâm – người lớn lên tại Trường Sa tâm sự.

“Bố tôi kể rằng mỗi ngày ông nhận được từ 100 đến 200 tin nhắn chúc mừng”

“Nhưng đột nhiên bố tôi bảo tôi dừng lại những việc tôi đang làm”, cô nói. Có gì đó đã thay đổi.

Gia đình và bạn bè kể với cô Lâm rằng các thông tin về cô bắt đầu biến mất khỏi mạng internet của Trung Quốc. Bất kỳ câu chuyện nào đề cập tới hoạt động ủng hộ nhân quyền của cô đều bị mạng Trung Quốc kiểm duyệt chặn lại

Ứng viên  Hoa hậu thế giới Canada, Cô Anastasia Lâm,  đang theo học  Đại học Toronto về sân khấu và quan hệ quốc tế năm 2013. (Ảnh cung cấp bởi Anastasia Lâm)

Ứng viên Hoa hậu thế giới Canada, Cô Anastasia Lâm, đang theo học Đại học Toronto về Sân khấu và Quan hệ Quốc tế năm 2013. (Ảnh cung cấp bởi Anastasia Lâm)

Sau đó cô nhận được tin nhắn từ cha kể rằng lực lượng an ninh đe dọa đưa ông ra đấu tố theo phương thức thời Cách mạng văn hóa.

Họ nói họ sẽ biến gia đình tôi trở thành như trong thời Cách mạng văn hóa

– Anatasia Lâm, Hoa hậu Thế giới Canada

“Họ nói họ sẽ biến gia đình tôi trở thành như trong thời Cách mạng văn hóa, nơi cha không nhìn nhận con và con vạch trần cha” cô Lâm nói.

“Bố tôi đã rất sợ. Ông nói ‘Con phải ngừng lại những việc con đang làm, nếu không, bố con ta sẽ không có quan hệ gì nữa.’”

Mặc dù lo sợ bởi cuộc gọi của cha, cô Lâm nói cô không ngạc nhiên. Giống như nhiều nhà hoạt động nhân quyền có gia đình tại Trung Quốc, cô biết rõ đó là mối đe dọa mà cô phải đối mặt.

“Tôi không muốn khiến gia đình mình rơi vào nguy hiểm, nhưng chính vì họ, vì tình huống này, mà tôi cần phải tiếp tục làm những việc tôi đang làm. Nếu không, những gì tôi làm trước đây sẽ trở thành vô ích.”

Tâm huyết vì nhân quyền

Cô Lâm 25 tuổi, sinh ra tại Trung Quốc, tham gia cuộc thi Hoa hậu Canada với vận động ủng hộ cho diễn đàn về nhân quyền, cam kết kiên trì tiếp tục công việc của mình tại Canada vì sự tự do tín ngưỡng và “lên tiếng cho những tiếng nói bị đè nén”.

Với chuyên ngành chính về kịch nghệ cùng với chuyên ngành phụ về lịch sử và khoa học chính trị tại Đại học Toronto, cô Lâm – một diễn viên kiêm người mẫu đang bắt đầu sự nghiệp diễn xuất qua các bộ phim phơi bày những vấn đề nhân quyền tại quê hương Trung Quốc của mình.

Cô Lâm tham gia cuộc thi Hoa hậu thế giới Canada qua sự vận động ủng hộ diễn đàn về nhân quyền, cam kết tiếp tục công việc vì tự do tín ngưỡng của mình tại Canada.

Bộ phim đầu tiên của cô đề cập tới vấn đề gây tranh cãi về sự kiện nhiều ngôi trường do chất lượng xây dựng kém đã bị sụp đổ trong trận động đất năm 2008 tại tỉnh Tứ Xuyên và giết hại hàng nghìn trẻ em. Cô đóng vai một học sinh bị chết tại một trong những ngôi trường bị sụp đổ.

Cô cũng đóng vai chính trong bộ phim truyền hình dài tập của Canada sản xuất “Big Shorts”- một bộ phim châm biếm về kênh truyền hình CCTV của nhà nước Trung Quốc, và mới đây cô đóng vai nữ chính trong bộ phim“Red Lotus” đang trong giai đoạn hậu sản xuất. Bộ phim kể về câu chuyện một nữ học viên Pháp Luân Công tại Trung Quốc bị giam giữ vì đức tin của mình.

Cô Lâm cũng tập luyện Pháp Luân Công, một môn tập luyện thiền định của Phật gia đã bị cấm và bị đàn áp tàn bạo tại Trung Quốc sau khi thu hút hơn 100 triệu người tham gia vào đầu những năm 1990. Cuộc bức hại vẫn tiếp diễn tới ngày nay.

Cô Lâm chia sẻ rằng vai diễn trong “Red Lotus” đặc biệt xúc động và cô đã có lúc do dự liệu mình có thể đóng tốt được vai diễn không. “Tôi phải phỏng vấn rất nhiều người, các nạn nhân bị ngược đãi nhân quyền” cô kể lại.

Cô đã không chắc chắn liệu mình có thể thực sự đóng vai một nhân vật phải trải qua tù ngục và tra tấn mà vẫn kiên định với đức tin của mình. Vai diễn này đã có ảnh hưởng lớn tới cô.

“Dường như càng gặp khó khăn gian khổ, họ càng vững vàng niềm tin”, cô nói.

“Bành trướng sự chuyên chế”

Cho tới tối Thứ Tư vừa qua, vai diễn trong “Red Lotus” và những buổi phỏng vấn với các nạn nhân vẫn là trải nghiệm thực tế nhất của cô đối với sự đe dọa của chế độ Đảng cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) . Nói về cuộc gọi từ cha mình, giọng nói của cô thoáng tỏ ra vừa có sự lo sợ, vừa bình tĩnh và bất bình.

“Dường như ĐCSTQ đang muốn bành trướng sự chuyên chế của nó ra ngoài Trung Quốc. Tôi là một công dân Canada. Tại sao họ có thể dám gây áp lực lên gia đình tôi để ngăn cản việc tôi đang làm tại Canada”, cô nói.

Tôi là một công dân Canada. Tại sao họ có thể dám gây áp lực lên gia đình tôi để ngăn cản việc tôi đang làm tại Canada

Cô Lâm tới Canada khi 13 tuổi và chịu sự ảnh hưởng sâu sắc về cái mà cô gọi là “tự do tinh thần” tại đây.

Cô Lâm nói cô sẽ dùng danh hiệu Hoa hậu thế giới Canada để thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa vấn đề nhân quyền và cô có kế hoạch liên kết với chính phủ và các quan chức có thẩm quyền để nhắm vào vấn đề nhân quyền ở quê hương mình.

Thực tế là cô đã rất tự chủ không bị dao động khi cha cô gọi.

Cô nói cô sẽ tiếp cận với chính phủ và bạn bè để kêu gọi sự giúp đỡ và ủng hộ. Cô lo lắng cho gia đình mình tại Trung Quốc nhưng tin rằng sự im lặng sẽ chỉ làm cho chế độ Trung cộng càng lộng hành.

Theo cô, nói ra việc gia đình mình đang bị ĐCSTQ đe dọa là việc làm quan trọng. Cô cho rằng nếu cô giữ yên lặng sẽ chỉ khuyến khích chúng tiếp tục đe dọa cha cô và chúng sẽ biết được là chúng có thể dùng được cách đó để khống chế cô.

“Nếu tôi nói ra sự thật, tôi nghĩ nó sẽ giúp bảo vệ gia đình tôi, bởi vì điều mà họ không mong muốn nhất là dư luận truyền thông quốc tế phản ứng việc họ đe dọa người dân Trung Quốc vô tội chỉ vì con gái họ tại Canada nói về nhân quyền.”

Miss World Canada fights back against Chinese intimidation



While Donald Trump makes political hay from losing platforms for his beauty pageants after race-baiting Mexicans, a Canadian pageant winner is facing real repercussions for using her position to try to effect actual social change.

Anastasia Lin won the Miss World Canada pageant in May. Lin, 25, is a theatre major at the University of Toronto, and spoke out frequently against China’s persecution of religious minorities during the competition, according to the Globe and Mail. She has also acted in numerous films that deal with the issue of human rights in China.

Those actions are now having a significant impact o­n her family. Lin, who was born in China and moved to Canada wih her mother at age 13, witesin the Washington Postthat while winning the competition is an honor, it’s coming with consequences for her father, who still lives in China.

.Shortly after my victory, my father started receiving threats from Chinese security agents complaining about my human rights advocacy. As an actress, I frequently take o­n roles in films and television productions that shed light o­n official corruption and religious persecution in China, and my Miss World Canada platform reflects these passions. No doubt fearing for his livelihood and business, my father asked me to stop advocating for human rights. He told me that if I did not stop, we would have to go our separate ways.

Rather than go silent, Lin is using the intimidation of her father as another avenue to speak out against the Chinese government’s actions, and to shed light o­n the practices that keep families silent.

“In many cases, family members are “invited to tea” by members of the security agencies, who then issue vague threats of reprisals if their relatives abroad don’t fall into line,” she wrote.

The result, Lin said, is pressure to de-politicize her platform and to lay off the human rights issue. Lin said in Maythat o­nly daysafter winning the pageant, her father told her he would cut her off if she didn't stop speaking out.

"You must stop all the political and human rights work you are doing, otherwise I will stop all support to you," he told her. Lin says she tried to call her father after receiving the text, but he refused to speak to her out of fear his phone might be tapped.

"Whatever you have sent to me, anything political, has been censored," he told her via text. "Do you know the secret security force has come to me?"

Now, Lin said, her father is afraid to speak to her. But she wrote this week that she hopes speaking out will help to free not o­nly her father, but the families of so many others who suffer because of the words of relatives outside of China.

Days will pass, and this spotlight will dim. Please don’t forget my father and the millions of families like ours. Leaving China doesn’t make o­ne free, not when friends and family there become hostages. Freedom comes when we stop accepting tyranny and challenge those who would preserve it.

Lin's continued stance against the Chinese government is all the more contentious because she's slated to be Canada's representative in the 2015 Miss World pageant, which will be held in Sanya, China in December.
Image result for dẹp bỏ sợ hãi

  • SỰ THẬT PHŨ PHÀNG: TÍNH VÔ CẢM VÀ SỢ HÃI CỦA NGƯỜI VIỆT. 


    Sau khi Website “Kháng Thư” chống Cộng Sản Việt Nam được thực hiện trên “tinhoathindon.com” để chuẩn bị gửi lên Liên Hiệp Quốc, trước ngày mà Cộng Sản Việt Nam phải trình bầy về vấn đề Nhân Quyền trước quốc tế, từ ngày 5 tháng 12 năm 2013 đến hôm nay, 10 tháng 1 năm 2014, đã có 31,740 lượt người vào xem. Nhưng điều đau lòng là số người ký mới chỉ ở con số khiêm nhượng là 444 vị! Tại sao vậy? Có phải vì Kháng Thư chưa đủ sức mạnh thuyết phục không? Hay là vì tác giả Website này không đủ uy tín để được đồng hương cộng tác? Hai lý do này không chính xác lắm, vì theo ý kiến những người đã ký tên, thì Kháng Thư là một trong những vũ khí nặng mà cộng đồng chống Cộng đã và đang thực hiện từ bao lâu nay. Cuộc chiến đấu chống Cộng cần nhiều phương thức, cần diện, cần điểm. Bên cạnh những cuộc biểu tình rầm rộ với vài chục ngàn đồng hương, hoặc bầy tỏ thái độ “chống Cộng, cứu nước”, hoặc để xua đuổi những tên văn công Cộng Sản ra khỏi đất nước tự do, những lễ nghi uy vũ trong các ngày lễ lớn, những lá cờ vàng rực rỡ tung bay trên xứ người, thì Kháng Thư là một mũi dao nhỏ bé, nhưng sắc cạnh, nhằm đâm thẳng vào tử huyệt của Cộng Sản. Qua phương pháp Petition-on-line, xin chữ ký của đồng hương trên Net, xin sự ủng hộ Kháng Thư, là một bản văn Anh Ngữ, dựa trên một tài liệu quan trọng nhất của Liên Hiệp Quốc: Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền. Từ văn bản này, kháng thư đã so sánh ý nghĩa từ mỗi mục A, B, C… của bản Tuyên Ngôn và thực tế xã hội của Việt Nam, được chứng minh bằng các hình ảnh Youtube hiện đại và chính xác, để thế giới thấy rõ các hình thức đàn áp nhân quyền tệ hại nhất mà Cộng Sản Việt Nam đang thi hành. Từ các chứng cứ này, mà Kháng Thư kết luận là Nhà Nước Cộng Sản Việt Nam không xứng đáng được có mặt trong Ủy Ban Nhân Quyền của Liên Hiệp Quốc. Đó là mục đích chính của Kháng Thư, còn mục tiêu phụ là thêm một lần nữa, vạch rõ cái nội dung láo lếu của cái chủ nghĩa quái quỷ Xã Hội Chủ Nghĩa là một chủ nghĩa không thể tồn tại trên trái đất. Chủ nghĩa Xã Hội là một chủ nghĩa không tưởng, không hề bao giờ được áp dụng. Những con người khoác cái mặt nạ Xã Hội Chủ Nghĩa, thực tế, chỉ là những tên cướp tàn nhẫn, vô lương tâm, chuyên sử dụng võ lực để đàn áp chính nhân dân của mình. 

    Thực tế phũ phàng cho thấy, sau hơn một tháng trình diện cùng đồng hương, mới chỉ có 444 người ký tên, trên tổng số 31,740 lượt người xem. Tại sao vậy? 

    Có hai lý do chính khiến đồng hương ngần ngại không dám ký: Tính vô cảm và sự sợ hãi. 


    1-Tính Vô Cảm: Sau 38 năm mài miệt chống Cộng bằng nhiều phương thức mà chưa thấy kết quả rõ rệt, một số lớn người Việt tị nạn đã muốn buông xuôi, mặc cho vận nước nổi trôi. Ngoài một số rất ít các đài phát thanh chống Cộng triệt để vẫn còn tiếp tục hoạt động, hầu hết các báo chống Cộng, các đài phát thanh chống Cộng, và các đài truyền hình chống Cộng đã giảm bớt các mục chống chủ nghĩa Cộng Sản, mà chỉ là những bài báo, những mục phát thanh, truyền hình nói về tệ nạn xã hội Việt Nam. Mà tệ nạn xã hội thì nước nào cũng có, ở đâu cũng có. Riết rồi, tin tức về xã hội và con người Việt Nam cũng trở thành ngang hàng với tin thường nhật của nước Mỹ, nước Pháp…, có đăng, có phát thanh, phát hình chỉ để câu độc giả tò mò mà thôi. Đọc nhật báo hay báo tuần, báo tháng, chúng ta thử đếm xem còn lại bao nhiêu tác giả viết về sự tàn độc của chủ nghĩa cộng sản và yêu cầu phải xóa bỏ hoàn toàn cái chủ nghĩa quái quỷ này khỏi mặt đất? Người ta tránh né các đề tài chống Cộng triệt để, có thể vì muốn về Việt Nam, xây mộ tổ khổng lồ để lấy le, xây nhà cho vợ nhỏ, bồ nhí, mở các văn phòng dịch vụ, buôn bán thương mại, mong kiếm những lợi nhuận khổng lồ cũng từ sự vô cảm của người Việt ở trong nước. Người ta gác các vấn đề chính trị để lo gửi tiền về Việt Nam với số lượng kinh khủng: từ 2 tỉ, lên 4 tỉ, lên 8 tỉ, và năm nay, 11 tỉ đô la, một số tiền đủ để cả 80 triệu dân Việt ngồi ăn không mà sống cả vài tháng. 


    2-Tính sợ hãi: Nhà văn Dương Thu Hương, trước khi sang ngoại quốc sinh sống, đã viết về nỗi hèn nhát của dân Việt. Có hèn mới chịu để cho bọn Cộng sản đặt đâu ngồi đấy, mà không dám lên tiếng phản đối. Nhà văn Nguyễn Tuân thì thú nhận là phải Sợ mới sống được. Nhạc Sĩ Tô Hải thì viết lại cảm nghĩ của một “thằng hèn”. Hầu như toàn bộ các nhà văn, nhạc sĩ, nhà thơ từng chiến đấu cho sự Tự do cầm bút, đã biến thái thành những con sâu kèn, chui trong vỏ mong được yên thân, mặc dù biết rằng đã nằm trong vỏ vẫn bị kéo lê trên đường rầy sỏi đá. Nhà thơ, nhà văn Xuân Diệu, từng nhiều thập niên được văn học Việt Nam kính mến, đã trở thành một tên chạy cờ cho Cộng Sản, và cũng với những văn nô khác viết những bài thơ ghê tởm dưới sự chỉ đạo của Tố Hữu. “Giết! Giết nữa! Bàn tay không phút nghỉ! Cho ruộng đồng tươi tốt lúa đơm bông…” 


    Đó là tính Sợ Hãi của người Việt trên đất Việt, còn người hải ngoại thì sợ cái gì? Dĩ nhiên, không sợ Việt Cộng sai người đến thủ tiêu, cho đi mò tôm như năm 1945-54, nhưng sợ không về Việt Nam được, hoặc sợ sẽ bị khó dễ khi trình Visa cho công an tại cửa khẩu, sợ bị tố cáo là đã ký tên vào Kháng Thư và bị giữ Visa, sợ phải chi thêm tiền hối lộ mới được sống yên hàn tại Đồ Sơn, Hạ Long, Vũng Tầu, Nha Trang, Đà lạt.. những điểm hẹn của khách phong lưu nước ngoài. Trên hết, sợ không được nghe những tiếng gọi “anh, em” tha thiết, những giọng nói mật ngọt của các em chân dài mà ở Mỹ nằm mơ suốt quãng đời còn lại cũng không thấy. 


    Những con người mang chữ “Sợ” to tướng trước ngực, không thể hiểu nổi tại sao lại có những người con dũng cảm của đất nước không biết sợ. Một bà trung niên đứng gào giữa đường “chửi cha cái bọn Việt Cộng bán nước”, một phụ nữ điểm mặt công an chìm nổi mà chửi, một nhóm thanh niên nam nữ đàn hát bài “Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ” ngay trước cửa nhà tù, một thiếu nữ trẻ trung xinh xắn như một thiên thần dõng dạc trước Tòa những lời khẳng khái nặng như búa tạ chẻ vào đầu lũ quan tòa điếc đặc, một thanh niên ngoan cường nói: “Tôi chỉ chống Đảng Cộng Sản, không chống nước, mà chống Đảng Cộng Sản là không có tội!”… 


    Đó mới chính là những Trần Quốc Toản, Trần Bình Trọng, Quang Trung, Lê Lợi, Trần Hưng Đạo, Lý Thường Kiệt hiện thân. Nhưng rất tiếc, số lượng những con người dũng cảm ấy nhỏ nhoi quá, trên một số 80 triệu dân trong nước, và 4,5 triệu người Việt ở hải ngoại. Như thế, thì tương lai đất nước Việt ra sao? Rừng già bị chặt chẩy máu ròng rã, các mỏ tài nguyên thiên nhiên trở thành những lỗ hổng khổng lồ, nước non, sông ngòi biến thành dòng nước độc đen ngòm, còn con người Việt Nam trở thành những robot múa nhẩy điên cuồng trong lời nhạc ca ngợi sự dẫy chết của Tổ Quốc dưới sự cai trị của các Thái Thú Tầu không có trái tim. 


    Người lính cô đơn. 

    Chu Tất Tiến.

  • Sự sợ hãi 
    Image result for dẹp bỏ sợ hãi cs
    Huy Phương


    Năm ngoái trong khi thực hiện loạt bài “Chân Dung Một H.O.”, tôi có tìm cách phỏng vấn một vị Cựu Ðại Tá, cựu tù nhân chính trị. Sau khi tra hỏi nhiệm vụ và gốc gác tôi, ông vào đề: 

    - “Tôi sợ anh là người của Việt Cộng gài vô để hỏi tôi”. 

    Tôi thưa với ông, có lẽ cũng khá vô lễ: 

    - Thưa anh, anh đã ở tù Cộng Sản 13 năm, anh đã làm “lý lịch trích ngang”, bản tự khai hằng trăm lần, xin lỗi anh, lý lịch anh đã như cái xơ mướp, có gì nữa mà phải giấu! 

    Gần đây, có một cựu cán bộ XDNT có gởi cho tôi một cái CD có mấy bản nhạc thu trong buổi trình diễn ở trại huấn luyện Vũng Tàu giữa năm 1969. Vì không gặp mặt trực tiếp, người này gởi CD này cho tôi ở “front desk” khách sạn và nhắn cho tôi qua điện thoại: 

    - “Anh đến lấy gấp, đừng để cái CD này vào tay Cộng Sản thì phiền lắm”. 

    Có nhiều trường hợp tôi có hẹn với một vài vị cựu tù nhân hay cựu quân nhân để thăm hỏi và đưa ra những trường hợp điển hình cũng như những gương hy sinh đặc biệt hy vọng để lại một tấm gương cho con em. Nhưng phút chót (khi nào cũng phút chót) tôi nhận được một vài lời nhắn gởi: 

    - “Thôi anh thông cảm, tôi còn hai đứa con gái ở Việt Nam, tôi không muốn chúng nó phải gặp phiền phức”, hay: 

    - “Tôi thì không về đâu, nhưng vợ tôi thường đi Việt Nam lắm, xin hẹn anh dịp khác!” 

    Tôi biết sẽ không bao giờ có dịp khác, vì mỗi năm ông bạn này càng già, càng gần với cái chết, đáng lý ra bớt sợ hơn, ông lại càng ngày càng sợ. 

    Nhiều người không đi biểu tình chống Cộng vì sợ Cộng Sản quay phim chụp hình. Nhiều người không dám tham gia hội đoàn hải ngoại vì mỗi năm còn phải đi Việt Nam một lần. 

    Ngay đối diện với kẻ thù, trong các trại tù tập trung, cũng có người cởi áo, phanh ngực nói với bọn cai tù: 

    - “Mày bắn tao đi!” 

    Hay phát biểu sau giờ “học tập”: 

    -“Tôi xác định không bao giờ tôi tin tưởng vào đường lối khoan hồng, nhân đạo gì của Cách Mạng!” 

    Có tù nhân chính trị đã bạt tai vệ binh. Bao nhiêu người đã bị nhốt vào cũi sắt, xà lim, bỏ đói hay bị đem ra bắn vẫn hiên ngang trước mặt kẻ thù, ngay trong cảnh “chim lồng cá chậu” và chắc chắn sẽ nhận lãnh việc trả thù tức khắc của Cộng Sản. 

    Thật ra người ở lại, nhất là anh em cựu chiến binh và thương binh, trong hoàn cảnh nghèo đói và áp bức, họ cũng hy vọng vào những người anh em chiến hữu đã có cơ hội may mắn ra đi làm được một điều gì, nói được một điều gì cho đồng bào trong nước. Nhưng cuối cùng họ chỉ thấy những “Việt kiều áo gấm về làng” vung vít, đãi đằng, khoe khoang, hợm hĩnh về những điều may mắn mà có của mình. Không những sợ hãi mà một số người còn tiếp tay tuyên truyền cho chính quyền Cộng Sản bằng những cái nhìn và nhận xét hời hợt về cảnh tượng nhà cao cửa rộng, nhà hàng khách sạn, “thú ăn chơi mỗi vẻ mỗi hay”. 

    Chỉ nói những chuyện gần đây thôi, nếu sợ hãi thì đất nước không thể nào có những Nguyễn Văn Ðài, Lê Thị Công Nhân hay Trần Khải Thanh Thủy. Còn sợ hãi thì mãi chúng ta sẽ còn đứng trước những tên công an lạnh lùng, dúi tờ giấy 5 đô la, cười giả lả, “giả dại qua ải” cho xong một kiếp người.



Làm sao phá bỏ sự sợ hãi?

Bảo Giang
(Viết nhân ngày 30-4-2011)
Có một sự thật là, sau 35 năm, kể từ ngày mất miền nam, người Việt Nam vẫn khoác trên người cái áo choàng sợ hãi. Tệ hơn thế, nó chưa có dấu hiệu chấm hết. Trái lại, có nhiều lúc người ta còn  kéo cái áo choàng ấy phủ kín lên đầu để cho bớt sợ.

Thật vậy, sợ là một động từ có ảnh hưởng trực tiếp đến hệ thần kinh cảm giác của con người. Nó có khả năng làm cho con ngưòi co rúm lại, mất tự chủ, rồi bị chế ngự, bị trấn áp bởi một đệ tam nhân trong một khoảng thời gian dài, ngắn khác nhau. Thường thì nó không có tính diên trì, nhưng sẽ bị lập đi lập lại nhiều lần, có khả năng thành  một thói quen. Đây là sự sợ hãi mà Lê thị Công Nhân đã cho rằng “chúng ta đã sợ hãi một cách thái qúa và không cần thiết”. Điều này đúng hay sai?


Từ rất xa xưa, người vào rừng đốn củi, săn thú rất sợ gặp loài thú hung bạo như cọp, gấu. Đây là loại thú không thù ghét gì con người, chúng sống theo bản năng là ăn thịt sống. Nếu chúng có vồ người thì cũng chỉ là muốn giải quyết cho qua bữa đói! Tuy thế, chúng là loài thú hoang, nên con người có khả năng chế ngự nó và vượt qua sự sợ hãi này khá dễ dàng.

Nhưng từ ngày 03-2-1930, sự kiện sợ  cọp, sợ thú hoang hầu như biến khỏi tâm tư người Việt Nam. Thay vào đó là việc sợ Việt Minh (việt cộng) một loài  có ác tính cực hung, ác gấp trăm ngàn lần xo với những thú hoang dã sống ở trong rừng. Bởi vì nó có bản năng như người chỉ khác là không có nhân tính. Theo đó, không riêng gì ở thôn quê, mà ngay vùng ven  biên hay thành thị cũng vậy, khi bóng đêm đổ xuống là không mấy người muốn ra khỏi nhà. Tuy thế, khi nhà của người dân đã đóng cửa gài then thật chặt, chúng vẫn có khả năng đưa lưỡi dao mã tấu vào cạy cửa và giết người  một cách dễ dàng. Trường hợp con dao mã tấu của Hồ chí Minh, có người gọi là Hồ chí … Phèo, không cạy được cánh cửa ra, chúng liền cho mái nhà kia một mồi lửa để toàn gia đưọc giải phóng! Khi ấy, nhà bên cạnh chỉ nghe được tiếng cười rợn lạnh của Hồ chí Minh và đồng bọn là cho đến chết  không bao giờ quên được cái hình ảnh kinh hoàng của đêm đen ấy. Nên sau năm 1954, nguời  bắc di cư vào nam, có kể lại những câu chuyện về  cái hung tàn của Hồ Chí Minh và đồng bọn, người miền nam chẳng mấy ai tin. Mãi cho đến sau ngày 30-4-1975, người miền nam mới có dịp mở mắt ra mà xem. Tất cả là qúa trễ chăng? Tại sao?

1. Tại vì chế độ cộng sản là một tập hợp hỗn độn bao gồm những thành phần được gọi là tập thể hay giai cấp lãnh đạo. Nhưng không được giáo dục đủ về văn hóa, về nhân bản và về một nhà nước pháp quyền, nên không biết tôn trọng luật pháp, không có bản năng tôn trọng nhân phẩm con người.

Thật vậy, ở những quốc gia mà luật pháp và nhân phẩm của con người được tôn trọng, người dân được luật pháp che chở nên không bao giờ sợ chính quyền. Trái lại, chính quyền các cấp, các cộng sự, đại biểu quốc hội, đều sợ sức mạnh của người dân. Nhất là trong thời  gian có các cuộc bầu cử. Những lúc ấy, chính quyền, dân cử, đảng phái, đều như con chi chi, nhún nhường từng câu, từng chữ trong cuộc giao tiếp với  người dân. Bởi vì họ biết rằng, chính  lá phiếu trong tay của người dân sẽ ban cho họ có quyền lực trong tay, hay sẽ lật đổ chính quyền này khi đến hạn kỳ bầu cử. Theo đó những kẻ bất lương như Việt cộng sẽ  không bao giờ có cơ hội lên nắm được công quyền, hay thành đại biểu trong quốc hội!

Trong khi đó, ở những nước cộng sản toàn trị chủ nghĩa như ở Việt Nam các khẩu hiệu lừng lẫy treo đầy ờ đầu đường cuối xóm, cũng không thể tạo nên  một bản chất của xã hội nhân bản, pháp quyền. Bởi lẽ, ở những nước này, xã hội được xây dựng trên căn bản của biện chứng Vô Gia Đình, Vô Tôn Giáo, không lấy nền tảng đạo đức và luân lý của xã hội làm gốc sinh, nhưng dùng bạo lực để cướp và nắm lấy chính quyền. Không lấy Công Lý làm thước đo chuẩn mực trong luật lệ. Trái lại, bao cấp, bất công là mẫu mực. Do đó, tất cả mọi người dân đều ở trong một cái rọ dân oan vì mất đất, mất nhà, mất tự do, mất quyền sống. Có chăng, quyền sống chỉ là một thứ ân huệ xin-cho nhỏ giọt của guồng máy độc tài, bạo lực, nên người dân thảy đều phải sợ chính quyền và các công cụ đàn áp của nó.

2. Xã hội trong chế độ cộng sản là một xã hội bị bưng bít thông tin đứng đắn và lành mạnh. Thay vào đó là một hệ thống tuyên truyền gian dối, một chiều để hướng dẫn sai lạc dư luận và phục vụ cho mưu đồ bất chính của kẻ cầm quyền.

Ở trong các chế độ tự do,  hệ thống thông tin, bao gồm từ báo chí,  đài phát thanh, truyền hình đều nằm trong tay của tư nhân. Hệ thống thông tin có nhiệm vụ phục vụ cho đời sống, cho sự hiểu biết về tất cả mọi  mặt từ văn hóa, xã hội, chính trị đến tôn giáo của người dân. Hệ thống này tự tạo vị thế cho mình và tự trở thành tai mắt của toàn dân dòm chừng các cá nhân, hay tập thể chính phủ đương quyền trong những công tác của họ. Từ đó, dù kẻ ở cấp bậc  lớn nhất như tổng thống, thủ tướng cho đến những nhân viên tại địa phưong đều phải có những hành vi và cử chỉ nghiêm túc khi thi hành phận sự. Không một kẻ nào dám coi thường luật pháp. Đây là quyền của con người để bảo vệ con người.

Trong khi đó, ở các nước cộng sản chuyên trị ngành bạo lực để khủng bố nhân dân như ở Việt Nam hiện nay, các biểu ngữ, khẩu hiệu dao to búa lớn tuyên truyền treo ở khắp đầu đường xó chợ. Nào là tự do, nào là dân làm chủ. Nhưng nếu ai tin rằng  những cái dòng chữ quảng cáo ấy có nghĩa thật của nó thì tức khắc rươc lấy thảm họa. Bởi lẽ, đó chỉ là chữ để tuyên truyền bịp bợm, lừa dối của nhà nước. Trong khi sự thật là hệ thống thông tin hoàn toàn nằm trong tay nhà nước. Họ có quyền giải thích chữ nghĩa và nó trở thành công cụ chính yếu bảo vệ cho cái quyền bạo lực của nhà nước sau hệ thống công an. Thông tin trở thành công cụ của kẻ bạo hành nên những chuyện chìm tàu như vụ Vinashin với 4,5 tỷ đôla chạy tự do vào túi quan cán, dân và con cháu dân è cổ ra mà trả nợ về sau, nhưng vẫn không được quyền biết và cũng chẳng được phép bàn tán về chuyện ấy. Rồi quan cán cộng bán biển, bán biên giới cho thuê rừng, cho thuê biển lấy tiền chia nhau, dân không hay, cũng không nên thắc mắc. Thắc mắc là tự rước lấy họa cho mình.

Khi có những người dám đứng lên vạch ra cái tội gian dối, láo lếu của nhà nước Việt cộng như LM Nguyễn văn Lý, Lê thị Công Nhân, Nguyễn văn Đài và nay là Cù huy Hà Vũ thì cái  hệ thống thông tin ấy cứ o­ng ỏng lên, rồi chạy giật qua vài hàng chữ,  kết án trước những ngưòi này bị bắt về tội phạm hình sự để được trả lương, thế là hết chuyện. Đố một tên nào dám viết  ra sự thật! Dù sự thật ấy là: Ngưởi dân có quyền lật đổ cường quyền bạo ác!

Thật vậy. Có một sự thật là: Không có một người dân nào ở các quốc gia Tự Do mà không có quyền lật đổ chính quyền này và thay vào đó bằng một chính phủ khác. Trái lại, họ làm công việc ấy một cách công khai khi đến hạn kỳ. Riêng các đảng phái thì hoạt động, vận động người dân lật đổ chính quyền một cách công khai ngay khi người của đảng phái khác vừa trúng cử. Như ở Mỹ ở Úc chẳng hạn. Ngay khi Obama thắng cử là ngưòi của đảng Cộng Hòa lại bắt tay vào công việc phải tìm cách lật đổ Obama vào bốn năm sau. Ở Úc thì chính Tony Albert phải tìm mọi cách lật đổ Julia Gillart vào kỳ bầu cử tới. Rồi nhất cử, nhất động của Guìllard hay Obama đều không tránh được cái nhòm rất khắt khe của báo chí cũng như đối lập. Họ công khai chỉ trích những việc làm của ngưòi cầm quyền. Có ai bị bắt đâu? Có ai bị làm khó dễ đâu?

Trái lại, bộ trưỏng cảnh sát  một tiểu bang (việt cộng gọi là công an) nhận có $5,000, ngồi tù bóc lịch 5 năm. Rồi TT Nixon, thân bại danh liệt. Luật pháp nghiêm minh như thế sẽ không bao giờ có chuyện chìm tàu với 4.5 tỷ của công qũy vào túi quan mà không có kẻ nào bị kỷ luật! Và trên hết, không khi nào hệ thống thông tin lại ngán sợ chính phủ hay phải làm việc theo lệnh lạc bịp của chính phủ bao giờ? Nói cách khác, thông tin chính là nguồn sức mạnh tìm ra những sự thật và hướng dẫn công luận trong những điều kiện của sự thật.

Trong khi đó, ở Việt nam, thông tin là công cụ của nhà nước Việt cộng. Chúng toa rập và làm theo chỉ đạo của bạo lực. Nên dân chúng  không biết gì hơn ngoài những điều hệ thống tuyên truyền này đưa tin để lừa bịp công luận. Chính vì hệ thống thông tin kiểu này, giây thần kinh sợ hãi của người dân lúc nào cũng căng thẳng. Chẳng biết lúc nào cái vạ, cái họa kia sẽ đổ ập xuống trên đầu của mình. Nên người dân tự nảy sinh ra cái nhìn giống nhau: Thôi thì kệ xác nó. Nó muốn nói gì thì nói. Tốt nhất là không nên nói ngược điều chúng nói. Khi tự rút vào vỏ ốc, ngưòi dân quên hẳn đi một điều nguy hiểm khác là: Nghe chuyện bịp riết, nó trở thành một thói quen, rồi đôi khi phải nói theo cái thói quen ấy mà không hề biết là mình đang bịp chính mình và lừa dối ngay cả những người thân yêu nhất của mình ở trong gia đình. Như thế, bịt tai lại không thèm nghe nữa, không phải là một giải pháp tốt để giải trừ nỗi sợ hãi. Bởi lẽ, không nghe, không phản ứng, chúng càng mừng, càng đua nhau bịp bợm nhiều hơn. Sự Sợ hãi cũng theo đó mà tăng tiến!

Thật vậy, từ sợ hãi này kéo theo sự sợ hãi khác. Ngưòi dân đắp tai ngoảnh mặt làm ngơ trưóc mọi hoàn cảnh của xã hội chính là nguyên do giúp vốn cho nhà nước Việt cộng điên cuồng hơn trong  phương cách hành sử bạo lực với người dân, và cường điệu hơn trong những việc thực hành, áp dụng những sách lược ngu xuẩn về văn hóa, về xã hội, về chính trị và tôn giáo trong mục đích triệt tiêu nền văn minh và tiến bộ về nhân phẩm, đạo đức, luân lý của xã hội loài người. Về điểm này, có một sự thật  mà tất cả mọi ngưòi Việt Nam tại hải ngoại hôm nay đều biết và nói đến là: Các em nhỏ, học sinh tại Úc,  tại Mỹ, hay Âu châu, không biết chữ nói dối trá là gì. Trái lại, hầu như không có mấy đứa trẻ cùng trang lứa ở Việt Nam biết đến việc phải nói thật. Đây qủa là một điều rất đáng xấu hổ và làm tủi nhục cho Việt Nam hôm nay.

Tại sao lại có chuyện đau lòng và đáng tủi hổ này? Tại vì cái lối giáo dục vô văn hóa của nhà nước Việt cộng, khởi đầu từ Hồ Chí Minh  đã làm cho tương lai của dân ta biết dối trá như thế. Và đó chính là cái tủi hổ, cái nhục quốc thể mà TGM Kiệt đã công khai công bố trong hội trường, trước mặt những quan cán cộng và  mọi ngưòi đều hiểu ra là: Thật là xấu hổ và tủi nhục khi phải cầm tấm hộ chiếu Việt Nam do Việt cộng cấp phát!

Tại sao tôi nhắc đến Hồ chí Minh và cái tủi hổ của tấm hộ chiếu Việt Nam do Việt cộng cấp phát? Không cần dài dòng. Qúy vị chỉ cần đọc lại lá thư của Hồ chí Minh viết cho Stalin để xin chỉ thị về cuộc đấu tố đồng bào ta ở ngoài bắc vào năm 1953-56 thì thấu hiểu hết mọi sự việc. Biết cái gian ác, gian dối của y như thế nào. Và biết những kẻ truyền nhân, nối nghiệp của Hồ đã được truyền dạy làm theo cái gương buôn dân bán nước của Y ra sao? “Đồng chí Stalin kính mến, Tôi gởi cho đồng chí đề án cải cách ruộng đất của đảng Lao Động Việt Nam (tên của đảng cộng sản lúc bấy giờ). Đề án này tôi đã hoàn thành với sự giúp đỡ của hai đồng chí Liu Shaoshi và Van szia-Sian. Đề nghị đồng chí tìm hiểu và  đưa ra chỉ thị về đề án này”*(1)

Bạn đọc nghĩ sao về lá thư đã giết chết hơn 170,000 ngàn ngưòi Việt Nam trong cuộc đấu tố này? Hồ chí Minh có phải là một tên tay sai giết mướn cho cộng sản hay không? Và dưới đây là câu chuyện diễu của một người bạn tôi sưu tầm, kể về NT Dũng, kẻ hậu duệ của cái chế độ thất đức này:

“- TT. BUSH: Ở Mỹ Công nhân lãnh lương trung bình là 1500$ US, nhưng chỉ cần chi ra 800$ là đảm bảo cho đời sống khá sung túc!

- Việt cộng NT DŨNG: Vậy họ làm gì với số tiền riêng còn lại?

- TT. BUSH: Đó là chuyện riêng của họ, chúng tôi không quan tâm, không có trách nhiệm… Thế Cán cộng ở VN thì sao?

- DŨNG: Ở VN lương công nhân, viên chức lĩnh khoảng 800.000 $VN một tháng, và mỗi tháng chi tiêu tối thiểu để sống, cần đến 3 triệu đồng VN.

- TT. BUSH: Trời đất! Vậy họ kiếm đâu ra số tiền thiếu hụt đó?

- DŨNG: A! Đó cũng là việc riêng của họ. Nhà nước Việt cộng chúng tôi rất tôn trọng đời tư của nhân dân, nên không thắc mắc, không tò mò, không quan tâm đến, giống như các ông vậy!”

Lá thư của Hồ là thật, câu chuyện về Dũng, dù là chuyện sáng tạo nhưng nói lên thực tế của xã hội ấy. Thiếu tiền, cán cộng không có cách gì khác ngoài việc tạo ra những vụ cướp, giật của công, của tư để chia nhau. Liệu có được báo chí của nhà nước Việt cộng đăng tải cho quần chúng cùng hiểu biết chăng?

Một chế độ được xây dựng trên căn bản vô đạo như thế, ngưòi ta thật không thể trách cứ dân mình tại sao lại ngoảnh mặt làm ngơ trước những cuộc đấu tranh của một số người can đảm? Bởi lẽ, cảnh con cá nằm trên thớt hoàn toàn khác với cuộc sống con cá ở trong ao hồ, lại càng khác xa so với con cá trên sông rộng, biển lớn. Theo đó, con cá trên thớt còn gì để vẫy vùng, cùng lắm là ngoi ngóp thở được giây nào thì hay giây phút đó, hoặc còn ở trong rọ thì sẽ lao đầu vào cuộc sống chộp giựt qua ngày. Phần tuổi trẻ thì lao thân vào những qúan cà phê… ôm, cà phê… sống, qúan nhạc thác loạn cho qua ngày. Từ những cuộc sống thác loạn được nhà nước Việt cộng cho mở ra như lỗ xả hơi để tránh sức bật về chính trị, xã hội đã trở nên điên loạn hơn. Tỷ lệ phạm những tội ác man rợ trong xã hội cũng cao hơn.  Đặc biệt, tội ác của công an, cánh tay của nhà nước tăng vọt. Tuy thế, đây không phải là điều nhà nước Việt cộng quan tâm để giảm thiểu. Trái lại, nếu tuổi trẻ càng mất dần đi nhân bản tính con người, Việt cộng càng mừng lớn. Bởi lẽ, chính nhờ vào việc đánh mất hẳn nhân bản tính của con người,  đảng mới có thêm những đảng viên nối gót theo con đường vô đạo của đảng đã đề ra.

Chuyện con cá nằm trên thớt, trong rọ sợ nhát dao của Việt cộng chém nhầm, không có gì lạ. Nhưng chuyện con cá ngoài sông, ngoài biển rộng vẫn sợ Việt cộng có lẽ đáng được ghi vào sử sách chăng?

Hai mươi năm trước, sách báo tại hải ngoại ngập tràn những bài viết tố giác những tội ác dã man của Hồ chí Minh và Việt cộng. Những lúc gần đây những bài báo ấy it còn xuất hiện trên báo giấy, dù là tuần báo hay nhật báo. Nó ít xuất hiện vì những lý do thực tế và cả phần ngụy biện. Nào là ta chống cộng nhưng không cần mang những chữ nghĩa rực lửa ấy lên mặt báo. Nào là, bản chất của người theo khuynh hướng Quốc Gia là phải khoan hòa. Nào là, ta khác với Việt cộng là ở điểm chữ viết của ta mềm mại, nặng giáo huấn. Nên ta không thể giống chúng viết lên những  dòng chữ  như chó cắn. Đại loại là có những phản ngữ như thế. Theo tôi, lý luận có phần đúng, thực hành có lẽ là sai?

Bởi lẽ, chẳng mấy ai dám viết lên một sự thật là: Việc thiếu vắng những bài báo ấy trên các mặt báo giấy, gần đây lây sang cả báo mạng là vì chủ báo đã về Việt Nam, hoặc là thích về Việt Nam! Khi về, chủ báo rét Việt cộng nên sau khi trở ra hải ngoại là chủ báo đổi cách chống … cộng?  Hoặc gỉa, ngưòi viết nay cũng thấy mỏi tay vì chân đã đi ngang về tắt Việt Nam nên cũng rét, không dám viết những bài nói lên sự thật nữa? Ấy là chưa kể đến  những ngụy ngữ cho rằng viết chống cộng ai mà đọc. Hoặc một thực tế là không lấy được quàng cáo vì đa số những người có thương vụ quảng cáo trên bào chí đã có đôi ba lần về Việt Nam. Họ thích làm ăn, không thích chính trị? Họ đi về VN,  nên không thích hay không muốn quảng cáo trên những tờ báo… chống cộng?  Mà báo không có quảng cáo là báo… chết! Nên thôi… đành vậy! “Thế chiến quốc, thế Xuân Thu. Gặp thời thế… thế thời phải thế”!

Rồi thay cho những loạt bài báo ấy là những loại ba xu, rẻ tiền của cỡ Dương thu Hương ca ngợi chuyện Hồ chí Minh “yêu” Nông thị Xuân lúc em mời ngoài 16 tuổi! Chuyện Hồ chí Minh hiếp Nông thị Xuân đến mang bầu, đẻ con. Sau  đó, Minh và Hòan tổ chức  giết Nông thị Xuân diệt khẩu qua vụ tại nạn xe hơi, có ai mà không biết. Nhưng tuyên truyền bất chính vẫn là đặc sản của cộng sản, nên tác gỉa của những kẻ mù, thay vì lên án cái hành động bất nhân, bất nghĩa của thủ phạm, lại bảo đó là chuyện tình yêu! Đó là một đỉnh cao cực lạc của lãnh tụ. Là một tấm gương đáng ngưỡng vọng, cứ nhắm mắt mà vỗ tay, phần thị thì hết lòng sùng bái. Thị viết: «Cô Xuân đã yêu anh Cả cũng vào thời gian ấy … năm 53, chắc chắn là như vậy…» (trang 63)… Và đây là công lao của  nhà “dắt mối” Vũ Kỳ: “Rằng hồi ở chiến khu chính cậu đã sang bên thành đoàn để gặp gỡ cô Thanh Tú. Cũng chính cậu can thiệp để cô Minh Thu thôi vác chăn vác chiếu đến ngôi nhà sàn. Rồi cũng chính cậu dẫn cô Xuân đến nơi ấy” (262). Những nham nhở, dắt mối ấy đã trở thành lịch sử, thành tích vĩnh cửu trên cái đỉnh cao của Việt cộng mà có lẽ chỉ những kè mù mới mơ ước tới và ca tụng. Ấy thế, lại cũng có những người hùa theo mà ca tụng cái “đỉnh” bất nhân của tập đoàn Hồ Chí Minh mới là chuyện đáng kinh hãi!

Hỏi xem, nhân phẩm con người ở đâu trong những loại chữ nghĩa này?

Kết qủa, cá trên thớt, trong rọ đã đến đường cùng, chẳng còn biết ngán sợ. Nhưng cá trong sông, trong biển, lại đem cả cái nỗi sợ hãi ấy vào sông vào biển. Thật là tội cho những trung can Nguyễn Văn Lý, Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Văn Đài, Cù Huy Hà Vũ biết mấy. Những người liều chết đương đầu với bạo ác, chỉ van xin đồng loại của mình ở ngoài sông ngoài biển rằng: “Đừng về, nếu không thực sự cần thiết phải về. Đừng gửi tiên về, nếu sự việc không kíp bách”. Cám cảnh thay, con cá ở sông, ở biển  không tự chui vào rọ để rước thêm cái sợ vào người thì khó làm lắm.

Tuy thế, còn một cái may mắn là: Hàng trăm ngàn người về là hàng trăm ngàn ngưòi trở lại hải ngoại, một tay thì lên án những cái dã nhân của chủ nghĩa xã hội đang trấn áp trên phần đất Việt Nam. Một tay khác lại tuyên truyền rằng, ngày nay chúng cũng thay đổi nhiều rồi, dân tình dễ chịu lắm! Nói xong là lại dành dụm tiền bạc để mua vé về Việt Nam mà rước thêm cái sợ vào ngưòi cho có bạn.

Dĩ nhiên, khi nói, họ chẳng bao giờ nghĩ tới một điều là: Sau ba mưoi năm, hoặc  tám mươi năm, cái bản chất độc ác của cái đảng cộng ấy vẫn không bao giờ thay đổi. Còn những xum xoe bên ngoài như khu nhà mới, phòng trà, đường xá, bia ôm, hình Hồ Chí Minh nằm phơi dưói cống rãnh chỉ là những sự việc phát triển theo thời gian. Nó không hề mang tính thay đổi về một bản chất, nhưng chỉ là thay cái áo rách bằng một cái áo lành hơn.  Bởi lẽ:

Ngày xuống thuyền trốn đi thì xác xơ, mặt cắt không ra máu. Nay ai cũng hồng hào cũng nhà lầu,  xe hơi, con cái học thành đạt. Những điều ấy có phải là thay đổi hay không? Tôi không cho đó là sự thay đổi, nhưng đó chính là những thực tế do mình có cơ hội kiến tạo cho mình và gia đình mình trong một xã hội biết tôn trọng luật pháp và tôn trọng phẩm giá con ngừơi. Và sự thay đổi nếu có là ở chính trong lòng những ngưòi đã ra đi ấy không còn giữ một quyết tâm phải giải trừ chế độ cộng sản như khi ra khỏi Việt Nam. Nói cách khác, nếu có ai không còn thiết tha với việc phải  khử trừ đi một chế  độ bạo tàn đang đè trên đất nước Việt Nam, để trong tương lai, đất nước ấy sẽ có cơ hội khôi phục lại một xã  hội trong an bình, thịnh vượng  và có một chế độ biết tôn trọng phẩm giá và luật pháp và là nơi đáng sống hơn cho  những thế hệ tương lai. Đó mới là sự thay đổi. Một thay đổi đáng buồn.

Đáng buồn là bởi vì những con mắt khóm của Việt cộng cài theo những dấu chân ngưòi Việt Nam  về thăm quê hương, vẫn luôn dòm chừng những hoạt động của họ sau khi trở ra. Chúng biết, cá ở ngoài sông ngoài biển còn sợ chúng hơn cá nằm trên thớt. Do đó, chúng dám thách đố công luận thế giới, dám thẳng tay bạo hành với những LM Lý, Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Văn Đài và Cù Huy Hà Vũ. Lê Quốc Quân, Phạm Hồng Sơn…  mà không sợ gặp phản ứng. Lý do, chúng đã có một hệ thống tuyên truyền bịp bợm, và bịt miệng nhà nghề bao bọc từ trong ra đến ngoài. Chúng sợ chi vài ba bài báo lẻ tẻ kia. Một thí dụ khác. Một cành hoa đào cắm trên phố Hà Nội, chỉ trong vòng vài giờ, không còn một bông hoa nào trên cành. Người tốt, người xấu đều hái. Trong khi đó, Việt cộng chỉ muốn có một loại hoa duy nhất được nở, dù đó là hoa cứt lợn vô hương và nặng mùi vì mọc trên những đống… phân do chúng làm chủ. Nhân dân ngán ngẩm. Mặc, vì xét theo qúan tính của nhà nước Việt cộng, đó cũng là hoa, đó chính là chế độ.

Như thế, làm sao có thể phá tan sự sợ hãi?

Một câu hỏi, xem ra khó tìm ra câu trả lời vào lúc này. Tuy nhiên:

1. Nếu mọi ngưòi thay đổi cách nhìn và tự khắc kỷ với chính mình một chút. Xin hãy lắng nghe những lời kêu gọi chân tình của Lê Thị Công Nhân, của LM Nguyễn Văn Lý… Cá ở trên sông, trên biển đừng tự chui vào rọ để rước cái sợ cho mình và làm lây sang người khác, lây ra sông, ra biển, cũng giúp ta một phần?

2. Hãy khắc kỷ với chính tổ chức, đoàn thể đảng phái của mình. Nghĩa là, thay vì nói đến chương trình, hành động của đảng phái của mình vào lúc này, hãy tập trung và đề ra một chương trình hoạt động duy nhất cho tổ chức, đoàn thể, đảng phái của mình là phải tìm cách phá vỡ hệ thống thông tin bịp bợm, khép kín và gian dối của nhà nước Việt cộng. Rồi đem những thông tin ấy vào trong nước có lẽ thực tiễn hơn chăng?

3.  Với các cá nhân, người phải về thăm gia đình thì đừng nói đến cuộc sống vật chất ở hải ngoại. Thay vào đó là những câu chuyện đời sống thượng tôn pháp luật và tôn trọng nhân phẩm con ngưòi ở nơi mình đang sinh sống. Bà con ta ở trong nưóc cũng thế. Hãy nói cho nhau về cái quyền làm người, quyền được sống trong tự do, trong đó có  quyền tự do về tôn giáo, tự do tư hữu. Quyền được pháp luật bảo vệ trước mọi bất công. Mới đầu sẽ khó nói. Nhưng khi cả nước đều nói về quyền làm người, nói về việc tôn trọng luật pháp để bảo vệ nhân phẩm, đạo đức thì sự sợ hãi sẽ lần biến tan đi và tiếng nói của người dân có thể chuyển núi dời non? Một người lên tiếng đơn lẻ như Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Văn Đài, Cù Huy Hà Vũ thì sẽ bị Việt cộng đàn áp, khống chế. Nhưng khi cả triệu người cùng chung một tiếng nói đòi bảo vệ nhân quyền, đòi luật pháp phải được tôn trọng và thi hành đứng đắn thì Việt cộng chính là những kẻ phải sợ hãi trước sức mạnh của toàn dân.

4. Phá vỡ thông tin bưng bít và chia cắt là phá vỡ sự sợ hãi. Tập hợp niềm tin lại là tập hợp sức mạnh dời non, thay đổi vận mệnh dân tộc.

Đến nay, thật khó mà có thống kê chính xác trong tay, nhưng nhiều người cho rằng, chỉ có một tỷ lệ rất thấp, vào khoàng 1 hay 2%  đồng bào ở trong nước biết đưọc những câu chuyện về Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Văn Đài, LM Lý, Cù Huy Hà Vũ, Lê Quốc Quân Phạm Hồng Sơn… hay những vụ công an đánh chết người mà thôi. Ngoài ra, có nhiều vùng, miền không hề nghe biết về chuyện này bao giờ. Với một tỷ lệ qúa khiêm nhường như thế, chúng ta thật khó kỳ vọng vào một cuộc đổi thay. Theo đó, muốn có  một cuộc đổi thay, đòi buộc chúng ta phải thực hiện thành công mục tiêu phá vỡ hệ thống tuyên truyền gian dối và bưng bít của  nhà nước Việt cộng.  Phá bỏ bằng những câu chuyện thường ngày bằng cách bảo nhau, chẳng có gì đáng phải sợ hãi khi mình nói chuyện với nhau, đòi nhà nước phải tôn trọng nhân quyền và tôn trọng luật pháp. Bởi lẽ, chỉ những kẻ làm sự ác mới không bao giờ có giấc ngủ ngon.

Tôi tin rằng, nếu người người, nhà nhà, tổ chức đoàn thể, đảng phải đều tích cực thay đổi cách nhìn, tích cực thay đổi cách suy nghĩ theo nếp nhăn cũ, rồi tích cực hành động chung cho một chiến dịch phá vỡ thông tin gian dối và khép kín của Việt cộng là chúng ta đang thay đổi vận mình cho mình và làm thay đổi vận mệnh cho tổ quốc của mình. Khi ấy, chúng ta sẽ có nhiều cơ  hội giúp thêm nhiều ngưòi can đảm đứng lên đập nát cái chế độ bạo tàn ấy để xây dựng lại một Việt Nam trong Tự Do, Độc Lập, Dân Chủ trên nền tảng tôn trọng Luật Pháp, Công Lý  và bảo vệ Nhân Quyền.
© Bảo Giang
© Đàn Chim Việt

“Thoát Trung”, “thoát Cộng” và “thoát Sợ”, cái “thoát” nào là nền tảng?

Nguyễn Chính Kết 

Chuyện “thoát Trung” là điều mà đảng CSVN cần thiết phải làm, có trách nhiệm phải làm và có thể làm được để đất nước thoát khỏi hiểm hoạ Bắc thuộc lần thứ năm đang có nguy cơ rất lớn trở thành hiện thực. Tuy nhiên, cho tới nay, nhà cầm quyền CSVN chưa hề tỏ một dấu hiệu nào đáng tin tưởng chứng tỏ thiện chí thật sự muốn “thoát Trung” để cứu nguy đất nước cả. 

Hiện nay, qua việc bỏ tù những người chống Trung Cộng xâm lược như Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, Việt Khang, Bùi Minh Hằng, Phương Uyên, Nguyên Kha, v.v... và qua việc đàn áp mạnh tay những người biểu tình chống Trung Cộng xâm lược, ta thấy rõ ràng rằng những người dân yêu nước, muốn bảo vệ lãnh thổ lãnh hải, chống Trung Cộng xâm lược... đều không chỉ bị Trung cộng mà ngay cả CSVN coi như kẻ thù cần phải tiêu diệt. 

Hành động của Trung cộng xâm phạm chủ quyền biển đảo của Việt Nam, bắn giết ngư dân Việt Nam, đặt nhiều giàn khoan dầu vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, rõ ràng là hành động xâm lược Việt Nam cách nghiêm trọng, thế mà CSVN không hề có một hành động nào mạnh mẽ và hữu hiệu ngăn cản hành động xâm lược đó cả. Chính vì thế, hành động xâm lược của Trung cộng có điều kiện để càng ngày càng leo thang. Qua thái độ của CSVN đối với Trung Cộng và đối với người dân yêu nước, ta có thể đoán ngay được rằng CSVN vẫn sẵn sàng làm công cụ cho Trung cộng, tiếp tay với Trung cộng trong mưu đồ thôn tính Việt Nam. 

Nếu tình trạng này cứ tiếp diễn, ắt hẳn đất nước Việt sẽ không thoát khỏi tình trạng bị Trung Cộng thôn tính. Đừng chờ khi Việt Nam đã trở thành một tỉnh của Trung cộng rồi, chúng ta mới dám xác định những điều vừa kể. 

Ý thức được nguy cơ ấy, chẳng lẽ dân Việt lại phó thác số phận dân tộc mình cho đảng CSVN quyết định ra sao cũng được? Chẳng lẽ cả một dân tộc có lịch sử chống Tàu rất anh hùng lại phó mặc để CSVN dâng đất nước cho Tàu? Chẳng lẽ chúng ta lại sẵn sàng cúi đầu chấp nhận làm thân phận người dân thuộc địa của Trung cộng? 

Trong hoàn cảnh này, người dân Việt Nam nếu không tự cứu mình thì chẳng ai có thể cứu mình được. Toàn dân chúng ta phải dành lại quyền quyết định số phận của mình chứ không thể phó thác quyền ấy cho đảng CSVN, vốn đã từng nhiều lần bán đất bán biển của tổ tiên cho kẻ thù dân tộc. Vì thế, vấn đề trước mắt của người dân Việt trong và ngoài nước hiện nay không phải là chuyện “thoát Trung”, mà là “thoát Cộng”. Nghĩa là phải thoát khỏi ách thống trị của chế độ CSVN, không để cho CSVN đè đầu cưỡi cổ và toàn quyền định đoạt số phận cho cả dân tộc nữa. Một khi đã “thoát Cộng” thì việc “thoát Trung” cũng trở nên rất dễ dàng. 

Đối với nhà cầm quyền CSVN, “thoát Trung” vốn chỉ là cái ngọn, còn cái gốc của vấn đề này là CSVN có chấp nhận từ bỏ tham vọng muốn “muôn đời trường trị” trên dân tộc Việt Nam hay không, có sẵn sàng từ bỏ quyết tâm bám lấy quyền lực để cưỡi cổ đè đầu người dân Việt Nam hay không, có thật sự từ bỏ ý định làm công cụ cho tham vọng bành trướng của Trung Cộng hay không. Nếu không, việc “thoát Trung” chỉ là ảo tưởng! 

Tương tự như vậy đối với người dân Việt Nam, “thoát Cộng” cũng chỉ là cái ngọn, còn cái gốc của vấn đề là người dân Việt có thoát được nỗi sợ hãi mà chế độ CSVN đã gieo vào lòng mỗi người dân từ nhiều thập niên qua hay không. Nếu không, việc “thoát Cộng” cũng chỉ là ảo tưởng! Nỗi sợ hãi này đã trở thành “cố hữu”, đã ngấm vào mạch máu của từng người dân Việt; vì ngay từ khi cướp được chính quyền năm 1945, CSVN đã áp dụng ngay chính sách khủng bố để giết hại, bỏ tù, xách nhiễu, đe dọa bất kỳ người dân nào dám nói hay dám làm điều gì bất lợi cho tham vọng “muôn đời trường trị” của họ. Vụ Nhân Văn Giai Phẩm là một điển hình. Nỗi sợ hãi đối với sự khủng bố của CSVN vẫn luôn luôn đè nặng trên tâm thức của rất nhiều người Việt, kể cả trong nước lẫn hải ngoại, khiến họ không dám làm những gì mà lương tâm, lòng yêu nước hay sự hợp lý đòi hỏi. Đây là thành công rất lớn của cộng sản, nhờ vậy mà chế độ CSVN vẫn tồn tại suốt gần 70 năm qua, dù đảng này từ rất lâu đã trở nên bất xứng trong việc lãnh đạo đất nước, dù đảng này đã làm đất nước tụt hậu hàng trăm năm so với những nước chung quanh, dù dân chúng từ lâu rất căm phẫn trước những hành vi vô cùng tàn bạo của đảng này đối với người dân... 

Đừng nói gì đến nỗi sợ của người dân trong nước là những người đang trực tiếp sống dưới sự cai trị hà khắc của CSVN, mà ngay cả người Việt ở hải ngoại, dù sống trong những đất nước tự do, vẫn có rất nhiều người bị nỗi sợ ấy ám ảnh. Thật vậy, nhiều người ở hải ngoại không dám nói gì đụng chạm đến chế độ cộng sản dù điều nói đó là sự thật hay là điều cần thiết phải nói. Hoặc họ không dám công khai đi biểu tình để lên tiếng thay cho người dân trong nước đang bị CSVN bức hại cách bất công và bị bịt miệng không nói lên được nỗi uất ức của mình. 

Ở những đất nước tự do như thế, tại sao họ lại sợ CSVN vốn cách xa có khi tới nửa vòng trái đất? họ sợ những gì? − Thưa: họ sợ không được toà đại sứ hay lãnh sự CSVN tại đất nước họ đang sống cấp giấy phép cho họ về Việt Nam; họ sợ khi về thăm quê hương sẽ bị công an CSVN mời làm việc, gây phiền nhiễu cho họ, vân vân và vân vân. Nếu người dân của một đất nước cứ chấp nhận “cúi đầu”, “khom lưng” như vậy, thì dân tộc ấy có bị những chế độ bất lương cưỡi lên đầu lên cổ mình hẳn nhiên không có gì là lạ?! 

Nỗi sợ bị CSVN khủng bố khiến rất nhiều người dân không dám phản đối những tội ác của các cán bộ CSVN. Ngay cả những vị rao giảng những tôn giáo có chủ trương chống ác khuyến thiện, cũng vì sợ mà đành phải chấp nhận cái nguỵ biện này: “Từ bản chất, tôn giáo nào cũng có sứ mạng chống ác và khuyến thiện; tuy nhiên chống lại những tội ác do ai làm thì cũng đều tốt, đều nên làm và phải làm; nhưng chống lại tội ác do CSVN gây nên thì không được phép, vì chống ác trong trường hợp này là làm chính trị, mà tôn giáo thì không làm chính trị!” Nhiều vị hùng hồn rao giảng chủ trương “vô úy” hay khuyến khích hành vi “vô úy thí” của Phật, hay cổ võ lời khuyên “Đừng sợ những kẻ chỉ làm hại được thân xác mà không làm hại được linh hồn...!” của Đức Giêsu [1], nhưng chính bản thân họ lại rất sợ bị công an CSVN phiền nhiễu, đến độ không dám nói sự thật, không dám chống bất công, đành chấp nhận nói sai sự thật, sẵn sàng dung dưỡng bất công! 

Nhưng rất may cho dân tộc ta là hiện nay xuất hiện càng ngày càng đông những người dân vượt thắng sợ hãi, không sợ khủng bố, nhất là giới trẻ. Họ dám mạnh mẽ lên tiếng tố cáo tội ác của CSVN, kể cả tội của những lãnh đạo cao cấp nhất chế độ, dù biết rằng sau đó họ có thể bị CSVN bỏ tù hoặc mưu hại. Trong số đó có nhiều người rất trẻ tuổi và là phái yếu như Công Nhân, Thanh Nghiên, Thục Vy, Hoàng Vy, Minh Hạnh, Phương Uyên, v.v... Bí quyết gì khiến họ dám “thoát Sợ”, dám lên tiếng cho sự thật, cho công lý, dám làm những hành động mà lòng yêu nước đòi hỏi? 

Bí quyết để “thoát Sợ” chính là sẵn sàng chấp nhận chính những gì mà bản năng khiến mình sợ sẽ xảy ra. Thật vậy, 
− Ai sẵn sàng chấp nhận chết sẽ không còn sợ chết nữa. 
− Ai sẵn sàng chấp nhận vào tù sẽ không còn sợ tù nữa. 
− Ai chấp nhận bị công an liên tục mời “làm việc”, bị công an bắt cóc giữa đường, bị công an hành hung... thì sẽ không còn sợ những thứ ấy nữa. 

Hiện nay, biết bao người thuộc đủ mọi giới, mọi tầng lớp đã thoát được những nỗi sợ cố hữu ấy, lẽ nào người khác lại không? Nhất là những người tự hào có bản lãnh, những người đáng lẽ phải làm gương về điều này!? 

Sống trong một chế độ phi nhân, chủ trương khủng bố như chế độ CSVN, những ai không chấp nhận bị đau, bị khổ, bị phiền nhiễu, bị bạc đãi, bị tù đày, thậm chí bị giết... thì luôn luôn phải triền miên sống trong sợ hãi. Trong đó, có những người rất khổ tâm, bị lương tâm thường xuyên cắn rứt, vì họ bị sợ hãi khống chế nên đã làm nhiều điều hèn nhát, trái với những gì lương tri hay lương tâm đòi hỏi. 

Nói chung, do bản năng ham sống sợ khổ, chẳng ai tự nhiên lại chấp nhận cái chết, chấp nhận đau khổ, chấp nhận tù đày, chấp nhận bị phiền nhiễu cả... Người ta chỉ chấp nhận những thứ đáng sợ ấy khi người ta muốn đạt được những giá trị rất lớn, hoặc muốn tránh khỏi những tai họa đáng sợ hơn gấp bội, chỉ lúc ấy người ta mới sẵn sàng trả giá bằng cách chấp nhận những điều đáng sợ kia. 

Xin lấy một minh họa cho dễ hiểu. Chẳng hạn, chẳng ai muốn mất tiền, mất của, mất nhà mất cửa cách phi lý, thậm chí mất như thế là một nỗi sợ. Nhiều người đã ngất xỉu khi bị mất một món tiền thật lớn. Nhưng nếu mất tiền để đạt được một điều gì có giá trị lớn gấp bội thì người ta sẵn sàng chấp nhận mất. Thậm chí họ còn vui mừng khi đã đạt được cái giá trị mà mình đã bằng lòng trả giá bằng sự mất mát kia. Người ta cũng sẵn sàng chấp nhận mất một món tiền rất lớn để khỏi mất đi một số tiền lớn hơn, hoặc để tránh được một tai hoạ nào đó. 

Tương tự như thế, các nhà đấu tranh dân chủ trong nước sẵn sàng chấp nhận vào tù, chịu thiếu thốn, đau đớn, nhục nhã, thậm chí cả cái chết là để đạt được một giá trị lớn hơn gấp bội, đó là sự tự do và hạnh phúc của cả một dân tộc. Nếu không nhắm cái giá trị cao cả đó, không ai dại gì dấn thân vào con đường nguy hiểm ấy cả. 

Chẳng hạn Kỹ sư Đỗ Nam Hải đã tuyên bố: “Tôi sẵn sàng bước vào một nhà tù nhỏ để dân tộc này sớm bước ra khỏi nhà tù lớn. Nhà tù lớn ấy hiện nay mang tên là Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam” [2]. Hay như chị Bùi Thị Minh Hằng đã thét lên trong một cuộc biểu tình: “Chúng tôi nằm xuống để dân tộc này đứng lên; chúng tôi chết để dân tộc này được sống” [3]

Hoặc có người sẵn sàng chịu đau khổ hay chết đi để các thế hệ con cháu mình được sống yên vui, thoải mái hơn mình, như một người biểu tình ở Bắc Phi đã nói: “Tôi sẵn sàng chết để ngày mai con tôi không phải sống như tôi” [4]. Hay để công lý và sự thật được thực hiện, như tinh thần của một câu ví dụ trong một tự điển Pháp nọ: “Tôi không quan tâm chính quyền làm gì mình. Tôi sẵn sàng vào tù miễn là sự thật được phơi bày” [5]. Hay để bảo vệ nhân quyền như Voltaire: “Tôi có thể không đồng ý những điều anh nói nhưng tôi sẵn sàng chết để bảo vệ quyền anh được nói những điều đó” [6]

Tóm lại, muốn “thoát Trung” thì phải “thoát Cộng”. Muốn “thoát Cộng” thì phải “thoát Sợ”. Muốn “thoát Sợ” thì phải sẵn sàng chấp nhận những điều tệ hại có thể xảy ra. Muốn chấp nhận những điều tệ hại có thể xảy ra thì phải ý thức được một giá trị thật lớn, thật cao cả mà mình cần đạt tới, hay phải ý thức được một hiểm họa khủng khiếp mà mình phải tránh, xứng đáng để đánh đổi bằng cách chấp nhận những điều tệ hại kia xảy đến. 

Trường hợp của dân tộc Việt Nam hiện nay, muốn được tự do, muốn thoát khỏi nguy cơ bị Trung cộng thôn tính, muốn cho con cháu mình mai hậu không phải làm thân trâu ngựa cho ngoại bang, người dân phải chấp nhận “tìm cái sống giữa cái chết”. Tương tự như những người vượt biên tìm tự do sau 1975. 

Khi chấp nhận vượt biên tìm tự do, người ta đã phải chấp nhận những bất trắc mà họ biết có thể xảy đến hoặc chắc chắn phải xảy đến như: 
− bỏ nhà bỏ cửa, bỏ người thân ở lại, 
− gia đình bị ly tán, 
− bị lường gạt mất vàng, mất của (do bị lừa đảo), 
− bị công an bắt và bị tù, 
− bị chết ngoài biển làm mồi cho cá, hay chết trong rừng làm mồi cho thú dữ, 
− bị cướp biển, phụ nữ bị cướp hãm hiếp, 
− phải sống thiếu thốn nhiều năm trong các trại tị nạn, 
− v.v... 

Những điều bất hạnh đó ai cũng sợ, nhưng những người vượt biên sẵn sàng chấp nhận tất cả chỉ vì mong đạt được một giá trị lớn hơn, đó là TỰ DO. Thật vậy, chỉ vì tự do, người ta sẵn sàng trả giá rất đắt, như tác giả Nam Lộc đã nói lên trong bản nhạc “Xin Đời Một Nụ Cười”: 

“Tự do ơi tự do! tôi trả bằng nước mắt
“Tự do hỡi tự do! anh trao bằng máu xương
“Tự do ôi tự do! Em đổi bằng thân xác.
“Vì hai chữ tự do! Ta mang đời lưu vong.” 
[7] 

Người Mỹ có câu nói nổi tiếng: “Freedom is not free” (tạm dịch “Tự do không phải là thứ cho không”). Muốn có tự do thì phải trả giá. Tự do rất xứng đáng được trả giá rất cao vì nó quý giá vô cùng: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” đối với cá nhân cũng như đối với cả dân tộc. Nó là thứ quý nhất, không có gì quý hơn, kể cả mạng sống; vì sống mà không có tự do thì “thà chết sướng hơn!” (nhiều người nói như thế!). 

Hiện nay, đa số người dân chưa ý thức được nỗi khổ của mình, của con cháu mình, của cả dân tộc mình khi đất nước bị Bắc thuộc lần nữa. Nếu họ ý thức được nỗi đau và nỗi nhục vô hạn mà người dân Tây Tạng, Tân Cương, Nội Mông đang phải chịu kể từ khi đất nước họ trở thành thuộc địa của Trung cộng, nếu người dân Việt ý thức được Trung cộng đã đối xử tàn bạo thế nào đối với các học viên Pháp Luân Công vốn cùng một giòng máu Hán tộc với họ, thì họ sẽ hiểu được nỗi đau và nỗi nhục của mình lớn thế nào khi đất nước mình lọt vào tay Trung cộng. Lúc đó, họ mới có cảm nghĩ và thái độ “không thể ngồi yên” như nhạc sĩ Việt Khang: 

“Tôi không thể ngồi yên khi nước Việt Nam đang ngả nghiêng,
Dân tộc tôi sắp phải đắm chìm, một ngàn năm hay triền miên tăm tối!
“Tôi không thể ngồi yên, để đời sau cháu con tôi làm người!
Cội nguồn ở đâu, khi thế giới này đã không còn Việt Nam?”
 

Lúc ấy họ mới thấy tội ác của CSVN “tày trời” như thế nào khi hiện nay CSVN đang sẵn sàng làm công cụ cho Trung cộng, đồng lõa, tiếp tay giúp Trung cộng xâm lược và thôn tính Việt Nam. 

Do đó, chuyện cần thiết phải làm cho kịp thời hiện nay là phải “thoát Sợ” để có thể “thoát Cộng” hầu có thể “thoát Trung”! 

Một trong những khẩu ngôn rất giá trị nói lên bí quyết để “thoát Cộng” là: “Đừng sợ những gì cộng sản làm, hãy làm những gì cộng sản sợ”. Khẩu ngôn này gồm hai vế “Đừng sợ” và “Hãy làm”. “Đừng sợ” là nội dung chính của cả bài này. Còn “Hãy làm” thì chúng ta cần xác định xem cộng sản sợ gì nhất. Thưa: điều cộng sản sợ nhất hiện nay, chính là sợ người dân không còn sợ khủng bố nữa, nghĩa là CSVN rất sợ chính sách khủng bố của mình bị vô hiệu hóa, không còn hữu hiệu hay tác dụng nữa. Cộng sản tồn tại được là nhờ người dân sợ khủng bố. Khi người dân không còn sợ khủng bố nữa, thì đó là lúc nỗi sợ hãi sẽ quay ngược trở lại để trở thành nỗi kinh hoàng cho chính kẻ khủng bố. Và đó là lúc chính thức báo hiệu “hết thời” cho cả một chế độ phi nhân tàn bạo.

Viết từ Houston 
Nguyễn Chính Kết


Người Việt 'đã sợ hãi từ lâu' - YouTube

www.youtube.com/watch?v=X85Ry6_V3cY
Jan 15, 2015 - Uploaded by BBC Tiếng Việt
Tôi cũng có một thời chống đối chế độ cộng sản sau năm 1975,... Tự do ngôn luận và tự do tôn giáo là nguyên nhân dẫn đến sựthù ghét và nạn diệt chủng. ... Cũng bị đẩy đi bán rẻ sức lao động ở khắp nơi trên thế giới đấy thôi? ..... Một người dân VN can đảm góp ý sửa hiến pháp loại bỏ sự lãnh đạo  ...

Chủ thuyết Các Mác và chủ nghĩa Cộng Sản: tai họa của nhân loại .

Chu tất Tiến.

(Ngày 29 tháng 6 năm 2015, bản tin về Phùng Quang Thanh bị ám sát chết tại Paris, và tấm hình Đại Hội Đảng không có Phùng Quang Thanh, mà chỉ có một tay Thượng Tướng nào đó ngồi thế vào chỗ Phùng Quang Thanh được tung ra tràn lan trên mạng. Điều này nếu có thật, chứng tỏ rằng trong nội bộ Đảng, vẫn luôn có việc “đồng chí” thủ tiêu lẫn nhau, không thương tiếc. Vì thế, xin gửi bài viết về bản chất Đảng Cộng Sản Việt Nam dựa trên Lý Thuyết Các Mác, một lý thuyết không tưởng, chỉ đem đến tang thương và hủy diệt nhân loại.)

Trong đại hội nhà văn, nhà báo tại Việt Nam vào tháng 8 năm 2010, nhà văn Trần Mạnh Hảo đã đọc một bản tham luận gây sửng sốt cho toàn thể cử tọa. Nhiều nhà văn, nhà báo muốn trừng trị ông, có kẻ muốn cúp tiếng nói công chính của ông bằng cách giật “micro” trong tay ông, trong khi ấy, một số người có đầu óc cấp tiến lại coi việc ông làm là một hành động anh hùng, đáng kính trọng. Một số khác thì im lặng, giữ thái độ trung dung, cầu an, tránh né mọi xung đột cho dù họ đều nghĩ rằng những điều ông nói đểu dựa trên sự thật. 

Bản tham luận của ông nêu lên rất nhiều điểm mang tính cách chiến đấu trong văn chương, nhưng thực tế, những tư tưởng đó đã tấn công trực diện vào thành trì lãnh đạo Đảng Cộng Sản Việt Nam. Ngoài việc tố cáo những việc làm mất nhân tính của giới lãnh đạo đã đẩy đưa đất nước đến chỗ suy vi vì tham nhũng, vì việc giáo dục thé hệ sau lỗi thời lạc hậu với bằng giả, học giả tràn lan, vì những hành vi bán nước của giới lãnh đạo, nhà văn Trần Mạnh Hảo còn cho rằng lý thuyết Các Mác (Karl Marx, 1818 -1883) như một sản phẩm của tội ác nhân loại.

Trong cuộc nói chuyện khác của ông, Nhà văn Trần Mạnh Hảo đã đưa ra một nhận xét mới: Học thuyết Mác Lê không phải duy tâm, không phải duy vật, mà là học thuyết Duy Ác, hàm ý là mọi người trên thế giới này đều bị cái Ác cai trị. Với Trần Mạnh Hảo, Các Mác đã bị ảnh hưởng quá nặng bởi lý thuyết “sống còn” của nhà nghiên cứu Darkwin cho nên đã cho rắng vạn vật phải cạnh tranh, phải giêt lẫn nhau để sinh tồn. Vì thế mà chủ nghĩa Các Mác muốn dùng bạo lực để tiêu diệt đối lập, hầu tạo ra một thế giới mới, thế giới hoang tưởng Thiên Đàng Cộng Sản.

Thật thế, chủ nghĩa Các Mác là một chủ nghĩa hoang tưởng, bệnh hoạn, muốn dùng bạo lực sắt máu để giết người, tiêu diệt phần lớn nhân loại nhượng cho một nhóm nhỏ cầm quyền tha hồ cai trị.

Đã 125 năm, kể từ khi Các Mác chết, lý thuyết của ông đã được phân tích, phê bình, và được cho vào chương trình học của hầu hết các đại học trên thế giới như một triết lý. Một số chính trị gia quá khích đã tôn thờ lý thuyết của ông như một loại kinh thánh. Một số khác đã áp dụng một vài quan điểm của ông vào thực tế xã hội vớinhiều sửa đổi. Lê Nin (Vladimir Lenin, 1870- 1921), người đã mượn những ý tưởng căn bản của Các Mác về một cuộc thay đổi xã hội toàn diện để biến thành môt tập hợp lý thuyết Mác-Lê (Marxism-Leninism), trong đó Bạo Lực Cách Mạng là đòi hỏi tiên quyết cho mọi hành vi chính trị hầu khuynh đảo tất cả các chế độ chính trị trên thế giới, nhằm tiếm đoạt quyền lực cho một đảng cai trị. Sau đó, Hồ Chí Minh, một đệ tử kiên định của cả Lê Nin và Mao Trạch Đông, dưới sự "chỉ đạo xuyên suốt" của hai người Thầy vĩ đại, đã mang mớ lý thuyết hổ lốn này về quê nhà và cùng với vũ khí và phương tiện do hai “mẫu quốc” này cung cấp, tìm cách cướp chính quyền vào trong tay mình. Trong suốt thời gian chiến tranh, để ghi nhớ công ơn của hai bậc trưởng thượng kính yêu, Hồ Chí Minh đã ra chỉ thị ở chỗ nào cũng treo ba tấm hình của Lê Nin, Các Mác và "Bác". Đôi khi, lại chỉ treo hình Các Mác và Ăng Ghen ( Friedrich Engels, 1820-1895), người đã cùng soạn thảo chung Bản Tuyên Ngôn Cộng Sản (The Communist Manifesto) với Các Mác vào năm 1848. Thường thì hai tấm hình của các bậc “Sư Tổ” đó treo ngang nhau và bên trên hình của "Bác". Chỉ thảng hoặc, có dư chỗ, "Bác" mới được treo ngang hàng với “Sư Tổ” của mình. Từ khi xuống đường làm "Kách Mệnh",(1) Hồ Chí Minh vẫn luôn tôn kính Các Mác và Lê Nin còn hơn tổ tiên Việt Nam của mình, vì thật sự, Hồ Chí Minh không có lòng tôn trọng tổ tiên Việt Nam,vẫn luôn coi Cộng Sản Quốc Tế mới chính là gia tộc của mình. Trong bài vịnh Đền Kiếp Bạc thờ Trần Hưng Đạo, Hồ Chí Minh đã tự đắc với việc làm của mình:

Bác đưa một nước qua nô lệ

Tôi dắt “năm châu” đến đại đồng!

Thực tế, với trình độ học vấn của ông Hồ, với sự "đạo thơ" của người khác làm thơ của mình(2), với sự dàn dựng nhờ người viết tiểu sử ca tụng chính mình (3), và những câu vè bình dân do Hồ Chí Minh viết ra, người ta có thể đoán ông Hồ chẳng hiểu gì về những ý niệm trong cuốn Tư Bản Luận đâu. Ông Hồ chỉ có thể biết rằng Các Mác kêu gọi phải "đấu tranh giai cấp" (class struggle) để dựng lại toàn diện cấu trúc xã hội, và khai thác thêm thành "Bạo Lực Cách Mạng" và "Chuyên chính vô sản" (4) mà thôi. Còn những lý thuyết về "giá trị xử dụng" (use value), "giá trị trao đổi" (exchange value), "lao động thặng dư" (surplus labor) hay "lý thuyết lao động về giá trị" (labor theory of value), chắc "Bác" không thích nhắc đến. Ngay chính hai nhóm chữ "chủ nghĩa xã hội" và "xã hội chủ nghĩa" khác nhau thế nào, chưa chắc ông Hồ đã có khả năng giải thích.

Và, nếu "Bác" mà không giải thích nổi, thì nói chi đến những đệ tử của "Bác"?

Điều phũ phàng là rất nhiều người mệnh danh là "thức giả", là "trí thức" cũng không nhận ra những thiếu sót và sai lầm tệ hại trong mớ lý thuyết của Mác, mà vẫn lớn tiếng ca tụng Mác như thần tiên, thánh sống.

Thực tế, Các Mác là một lý thuyết gia có rất nhiều sai lầm ngay từ căn bản, và thiếu sót rất nhiều về mặt thực tiễn xã hội.

1-Các Mác là ai? Tên thật là Karl Marx, một kẻ bất đắc chí, tự tạo ra một lý thuyết có tính cách thuyết phục với những người có trình độ lý luận dở dang, chưa đến nơi đến chốn, những kẻ luôn có tinh thần nổi loạn, chống đối xã hội, hoặc những kẻ thí mạng cho một cuộc phiêu lưu, “được thì được tất cả, mất thì chả mất cái gì”.

Marx sinh năm 1818, tại Đức, chết năm 1883, vốn thuộc dòng gốc Do Thái (Jews), khá giả (5), cả họ hàng có nhiều người làm "Rabbi", là "Thầy Cả", là người đức cao trọng vọng trong Do Thái giáo. Ông cụ tên là Hirschel, nhưng sau thấy bị đời coi thường, nên cậy cục xin đổi sang thành một người Đức yêu nước, Heinrich Marx, theo đạo Lutheran. Điều này chứng tỏ ông cụ Marx là người mất gốc, hám danh, hám lợi, tư bản chủ nghĩa chứ không có “tinh thần cộng sản” gì cả. Marx có nhiều anh chị em, nhưng một số chết sớm, còn mấy bà chị thì không hợp tính, vì Marx độc tài từ nhỏ, khiến mấy chị em khiếp sợ, không dám đứng gần. Bà mẹ tính tình khó chịu, nên Marx lờ luôn. Coi như Marx là người không có gia đình họ hàng. Marx không được hưởng tiền bạc nên ghét tư bản.Đúng ra, Marx ghét họ hàng chị em. Năm 1854, Marx viết thư cho Engels, tỏ vẻ thích chí: "Phước thay cho ai không có gia đình!" (6). Câu này được các đệ tử nhặt và quảng cáo cho tư tưởng "Vô gia đình". Thực chất, Marx rất thích gia đình, vợ và con, nên đẻ nhiều, dù cho nghèo rớt mùng tơi, sáu đứa cả thẩy, nhưng nuôi nấng dở quá, nên chết mất ba. Marx rời quê hương để tránh bị truy nã bởi chính quyền, từ Đức sang Pháp, bị đuổi, qua Bỉ, rồi trở lại Pháp, về Đức, lại qua Anh, có thời gian qua Algeria, rồi trở về Anh và chết ở đây. Cho tới chết, Marx vẫn là nguời “ngụ cư”, kẻ ở nhờ ở đậu trong xã hội. Cho nên Mác nói là "Vô tổ quốc!" cũng rất đúng. Marx chống đối tôn giáo, nói đúng ra là chống lại hệ thống đạo ở quê hương, "Vô tôn giáo!". Thế là mấy đệ tử ào ào cổ võ cho "Tam Vô", nhưng không đệ tử nào biết rằng, khi gần tới ngày đi gặp Thần Chết, Marx viết tờ chúc thư cuối cùng, trong đó tỏ lòng ân hận với Thiên Chúa, và xin Chúa tha tội cho những điều ông viết có tính cách vô luân lý (7) Mác chẳng làm ăn gì, ngoài viết báo, viết sách, cứ chống đối hoài nên bị thất nghiệp dài dài, bị chủ nhà đuổi, bị thiếu ăn, thiếu sưởi, phải cầu cứu Engels, (một đại phú ông chuyên nghề làm bông gòn ở Anh), viết thư cho Engels xin vài Pounds (Lbs) để trả tiền nhà. Engels lập tức gửi ngay cho 50 Lbs, dư xài. Nếu không có Engels, thì chắc cuốn Tư Bản Luận không thể ra đời. Marx cũng làm bộ chê bai, chửi bới cách sống vô luân, sa đọa, nhưng theo những người bạn của Marx, ông ta lại khoái xem những cảnh chơi bời ái tình (8). Điều đau khổ cho Marx là dù ông ta cổ võ cho lý thuyết Cộng Sản, nhưng những đồng chí Cộng sản của Marx để cho Marx thiếu đói triền miên, không ai giúp đỡ, ngoài Engels!

2-Các Mác là kẻ "cọp dê" lại ý tưởng của người khác, và biến thành của riêng mình.

Từ đầu thế kỷ 18, đã cónhiều lý thuyết gia, kinh tế gia nói về chủ nghĩa tư bản rồi. Những nhân vật nổi tiếng về kinh tế nhưAdam Smith, David Ricardo, Jean-Baptiste Say, và John Stuart Mill đã viết nhiều về sản xuất, phân phối và trao đổi hàng hóa trong một nền kinh tế tư bản dựa vào sự nghiên cứu về những nhà kinh tế cận đại nhất.Ngoài ra còn David Hume và Richard Cantillon nũa. Những nhân vật này đã để lại nhiều nghiên cứu giá trị. Mác chỉ lựa các bài viết của người, rồi tập hợp thành một cuốn Tư Bản Luận của mình. Theo sau Adam Smith, Mác đã phân biệt "giá trị xử dụng" của hàng hóa và sự sai biệt giữa tiền vốn và tiền bán được thành tiền lời của giới tư bản. Dựa vào những người đi trước, Mác, với sự hợp tác và giúp đỡ về tài chánh của Ăng Ghen, đã cho ra đời nhiều tác phẩm gọi là giá trị trong giới nghiên cứu lý luận thời đại đó, nhưng cũng chẳng được ai quan tâm áp dụng, mãi cho đến vài chục năm sau khi chết, mới được Lê Nin đem tô điểm và biến thành một vũ khí lợi hại tấn công nhân loại.

3-Marx sai lầm trên quan điểm về liên hệ giữa Công Nhân và Xã Hội. Xuyên qua tất cả các tài liệu, văn bản, sách viết của Mars, có mấy vấn đề được đặt ra:

-Điều kiện vật chất và ý thức con người có sự liên hệ với nhau.

-Xã hội được phân chia thành từng giai cấp

-Sự đấu tranh giữa các giai cấp.

-Giới công nhân và giới nghèo khổ luôn là kẻ bị áp bức.

Trên hết là sự giải phóng giai cấp công nhân qua một cuộc cách mạng sẽ đem lại tự do, no ấm cho mọi người, sẽ đem lại công bằng xã hội, sẽ làm cho thế giới này hạnh phúc, tiến lên một chủ nghĩa chung nhất: chủ nghĩa cộng sản.

Thực tế chứng minh, những cuộc cách mạng vô sản đã nổ ra nhiều nơi trên thế giới, nhưng đến cuối thế kỷ 20, nhân loại đã nhận thấy rằng những cuộc cách mạng đó chỉ đem lại đau thương, tàn ác, hết bạo quyền này đến bạo quyền khác, mà không mang lại hạnh phúc chút nào cho nhân loại, nhất là giới lao động, đã nghèo khổ còn bị bóc lột hơn, nên dần dần các thành trì xã hội chủ nghĩa cộng sản đã đổ nháo nhào. Hiện nay chỉ còn lại vài lãnh tụ cực kỳ lỳ lợm là Việt Nam, Cu Ba, và Bắc Hàn, vẫn muốn lợi dụng mấy chữ chủ nghĩa xã hội để thâu tóm quyền hành, áp đảo giới công nhân còn hơn ngày xưa. Trung Cộng thì đã hé hé mở mở kinh tế (trừ chính trị), tạo điều kiện cho công nhân sung túc hơn xưa, nhờ bỏ qua chế độ bao cấp, nhưng còn ở Việt Nam, sau nhiều chục năm XHCN, giới công nhân, lao động vẫn là khối lượng khổng lồ, khốn khổ khốn nạn, bị bóc lột, bị chủ lột truồng, đánh đập, bị chủ mạ lị, bị thiếu ăn, bị giam lỏng. Nữ công nhân phải đi làm vợ thuê để sống qua ngày. Có chút nhan sắc thì lo làm lẽ, làm nô lệ tình dục cho ngoại quốc, hay bán thân ở mấy nước có nhận trao đổi công nhân. Marx là kẻ thiếu trí thức, nên không tiên đoán được điều này.

4-Marx sai lầm lớn khi cho là tiền lãi, lời của Tư Bản là do sự bóc lột của giới chủ nhân qua giá trị thặng dư biến thành tiền tệ. Marx cả quyết: “Không bóc lột, không thể làm giầu được”. Điều này chỉ đúng cho thời điểm đó, thế kỷ 19 và đầu 20, khi kỹ nghệ bắt đầu phát triển, những máy móc, phương tiện được sản xuất ào ạt, xe lửa và đầu máy hơi nước là phương tiện di chuyển hàng loạt, nên cần công nhân rất nhiều. Vì đa số những tay tư bản thời đó ở Âu châu còn ngần ngại không dám nhào vào các phương tiện mới lạ, chỉ có một số mạo hiểm làm giầu, nên lợi nhuận tập trung vào một số nhỏ. Cùng với sự suy thoái của chế độ phong kiến, những quý tộc cũ còn tiền của chuyển hướng sang kỹ nghệ. Với tài sản sẵn có, những người này tạo nên một hệ thống tập quyền với hàng rào phe đảng bao che vững chắc, do đó, tự tung tự tác, bóc lột công nhân tối đa để mong làm giầu thêm nữa. Nhưng đến cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21, với giao thông dễ dàng hơn, với thông tin nhiều nguồn hơn, liên hệ kinh tế - xã hội thay đổi. Nhiều nghiên cứu thực tiễn chứng minh rằng lợi tức của Tư bản không nhất thiết phải là sự bóc lột giá trị lao động của công nhân. Như trường hợp Bill Gates, ông không làm chủ xí nghiệp như các chủ nhân thời Marx mà nhờ cái bộ óc của anh. Như một chuyên gia Việt Nam ở Thung Lũng điện tử, chỉ bán con "chíp" và "software" là đột nhiên trở thành tỉ phú! Mấy Chủ Nhân "Google.com" và “E-Bay”cũng thế! Đâu có cần phải bóc lột giá trị thặng dư của công nhân! Đa số các công ty, các hãng xe Nhật đều có công nhân trong ban quản trị, được góp ý kiến, được chỉ huy bạn mình! Cùng với sự phát triển của thị trường chứng khoán, nhiều người thành tỷ phú trong một thời gian ngắn mà không cần thuê công nhân. Như vậy, Marx sai lầm thê thảm! Marx còn sai hơn nữa khi cho rằng Tư Bản nhất định phải bao hàm một chế độ độc tài mà ông ta cũng còn gọi là Đế Quốc (Imperalism). Điều này bị lịch sử chứng minh ngược lại. Các chế độ đế quốc độc tài giờ đã biến mất trên mặt địa cầu, còn trơ lại có Đảng Cộng Sản là độc tài còn hơn Đế Quốc và Thực Dân nữa. Vài quốc gia có chế độ quân chủ, chỉ còn lại là những biểu hiện lịch sử, không có giá trị chính trị.

5-Marx còn sai khi tiên đoán rằng một cuộc cách mạng vô sản sẽ nổ ra ở các nước tư bản Âu Châu, nơi mà người bóc lột người. "Hãy để bọn lãnh đạo rung động với một cuộc cách mạng cộng sản! Những người bị bóc lột chả có gì để mất ngoài xiềng xích trên chân họ!" (9) Trong các cuốn sách của Marx, các ý tưởng về Tư Bản đều đặt trên hệ thống kinh tế xã hội Âu Châu, tiêu biểu là nước Anh. Marx muốn thay đổi trật tự xã hội cho các nước Tư Bản Âu châu hồi đó đang trên đà phát triển kỹ nghệ. Đúng ra, cuốn Tư Bản Luận phê bình thậm tệ về nền Tư Bản Kỹ Nghệ(Industial Capitalism) chứ không chủ trương nói về các nước còn trong chế độ Quân chủ. Sai! Cuộc cách mạng đầu tiên lại nổ ra ở Nga sô, nơi mà chế độ quân chủ còn tồn tại. Nga lúc đó ở trong giai đoạn quân chủ, chưa tiến tới tư bản, vì vẫn còn Nga Hoàng mà cả gia đình đều bị thủ tiêu, trừ người công chúa út, mà Walt Disney đã làm nên cuốn phim "Anatasia!" Lê Nin đã sửa chữa lý luận của Các Mác cho hợp với tình hình thời đó, nên nếu nói cho chính xác một cách khoa học, LÝ LUẬN NGUYÊN THỦY CỦA CÁC MÁC CHƯA BAO GIỜ ĐƯỢC NGƯỜI CỘNG SẢN ÁP DỤNG TRÊN THẾ GIỚIChỉ có lý thuyết MARXISM-LENINISM chủ trương “dùng Bạo Lực của kẻ vô sản, trần truồng, (10) chọi lại Bạo Lực của kẻ có tiền của” là được áp dụng. Sau này, Hồ Chí Minh đã lượm ý tưởng Mác Lê và cho là "một cuộc cách mạng của công nhân" phải được thực hiện để thay đổi toàn bộ cấu trúc xã hội. Rồi Bác thêm mắm muối vào cho ra vẻ Việt Nam. Bác lập ra những hợp tác xã nông nghiệp, công nghiệp dưới chế độ Bao Cấp mà không biết gì về tính quản trị, nên toàn bộ mấy cái hợp tác xã của Bác tan tành, bốc hơi hết trọi trước năm 2000.

5-Nói về tiến trình của lịch sử thế giới, Marx lại càng sai! Theo ông, lịch sử thế giới tiến theo một trình tự như sau: Nhân loại đầu tiên theo chế độ Cộng Sản nguyên thủy (Primitive Communism) vì hồi đó, ai có đồ hái lượm đều chia cho nhau xài chung.

Sau đó đến chế độ Nô Lệ (Slave Society), rồi Phong Kiến (Feudalism), tiếp theo là Tư Bản (Capitalism), cuối cùng là Xã Hội Chủ Nghĩa/Cộng Sản Chủ Nghĩa (Socialism/Communism) Thế là chấm dứt tiến triển.

Chủ Nghĩa Cộng Sản vô địch sẽ sống mãi trong lịch sử! (11)

Điều này sai trật rất lớn! Ai có thể khẳng định rằng trong thời hồng hoang, con người chia đồ cho nhau xài chung? Đâu chỉ có dựa vào một số đồ dùng đá, sắt ở một chỗ và mấy cái hình khắc trên hang động mà kết luận rằng mọi người thương yêu nhau, xài chung đồ! Họ có thể tranh giảnh nhau đến chết! Cho nên mới có sự rải rác, nhóm này ở đây, nhóm đó ở chỗ khác, lại còn vài cái sọ người cô đơn ở những chỗ không thể hiểu! Mấy dụng cụ lao động mà người ta tìm thấy thời ông cố, ông sơ ngày xưa, có cái còn nằm trong thân người khác, nghĩa là có đâm chém nhau, giành quyền sở hữu.

Rồi, sau khi Phong kiến tàn, Tư bản bây giờ còn lộng hành hơn bao giờ hết, chủ nghĩa xã hội thực sự chưa hề thấy! Sau thời gian Xếp Hàng Cả Ngày, Xạo Hết Chỗ Nói, Xếp Hạng Con Người Xuống Hàng Chó Ngựa, tất cả các lãnh đạo Cộng Sản trên thế giới đã biến thành Tư Bản, Tài Phiệt (Capitalist) hết, từ Cu ba, Trung Cộng, Bắc Hàn, đến mấy lãnh tụ của Việt Nam, người nào cũng chiếm đoạt hết tài sản dân chúng vào trong tay, chơi bời thỏa thích, sống huy hoàng trên đầu trên cổ dân mình. Thủ Lãnh của Bắc Hàn hiện nay sống xa hoa gấp ngàn lần các lãnh tụ Tư Bản, Phong Kiến, Thực Dân của thế kỷ trước. Từ Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Tấn Dũng, Nông Đức Mạnh, đến các lãnh tụ trong Bộ Chính Trị, và Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng Cộng Sản đều là những Đại Gia Tư Bản khổng lồ, những người mà Đảng đã từng “đánh” tan nát, trong các chiến dịch “ĐÁNH TƯ SẢN MẠI BẢN” nhiều lần trước 1975 tại miền Bắc và sau 1975 tại miền Nam. Hiện nay, Nguyễn Tấn Dũng và gia đình là một trong những nhà Tư Bản giầu nhất Đông Nam Á. Bố là Thủ Tướng, nắm quyền lực chính trị, con gái và con rể, thu hết mọi nguồn tiền đầu tư từ thế giới đổ vào Việt Nam, coi như hai cha con đã thống lĩnh toàn bộ đất nước về hai mặt Chính Trị và Thị Trường Tư Bản. Chế độ này còn quân chủ hơn các chế độ quân chủ khác trên thế giới vì vẫn áp dụng việc Cha Truyền Con Nối, tiền bạc ăn cướp được của nhân dân chỉ được lưu hành trong hệ thống gia đình, vợ lớn, vợ nhỏ, bồ nhí, cháu, chắt…Với quyền lực mênh mông, vô hạn, lại không có hệ thống kiểm soát, nên tha hồ chia chác tài sản, quyền hành cho nhau. Chế độ này còn KHỐN NẠN hơn mọi chế độ Thực Dân, Phong kiến, vì có toàn quyền bán đất, bán nước cho ngoại bang. Những nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá đều được giao cho người nước ngoài khai thác đến cạn kiệt. Ngoài Tây Nguyên với Bô xít, ngoài các công trình đi khắp đất nước được giao cho Trung Cộng, còn toàn bộ các rừng đầu nguồn, trong đó có rất nhiều tài nguyên, mỏ sắt, mỏ chì, mỏ kẽm… đều được giao cho Trung Cộng, kẻ luôn nuôi mộng xâm lăng nước ta, trong thời gian từ 50 năm đến 100 năm. Mấy năm trước đây, khi đón Tập Cận Bình, Nhà Nước đã cho trương toàn cờ Trung Cộng với sau (6) ngôi sao, chứng tỏ một cách hùng hồn là Việt Nam chỉ là một trong các “Tỉnh” chư hầu của Trung Cộng. Điều nhục nhã nhất là trong khi phất cờ Trung Cộng, thì lại quên cho phất cờ Việt Nam Cộng Sản, phong cách này y hệt như khi “Bác Hồ” đi thăm một tỉnh nào ở miền Bắc, chỉ phất một thứ cờ Cộng Sản Việt Nam mà thôi. Việc phất một thứ cờ Trung Cộng với 6 sao mà không cho phất cờ VNCS đã thực tế, công khai chấp nhận là Việt Nam là một tỉnh của Trung Cộng! Nhục nhã hơn nữa là cho bắt tù tất cả những ai yêu nước và lớn tiếng kêu gọi độc lập. Từ Điếu Cầy, Nguyễn Văn Tính, Phạm Thanh Nghiên.. đến một nhạc sĩ chỉ viết bài “Anh là Ai” kêu gọi Công An hãy cư xử như một người Việt Nam mà không phải là kẻ “lạ”, vậy mà cũng bị bắt giữ, tù đầy!

Như vậy, thực tế, Chủ Nghĩa Xã Hội của những người Cộng Sản đã chỉ là lý thuyết không tưởng, chỉ còn lại những biến thể của chế độ Tư Bản, một chế độ “Người Bóc Lột Người, Người Bán Nước Mình, dù vẫn mang nhãn hiệu Cộng Sản”. (10)

Với trình độ lý luận hiện tại, với phuơng tiện khoa học hiện tại, người ta biết chắc chắn rằng KHÔNG BAO GIỜ CÓ NGÀY MÀ THIÊN ĐƯỜNG CỘNG SẢN hiện diện ở trần gian, trong đó tất cả tài sản, công cụ lao động, phương tiện lao động và Lao Động đều được tập trung rồi phân chia đồng đều, mọi người "làm theo năng lực, huởng theo nhu cầu", sức khỏe và tài năng đến đâu thì làm đến đó, còn thích ăn, thích ở như thế nào thì cứ việc tự nhiên, vợ anh cũng là vợ tôi, má tôi có thể cũng là vợ anh, tôi muốn ăn đồ nhà anh, muốn xài bất cứ cái gì cũng đặng! (12)

6-Trên hết, sự sai lầm kinh khủng nhất của Marx là thiếu tâm lý học. Tuy người đời cho ông một đống tên tuổi nào là Nhà Sử Học (Historian), Triết gia (Philosopher), Khoa Học Gia Xã Hội (Social Scientist) và Nhà cách mạng (Revolutionist), ông lại thiếu một ngành quan trọng: Tâm Lý Học! Khi ông đề nghị một cuộc cách mạng rung trời, lở đất, để giành lấy chính quyền cho nhân dân, ông không biết rằng những kẻ lãnh đạo, sau khi thành công, thì không khi nào nhường lại cái đặc quyền lãnh đạo ấy cho nhân dân cả! Đã nắm được quyền lực thì nắm luôn. Đã lượm được tiền, vàng bạc, ngân khố rồi thì không ai thích trả lại.Thêm nữa, một khi đã say máu giết người rồi, thì cứ thế mà say máu, giết người! Do đó, mà sau các cuộc cách mạng xã hội, số người chết nhiều không thể đếm được. Người ta chỉ có thể ước lượng, Trung Cộng giết hơn BA CHỤC TRIỆU người, Liên Xô ít hơn, chỉ có hơn MƯỜI TRIỆU NGƯỜI thôi. Còn Việt Nam? Cuộc chiến vừa qua đã giết gần BA TRIỆU NGƯỜI, nếu nhân với con số trung bình là 4 người cho một gia đình, thì số người bị thiệt hại, oan ức thật sự là 12 triệu người.

Kết luận, để có thể chấm dứt cái chế độ oan oan nghiệt nghiệt Cộng Sản đang tàn phá quê hương và dân tộc ta, người dân Việt Nam phải đồng loạt đứng lên, và gào to chính cái mệnh lệnh mà Các Mác đã hô hoán ngày trước:

"Hãy để các lãnh đạo “Cộng Sản” rung động với một cuộc cách mạng mới! Những người bị bóc lột chả có gì để mất ngoài xiềng xích trên chân họ!"

Chu tất Tiến.



 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email  Thảo luận


Những nội dung khác:
Chúc Mừng Năm Mới 2026 [01.01.2026 19:26]




Lên đầu trang

     Tìm kiếm 

     Tin mới nhất 

     Đọc nhiều nhất 
Kiều bào phát triển quê hương [Đã đọc: 461 lần]
Tin tức thế giời mới nhât song ngữ Việt Anh để học sinh ngữ [Đã đọc: 435 lần]
Siêu đô thị Đà Nẵng mở rộng, siêu đầu tư địa ốc làm giàu [Đã đọc: 430 lần]
Làm Giàu Bằng Đầu Tư Chứng Khoán [Đã đọc: 417 lần]
Một châu Âu đứng trước ngã ba lịch sử [Đã đọc: 383 lần]
Làm thế nào đòi lại Hoàng Sa, Trường Sa từ Trung Cộng [Đã đọc: 371 lần]
Nghệ Thuật Làm Giàu Của Người Việt Hải Ngoại - “The Art of Wealth for Overseas Vietnamese”. [Đã đọc: 366 lần]
“NHỮNG NGƯỜI CUỐI CÙNG CÒN GIỮ LẠI CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN”** [Đã đọc: 364 lần]
Cách mạng chiếc đòn gánh của phụ nữ VN [Đã đọc: 362 lần]
Triết lý dân tộc Việt Nam siêu việt vượt tất cả triết lý Tàu, Tư Bản và CS [Đã đọc: 359 lần]

Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ

Bản quyền: Vietnamville
Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút: Tân Văn.