Toàn dân Việt Nam thuộc bất kỳ tín ngưỡng hay tôn giáo khác nhau, hãy cùng nhau nhiệt tình ủng hộ hành động yêu nước thương dân của các vị Linh Mục Thiên Chúa Giáo.
Tiến sỹ Nguyễn Sĩ Dũng, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội vừa có bài trên trangTia Sángđề nghị giải pháp "nhất thể hóa" để lập ra chức Tổng thống, người cũng là lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam.
Trong bài "Nhất thể hóa theo mô hình tổng thống lưỡng tính" (11/06), ông đề cập đến các nguyên tắc chung về hai thể chế mà quốc tế gọi là tổng thống chế và mô hình đại nghị.
Trung ương 5 và vấn đề 'nhất thể hóa'
VN: Lãnh đạo sai nên kinh tế không như ý?
Liệu Đảng có thể tự kiểm soát quyền lực?
Tuy nhiên, khi nói đến Việt Nam, ông Nguyễn Sĩ Dũng đã đi thẳng vào vấn đề như sau:
"Ở nước ta, với mô hình một đảng cầm quyền, Tổng thống có thể trao đổi thống nhất ý kiến với Đảng đoàn Quốc hội trước khi giới thiệu ứng cử viên giữ chức danh Thủ tướng."
"Khác với Tổng thống, Thủ tướng trong mô hình tổng thống lưỡng tính sẽ phải tương tác thường xuyên với Quốc hội, giải trình chính sách với Quốc hội và bị Quốc hội giám sát."
Ông cũng đề cập tới nhu cầu phải sửa đổi Hiến pháp như "một nhu cầu bắt buộc" một khi cơ cấu chính trị này được lựa chọn.
Các chi tiết về thủ tục ra sao một khi Việt Nam đi theo một trong hai mô hình này có lẽ là chuyện của tương lai, nhưng đây là lần đầu tiên, vấn đề "nhất thể hóa" với các chức danh cụ thể được đăng tải ở Việt Nam.
'Tổng thống' hay 'Chủ tịch'?
Chẳng hạn, ông Nguyễn Sĩ Dũng không gọi người đứng đầu Đảng là Tổng Bí thư như hiện nay mà bỏ ngỏ chức danh này, và chỉ gọi là "lãnh đạo Đảng".
Về chức danh người đứng đầu Nhà nước, ông Nguyễn Sỹ Dũng đề xuất gọi là Tổng thống.
Điều đáng chú ý là trong các văn bản tiếng Anh, Việt Nam đã công nhận chức danh Tổng thống (president) chứ không gọi là "chairman" (chủ tịch).
Trung Quốc cũng đã bỏ khái niệm "chairman" từ lâu và chỉ còn dùng để nói đến cố Chủ tịch Mao Trạch Đông (Chairman Mao).
'Nên bầu trực tiếp Tổng thống Việt Nam'
PETER MUHLY/GETTY IMAGESThêm nữa, lần đầu tiên ông Nguyễn Sĩ Dũng gợi ý nên cho tổ chức bầu tổng thống trực tiếp ở Việt Nam.
Trong phần đầu bài, ông nêu ra cách tổ chức chung của chế độ tổng thống:
"Tổng thống trong mô hình tổng thống lưỡng tính do toàn dân bầu ra nên độc lập với Quốc hội và không chịu trách nhiệm trước Quốc hội."
Còn về nhân vật thứ ba, ông đề nghị "Trong mô hình này, ngoài Tổng thống, còn có một yếu nhân khác cũng nắm quyền hành pháp là Thủ tướng."
Ủy viên Bộ Chính trị nào ở VN từng bị kỷ luật?
'Chính trị Việt Nam đang có sóng ngầm’
Vụ Đinh La Thăng: 'Giây phút quan trọng cho VN'
'Nhất thể hóa' để tránh chồng chéo?
Hiện chưa rõ các đề nghị của ông Nguyễn Sĩ Dũng được hưởng ứng ra sao tại Việt Nam sau khi bài ý kiến của ông được đăng trên diễn đàn của một báo nhỏ là trang Tia Sáng, thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ.
Điều được nói đến những năm qua là vấn đề Đảng Cộng sản Việt Nam có một bộ máy riêng, bao trùm lên bên hành pháp.
Đảng này nhận vai trò "lãnh đạo" mà không phải một cơ quan lập pháp.
Ngoài việc bộ máy Đảng và chính quyền "chồng chéo", người ta cũng nói về con số nhân sự tốn kém mà tất cả đều do ngân sách nuôi.
Nhu cầu 'nhất thể hóa' trong phạm vi một đảng cộng sản nắm quyền ở Việt Nam đã được tiếp cận công khai dù người ta không dùng các khái niệm như trong bài trên của ông Nguyễn Sỹ Dũng.
Hồi tháng 3/2017 đã có hội thảo do Ban Chỉ đạo Đề án Trung ương 6 của Đảng Cộng sản tổ chức lấy ý kiến vào dự thảo đề cương đề án "Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, xây dựng tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả".
Các báo Việt Nam tường thuật về sự kiện này đã chạy tựa là "Khắc phục tình trạng chồng chéo trong hoạt động của các cơ quan Đảng".
Các nước có cấu trúc thể chế ra sao?
Ở nhiều nước trên thế giới, lãnh đạo (leader) của đảng cầm quyền không nhất thiết phải là chủ tịch (chairman) của đảng đó.
Đây là các trường hợp "chairman" của đảng Bảo thủ Anh và đảng Cộng hòa ở Mỹ.
Chủ tịch chỉ là người điều hành công việc riêng của đảng này nhưng lãnh đạo đảng hoặc làm Thủ tướng (Anh), hoặc Tổng thống (Hoa Kỳ).
Còn tại Trung Quốc chủ tịch Đảng Cộng sản cũng là Chủ tịch nước, và hiện nay người nắm hai chức vụ này là ông Tập Cận Bình.
JACK TAYLOR/GETTY IMAGESTrên thực tế, ở Nhật Bản và Anh Quốc, thủ tướng vừa điều hành chính phủ, vừa là người nắm chức vụ cao nhất trong bộ máy nhà nước.
Đó là vì truyền thống của họ giữ lại hoàng gia với hoàng đế (Nhật Bản) hay nữ hoàng (Anh Quốc) là nguyên thủ quốc gia nhưng chỉ có quyền lực tượng trưng, để thủ tướng có thực quyền.
Ở Anh, chính thủ tướng đương quyền lại là người bổ nhiệm chức chủ tịch Đảng.
Chủ tịch Đảng Bảo thủ Anh, ông Patrick McLoughlin được bà Theresa May phong cho chức này hồi tháng 7/2016.
Thủ tướng có quyền rất to cũng là trường hợp của một số nước Đông Nam Á như Thái Lan, Campuchia, Brunei và Malaysia.
Còn tại Pháp, Ba Lan, Đức và nhiều nước châu Âu khác, thủ tướng chỉ là người đứng đầu nội các và điều hành chính phủ, dưới quyền của tổng thống.
Tương tự như thế, ông Nguyễn Sĩ Dũng đề nghị để Thủ tướng Việt Nam là người đứng đầu nội các và điều hành công việc hàng ngày của chính phủ.
Lãnh đạovà dân đều phải học để làm người tự do
Tôi cho rằng, mục tiêu của giáo dục là giúp cho người học vượt thoát khỏi những giới hạn do chính giáo dục mang lại. Học lại là hoạt động trọng tâm của giáo dục. Vì thế, câu trả lời ngắn gọn cho câu hỏi “Học để làm gì?” sẽ là: Học để trở thành con người tự do, trong đó quan trọng nhất là tự do tư tưởng, tự do lựa chọn, tự do trở thành, tự do kiến tạo.

Học để làm gì? là một câu hỏi cơ bản nhưng nhiều khắc khoải. Trong mấy năm vừa rồi, mỗi khi có dịp, tôi lại tiến hành những khảo sát bỏ túi với học sinh, sinh viên về câu hỏi nghe qua rất đơn giản này. Hầu hết các em không trả lời được.
Nếu gặng hỏi thì thường sau một hồi suy nghĩ, các em sẽ đưa ra một trong các câu trả lời khuôn mẫu: Học để làm người, học để phát triển bản thân, học để có công ăn việc làm, học để sau này đỡ khổ, học để thi v.v.
Ngay cả sau khi đã suy nghĩ như vậy thì phần lớn những câu trả lời này đều là một sự đối phó. Khi được hỏi đây là câu trả lời các em vừa nghĩ đến, hay đã nghĩ trước đó rồi, thì trên 80% cho biết vừa mới nghĩ đến. Và cũng trên 80% các em cho biết, chưa bao giờ tự mình đặt ra câu hỏi “Học để làm gì?” cho chính bản thân mình.
Chưa kể, nếu hỏi sâu hơn một chút, rằng: học để làm người, nhưng đó là con người nào, hoặc học để phát triển cá nhân, nhưng là phát triển cái gì, thì gần như 100% các em đều bí.
Điều này cũng hợp lý, vì trong suốt thời gian ngồi trên ghế nhà trường, tôi cũng chưa bao giờ tự đặt ra những câu hỏi đó cho mình. Các thầy cô của tôi cũng không bao giờ nhắc đến. Đến lớp, học bài, về nhà, làm bài tập, đến lớp, học bài, về nhà, làm bài tập… là một chu trình khép kín mỗi ngày. Còn học, kiểm tra, thi, rồi lại học, kiểm tra, thi là một chu trình khép kín của mỗi năm học. Phần lớn chúng ta đi qua và thực hiện chu trình đó như một sự hiển-nhiên, không hề chất vấn ý nghĩa của nó đối với sự trưởng thành của chính mình. Cho đến một ngày ra trường, ta giật mình tự hỏi, và hoang mang khi biết rằng mình đã dành mười mấy năm đi học, nhưng không biết học để làm gì!
Học mà sau mười mấy năm vẫn không biết học để làm gì thì chưa gọi là học. Người học khi đó đã bị mắc kẹt vào chính những điều mình được học và bị học. Sự học như vậy chưa làm người học thức tỉnh, dám thoát ra khỏi những điều mình đã học, sàng lọc lại và sử dụng chúng như những công cụ phục vụ cho công việc và cho sự trưởng thành về trí tuệ của chính mình.
Chỉ dấu đầu tiên cho những người trưởng thành như thế là khả năng tư duy độc lập, và xa hơn là những con người tự do, có khả năng tự lãnh đạo cuộc đời mình, và dám chịu trách nhiệm với chính mình về sự tự lãnh đạo đó.
Vấn đề đặt ra: Con người tự do là con người nào mà lại được coi là đích đến của giáo dục?
Tự do tư tưởng
Con người tự do trước hết thể hiện ở khả năng tự do tư tưởng của người đó. Để làm được như vậy, người đó phải có khả năng sử dụng lý trí của mình để tư duy một cách độc lập hầu phát triển nhận thức của riêng mình, nhưng cũng lại tôn trọng nhận thức của người khác.
Biểu hiện thứ hai của tự do tư tưởng là khả năng dịch chuyển nhận thức, dịch chuyển các khung tham chiếu mà mình đang có; làm mới hoặc từ bỏ nhận thức đã có để đón nhận một khung nhận thức mới khách quan, toàn diện hơn. Một người không có khả năng dịch chuyển nhận thức thì sẽ mắc kẹt vào chính nhận thức của mình. Khi đó anh ta không sử dụng nhận thức mà đang bị nhận thức, đóng vai trò như một định kiến, sử dụng mình.
Biểu hiện thứ ba của tự do tư tưởng là khả năng diễn đạt ý kiến, suy nghĩ, tư tưởng của mình một cách công khai cho đại chúng. Suy nghĩ, tư tưởng diễn ra trong đầu mỗi người, người ngoài không thể truy nhập được. Nếu anh không diễn đạt công khai cho người khác biết để cùng thảo luận, để được đón nhận hoặc bác bỏ, thì sự tự do tư tưởng đó không có ý nghĩa. Khi đó tư tưởng sẽ luôn bị giới hạn, thiếu kiểm chứng và phản biện khách quan, và như vậy tự do tư tưởng sẽ chỉ là che đậy cho một sự chủ quan và sợ hãi, chứ không phải là tự do tư tưởng đích thực.
Tự do lựa chọn
Sau khi đã có tự do tư tưởng thì con người tự do sẽ thực thi nó trong đời sống cá nhân và xã hội thông qua tự do lựa chọn. Nói cách khác, người đó phải có khả năng đưa ra lựa chọn của mình một cách chân thật, trong tự do và sau khi suy xét, chứ không vì một sự ép buộc hay a dua nào.
Khác với tự do tư tưởng có khi chỉ diễn ra trong tâm trí của mỗi người, tức trong thế giới chủ quan chỉ mình người đó biết, tự do lựa chọn tạo ra tác động đến bản thân chủ thể và thế giới xung quanh, và người đưa ra lựa chọn sẽ phải chịu trách nhiệm về tác động đó, với pháp luật hoặc luân lý xã hội.
Tự do lựa chọn sẽ luôn đi kèm với việc tự chịu trách nhiệm về lựa chọn của bản thân. Một người tự do lựa chọn sẽ là chủ nhân đích thực của đời mình, sống cuộc đời của chính mình, do mình lựa chọn và tự chịu trách nhiệm, chứ không phải do thầy cô hay bố mẹ chọn thay, cũng không phải do một sự áp đặt nào khác.
Như thế, học để trở thành người có tự do lựa chọn là học cách lãnh đạo bản thân mình, làm chủ cuộc đời mình, và tự chịu trách nhiệm về các lựa chọn của mình, trong tự do và thấu hiểu.
Lưu ý rằng, tự do tài chính, một khái niệm đang được nói nhiều trong giới trẻ, chỉ là một biểu hiện cụ thể của tự do lựa chọn về mặt tài chính.
Tự do trở thành
Một cách hiển nhiên, sự trở thành của mỗi người là kết quả của sự tương tác giữa các yếu tố bên trong và bên ngoài. Nếu tự do tư tưởng là thứ tự do có tính cách nội tại, thì tự do lựa chọn lại có tính ngoại. Chính sự tương tác giữa hai yếu tố bên trong và bên ngoài ở thời điểm hiện thời này sẽ tạo ra sự trở thành cho mỗi người ở thời điểm kế tiếp. Tự do trở thành vì thế chính là khả năng làm chủ sự trở thành của mình, thông qua việc thấu hiểu làm chủ những gì đang diễn ra bên trong và bên ngoài mình.
Vì những gì diễn ra bên trong mình không chỉ là suy nghĩ và tính toán, mà một phần rất lớn và quan trọng là cảm xúc. Một người thấu hiểu những gì đang diễn ra bên trong mình vì thế đòi hỏi không chỉ có trí tuệ của lý trí, mà còn thấu hiểu và phát huy được trí tuệ cảm xúc trong một sự cân đối, hài hòa.
Cũng lại vì những gì diễn ra bên ngoài mình, tức thế giới xung quanh, không thể chỉ đơn thuần gói gọn trong các mô tả và diễn giải có tính lý thuyết, nên một người muốn thấu hiểu những gì đang diễn ra trong thế giới xung quanh đòi hỏi trước hết ở trải nghiệm và khả năng kết nối với thế giới đó, sau đó là trí tuệ phân tích và trực giác, để thấu hiểu nó theo cách chân thật nhất.
Một người như thế là một người không chỉ có tự do, mà còn rất tỉnh thức, với những gì đang diễn ra bên trong và bên ngoài mình, và với cả cách thức mà mình đang đi qua cuộc sống này. Nói cách khác, người đó đã trả lời được câu hỏi “Tôi là ai?” và “Ta sẽ làm gì với cuộc đời mình?”, và luôn tỉnh thức để có được sự trở thành nhất quán với các câu trả lời đó.
Một người như thế là một người lịch lãm tinh thông trong việc sống. Do tinh thông việc sống như thế, người đó sẽ có được bình an từ bên trong, luôn làm chủ bản thân và làm chủ cách đón tình huống mà mình đang đối mặt, theo cách tự nhiên và hiệu quả.
Tự do kiến tạo
Một biểu hiện quan trọng khác của con người tự do là ở khả năng tự do kiến tạo. Tự do kiến tạo cũng là điều kiện cần thiết cho một cuộc sống tự do đích thực và có ý nghĩa không chỉ với bản thân mà còn với xã hội.
Để có được tự do kiến tạo, trước hết một người phải có khả năng kiến tạo trong tâm trí mình điều mà họ mong muốn. Muốn vậy, trước hết phải có tự do tư tưởng, nếu không người đó sẽ mắc kẹt vào những điều đã biết và không có khả năng kiến tạo ra cái gì mới.
Sau đó, người ấy phải có tự do lựa chọn để có khả năng chuyển những điều mình đã kiến tạo trong tâm trí ra bên ngoài thông qua lựa chọn. Nhưng sau khi đã lựa chọn rồi, để không bỏ cuộc khi gặp khó khăn và cam kết với sứ mệnh mình đã đặt ra, người đó phải có khả năng thấu hiểu những gì đang diễn ra bên trong và bên ngoài mình, làm chủ sự trở thành của mình, tức làm chủ diễn tiến của cuộc đời mình, trong tự do và thấu hiểu.
Nhận thức của mỗi người có được là do trải nghiệm ở trong quá khứ của cá nhân người đó, vì thế để có được tự do kiến tạo, thì một người phải thấu hiểu các giới hạn do quá khứ mang lại, và sẵn lòng vượt thoát khỏi quá khứ để kiến tạo cái mới.
Ngoài ra, để hiện thực hóa một sự kiến tạo xứng đáng thường bao giờ cũng đòi hỏi nguồn lực và sự tham gia của nhiều hơn một người . Điều này đòi hỏi ở mỗi người năng lực phối hợp làm việc cùng người khác. Do đó, những kỹ năng như làm việc nhóm, tư duy phê phán, chung sống trong sự đa dạng, tôn trọng sự khác biệt, cân bằng và điều phối lợi ích, thỏa hiệp để đạt đồng thuận… trở thành những yêu cầu bắt buộc.
Chỉ khi có được tự do tư tưởng, tự do lựa chọn, tự do trở thành, khả năng vượt qua được những giới hạn trong nhận thức của mình, và khả năng phối hợp làm việc cùng người khác trong một tâm thế chủ động, một người mới có được tự do kiến tạo để tạo ra một điều gì đó xứng đáng, quan trọng nhất là kiến tạo chính cuộc đời mình và mang lại cho nó một giá trị, một ý nghĩa, trong suốt hành trình sống.
Đến đây, hẳn bạn đã nhìn ra câu trả lời cho câu hỏi: Học để làm gì?
Với tôi, học là để trở thành con người tự do. Và tôi luôn nhất quán với câu trả lời xuyên suốt đó.
Vì nhân dân quá thụ động, Việt Nam nằm trong số 49 nước không có tự do
Một báo cáo của tổ chức Freedom House xếp Việt Nam vào nhóm 49 nước “không có tự do”. So với các năm trước, mức độ tự do của Việt Nam không có chuyển biến gì.
Freedom House, một tổ chức theo dõi nhân quyền độc lập có trụ sở ở Mỹ, mới công bố báo cáo “Tự do trên thế giới 2017”. Theo báo cáo, có 195 nước được đánh giá, 87 nước được xếp hạng có tự do, 59 nước tự do phần nào và 49 nước không có tự do.
Trên thang điểm 100, Việt Nam được 20 điểm, số điểm càng thấp đồng nghĩa càng ít tự do. Trong hai hạng mục riêng rẽ, Việt Nam ở mức 7/7 về các quyền chính trị và 5/7 về các quyền tự do dân sự. Trên thang điểm này, 7 điểm là ít tự do nhất.
Báo cáo nhìn nhận rằng các lĩnh vực rất quan trọng mà Việt Nam thiếu là tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do thông tin và tự do trên mạng Internet. Việt Nam bị coi là “chẳng có thay đổi nào đáng kể so với năm ngoái” với thực tế nhiều người đối lập vẫn bị bắt giữ, tiếng nói của các xã hội dân sự hay của những nhà hoạt động độc lập bị dập tắt.
Từ Việt Nam, hai nhà hoạt động thúc đẩy dân chủ Phạm Đoan Trang và Vũ Quốc Ngữ nói với VOA họ hoàn toàn đồng ý với những kết luận của Freedom House.
Ông Vũ Quốc Ngữ, tổng giám đốc của Người Bảo vệ Nhân quyền, nói:
“Chính quyền Việt Nam trong năm 2016 họ đã bắt, xét xử hơn 18 người bất đồng chính kiến, nhà hoạt động nhân quyền, nhà hoạt động xã hội. Họ bắt giữ rất nhiều đầu năm 2017, kể cả một tuần trước Tết Nguyên đán. Những cái chỉ số như thế thì tôi nghĩ là họ [Freedom House] đánh giá rất là chính xác”.
Nhà hoạt động Phạm Đoan Trang bày tỏ ý kiến:
“Trong quyền dân sự không có một thay đổi nào cả. Còn về các quyền chính trị, năm vừa qua 2016, chúng ta thấy rất rõ là người dân Việt Nam không có một chút nào, nên tôi đồng ý là về quyền chính trị họ chấm 7/7, tức là điểm thấp nhất, là hoàn toàn chính xác”.
HRW chỉ trích nhân quyền Việt Nam
0:01:19
0:00:00/0:01:19
▶
Đường dẫn trực tiếp
Trong bối cảnh lãnh đạo Việt Nam thúc đẩy quan hệ với Trung Quốc, một nước cũng khét tiếng về đàn áp, chuyên chế; trong khi Mỹ và các nước vốn thường cổ súy cho dân chủ, nhân quyền đang vật lộn với các vấn đề lớn về nội bộ hoặc địa chính trị, hai nhà hoạt động đưa ra dự báo bi quan về tình trạng tự do của Việt Nam trong ngắn hạn.
Họ cũng cho rằng những người đấu tranh ở Việt Nam phải dựa vào chính mình thay vì trông cậy vào tác động từ bên ngoài.
Ông Vũ Quốc Ngữ, người cũng là thành viên của Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam, nói:
“Tôi nghĩ rằng chính quyền Việt Nam sẽ trở nên thân thiết hơn với Trung Quốc. Họ sẽ tìm mọi cách để giữ địa vị độc tôn của Đảng Cộng sản ở Việt Nam và do đó họ sẽ đàn áp mạnh mẽ hơn nữa và sẽ có nhiều vụ bắt bớ. Do đó tôi chưa nhìn thấy một cái cải thiện về tình hình nhân quyền, về dân chủ ở Việt Nam trong thời gian ngắn hạn, trước hết là một đến hai năm. Mỹ và những nước như EU họ có bớt quan tâm về tình hình nhân quyền ở Việt Nam. Họ không thể quan tâm đến mức như trước nữa. Những người ở trong nước, những người hoạt động chính trị, hoạt động nhân quyền, hoạt động xã hội sẽ vấp phải những khó khăn hơn nữa. Tôi được tiếp xúc với nhiều người thì họ cũng sẵn sàng đón nhận mọi cái thử thách. Họ cũng xác định là việc đấu tranh không phải là món quà của Trời mà phải tự thân vận động”.
Bà Phạm Đoan Trang nhận định:
“Tôi nghĩ rằng sẽ không có thay đổi gì theo hướng tốt lên cả từ phía chính quyền Việt Nam. Tôi cảm thấy rất rõ quan điểm của họ là khủng bố và đàn áp nó có tác dụng thật, có gây hiệu ứng sợ hãi thật. Tôi nghĩ rằng với cái tư duy như vậy họ sẽ còn tiếp tục, còn bắt nhiều hơn, đàn áp nhiều hơn. Tôi tin năm 2017 họ sẽ tiếp tục bắt tiếp. Ông Trump trở thành tổng thống [Mỹ], tôi nghĩ là ông ấy sẽ không quan tâm đến Việt Nam. Quốc hội Mỹ có thể còn có một số dân biểu do bị tác động của cộng đồng người Việt thì họ còn có thể có một vài tiếng nói, một vài phát biểu. Tiếng nói về mặt quốc tế để phần nào đó ảnh hưởng đến chính quyền Việt Nam thì không còn nữa. Nhưng mà cũng không sao vì tôi vẫn cho rằng việc của Việt Nam thì Việt Nam sẽ tự giải quyết hơn là trông chờ vào sức ép, ảnh hưởng của quốc tế”.
Trong báo cáo năm nay của Freedom House, Việt Nam không bị xếp vào nhóm 11 nước kém tự do nhất, bao gồm các nước lần lượt theo điểm số kém dần là Syria, Eritrea, Bắc Hàn, Uzbekistan, Nam Sudan, Turkmenistan, Somalia, Sudan, Guinea Xích đạo, Cộng hòa Trung Phi và tồi tệ nhất là A-rập Xê-út.

Các chuyên mục 



