Tưởng niệm 50 năm tội ác chiến tranh Tết Mậu Thân 1968: Tướng Giáp: Vụ Mậu Thân ‘thiếu cân nhắc’ và ‘đánh ẩu’
02.02.2018 21:09
Tết Mậu Tuất - 2018 năm nay là dịp kỷ niệm tròn 50 năm sự kiện Mậu Thân 1968, báo chí trong nước và ngoài nước, Hoa Kỳ và các nước phương Tây, đều bàn luận về trận chiến này.
Hà Nội đã tổ chức lễ kỷ niệm Nhà nước, long trọng với sự tham dự của « tứ trụ », Tổng bí thư, Chủ tịch Nước, Thủ tướng, Chủ tịch Quốc hội, đáng chú ý là có cả nguyên Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã về nghỉ hưu để được là « người tử tế ». Nhiều cuộc biểu diễn văn nghệ được tổ chức. Trong không khí xã hội ảm đạm, đời sống khó khăn, niềm tin thiếu vắng, mọi thứ thuế gia tăng, giá xăng dầu lên cao, Ban tuyên giáo TƯ tận dụng mọi sư kiện cũ và mới để cố lên giây cót tinh thần toàn dân, như họ đã bốc đồng bày ra quá nhiều cuộc họp hành từ Bắc vào Nam, qua trận được vào chung kết của đội bóng trẻ U23 Việt Nam ăn mừng một cách quá lố, làm cho các em vất vả mệt nhọc thêm sau một thời gian thi đấu hết sức căng thẳng ở Trung Quốc. Tôi đã hỏi chuyện tướng Lê Minh, tư lệnh một cánh quân, trung tướng Trần Văn Quang, tư lệnh măt trận Trị Thiên: Các vụ thảm sát là có thật. Dùng ngoa ngôn, xảo ngôn là cái nghề truyền thống của « đảng ta ». Đại thắng Mậu Thân, nhưng đại thắng ở chỗ nào? Có thể gọi là đại thắng được không? Khi lợi dụng lời hứa hưu chiến 7 ngày để đúng giao thừa 30 và mồng 1 Tết mở cuộc Tổng tiến công và hy vọng tổng khởi nghĩa khắp miền Nam tại 40 thành phố thị trấn, 72 quận lỵ, để đạt kết quả ra sao? Ngoài thành phố Huế giữ được trong 25 ngày, các thành phố khác chỉ thâm nhập được vài ngày - lâu lắm là 4 đến 5 ngày, các quận lỵ chỉ thâm nhập được 2, 3 ngày là bị diệt lớn và bị quét sạch. Nổi dậy, đồng khởi hoàn toàn không xảy ra.mảng lớn quân Mỹ và Việt Nam Cộng Hòa, giải phóng các thành phố và thành thị lâu dài, dân chúng toàn miền Nam nổi dậy lập chính quyền mới khắp nơi, cả 3 mục tiêu chiến lược ấy đều chỉ là ảo tưởng cay đắng. Ngược lại lực lượng vũ trang của Măt trận và miền Bắc bị tổn thất rất nặng nề sau khi bị đối phương phản công liên tiếp, từ tháng giêng Mậu Thân 1968 đến cuối năm 1970, lực lượng tại chỗ, hàng trăm đơn vị biệt động, 4 sư đoàn chính quy, các đơn vị địa phương tỉnh huyện bị tổn thất cực lớn, các cơ sở quần chúng bị lộ và bị quét gần sạch, phải cầu cứ gấp miền Bắc đưa quân vào thay. Vậy thì đại thắng Mậu Thân ở chỗ nào? Có vài chỗ nổi bật như một tổ biệt động đột nhập sứ quán Hoa Kỳ trong một buổi, 2 nhóm quân đột nhập Sân bay Tân Sơn Nhất trong 1 đêm, gây chấn động dư luận phương Tây, nhưng không có giá trị quân sự gì thực chất lâu dài. Có gì để mà kỷ niệm hoành tráng khi sự kiện Mậu Thân tiêu biểu cho một sự lãnh đạo chiến tranh rất chủ quan, mang nặng tính phiêu lưu mù quáng, thái độ vô trách nhiệm với sinh mạng của hàng chục vạn quân nhân, đề ra các cuộc tiến công ồ ạt thiếu chuẩn bị, cân nhắc kỹ lưỡng, khoa học. Có thể nói sự kiện Mậu Thân là tiêu biểu cho thái độ vô trách nhiệm Vụ Mậu Thân là chủ trương thiếu cân nhắc, thiếu trách nhiệm, là đánh ẩu, khi các điều kiện chưa đủ, quân Mỹ còn rất đông, khống chế cả trên không bằng lực lượng không quân chiến đấu, trực thăng, cả trên bộ bằng xe tăng, xe bọc thép. Nay lịch sử quân sự đã chỉ rõ, việc hoạch định kế hoạch của đòn chiến lược này không được thảo luận kỹ tại Bộ Chính trị, không có sự tham gia của ông Hồ Chí Minh và ông Võ Nguyên Giáp, nhóm lãnh đạo hiếu chiến mù quáng kiêu ngạo và đại chủ quan gồm có Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Nguyễn Chí Thanh, Phạm Hùng, Văn Tiến Dũng… đã lên phương án tiến công bí mật. Họ vin cớ ông Hồ cao tuổi, ốm yếu, mất ngủ, không nên để ông Hồ bận tâm, « xin để Bác sang Bắc Kinh tĩnh dưỡng, Bác làm cho bài thơ cổ động chiến sỹ là tốt quá rồi », đại thể là thế. Họ cũng bày chuyện để ông Giáp khẩn cấp sang Hungari mổ túi mật bị viêm và an dưỡng bên đó. Chính ông Giáp đã kể lại cho tôi khi tôi đi cùng ông sang Liên Xô tháng 4/1977, tại nơi nghỉ mát Sochi, rằng « Vụ Mậu Thân là chủ trương thiếu cân nhắc, thiếu trách nhiệm, là đánh ẩu, khi các điều kiện chưa đủ, quân Mỹ còn rất đông, khống chế cả trên không bằng lực lượng không quân chiến đấu, trực thăng, cả trên bộ bằng xe tăng, xe bọc thép ». Ông còn nói rõ rằng: Lẽ ra sau đợt 1 không đạt, bị đẩy lui, phải rút về nông thôn củng cố thì lại cay cú liều lĩnh ra lệnh cố mở thêm đợt tiến công 2 (tháng 5) và ép thêm đợt 3 (tháng 9) nên thất bại càng nặng, tổn thất càng lớn, phải 2 năm sau mới tạm phục hồi và phải đưa thêm quân từ miền Bắc dù chưa qua huấn luyện thật tốt. Đây là những nhận định xác đáng. trách nhiệm không coi trọng sinh mạng người lính, những sinh mạng trẻ đầy sức sống là vốn phát triển lâu dài quý báu nhất của dân tộc, theo kiểu tiến công « biển người » của học thuyết quân sự Mao Trạch Đông và Lâm Bưu, từng hy sinh hàng triệu quân nhân ở chiến trường Triều Tiên mà không chút tính tóan. Trong sự kiện Mậu Thân, hiện còn một vấn đề vướng mắc là những cuộc thảm sát dân thường là có thật? quy mô? và nguyên nhân? Đây là vấn đề tôi quan tâm tìm hiểu từ khi ở trong nước. Tôi đã hỏi chuyện tướng Lê Minh, tư lệnh một cánh quân, trung tướng Trần Văn Quang, tư lệnh măt trận Trị Thiên về chuyện này. Các vụ thảm sát là có thật. Có đến 5 địa điểm số người bị chôn sống lên đến từ 3 nghìn đến 2 trăm, đồng bào đã đào bới để chôn cất, tổ chức lễ tang. Con số là từ 4 nghìn đến 6 nghìn. Về chủ trương thì theo tôi là không có. Không có lệnh nào từ Bộ chính trị, TƯ, Quân ủy hay Bộ Quốc phòng như có người khẳng định là có lệnh diệt chủng. Còn có phổ biến khi mở chiến dịch bản Kỷ luật chiến trường là không được chiếm riêng chiến lợi phẩm, không được chửi bới đánh đập, giết tù binh. Theo tôi có 2 nguyên nhân để giải nghĩa các cuộc tàn sát trên. Một là tôi được biết khi chuẩn bị chiến dịch đã có văn bản phổ biến cho mọi người là Thừa Thiên – Huế là một địa bàn chính trị hiểm yếu bậc nhất, trong đó có rất nhiều Việt gian phản động, nhiều ác ôn ác bá địa chủ phong kiến thuộc giòng tôn thất, Ưng, Bửu, Vĩnh… của vua Bảo Đại, có rất nhiều đảng viên Dân chủ của Nguyễn Văn Thiệu, rất nhiều tay sai ác ôn của Ngô Đình Cẩn lãnh chúa miền Trung khét tiếng chống Cộng. Tiến công quân sự đi cùng quét sạch bọn phản động Việt gian. Do lệnh như thế nên mỗi ngày một có nhiều tù binh quân nhân và thường dân là viên chức cấp thôn xã, quận huyện, thành phố Huế và tỉnh Thừa thiên. Một số tù binh quan trọng được đưa lên núi, còn các đơn vị đều có số ít nhiều tù binh bị trói tay đi theo cuộc hành quân. Có đại đội có vài chục tù binh phải giữ. Mỗi tiểu đoàn hàng trăm, mỗi trung đòan hàng nghìn tù binh. Khi di chuyển thật là gánh nặng cho đơn vị. Sau 2 tuần tiến công, quân Mỹ mở cuộc phản công lớn của hải quân lục chiến, với hàng trăm cuộc ném bom, hàng vạn trái pháo từ các tàu hải quân Mỹ ngoài biển bắn vào. Hàng ngũ « quân giải phóng » bị tổn thất ngày càng lớn, phải mang theo nhiều thương binh. Từ ngày 15 âm lịch, có lệnh tất cả rút lui gấp lên vùng núi căn cứ cũ, bảo toàn lực lượng, nhưng kèm theo một nghiêm lệnh nữa là phải đưa tù binh theo, không được để xổng vì sẽ làm lộ nơi hành quân rất tai hại cho an toàn. Các cán bộ cơ sở bị đặt trong tình hình gay gắt. Làm sao hành quân được nhanh, gọn, an toàn, với hàng nghìn thương binh cáng theo mà không được để xổng tù binh, khi không còn người để canh giữ. Các chỉ huy đại đội, tiểu đoàn, trung đoàn bị dồn đến thế cùng, nảy ra giải pháp bất đắc dĩ là thủ tiêu. Môi trường là chiến tranh, là chết chóc, là máu lửa… Thế là tù binh bị chôn sống, suy cho cùng vẫn là do lệnh ép buộc từ trên cao. Tội phạm là đảng đã làm gương coi thường sinh mạng con người ở cả hai bên, « dù đốt cháy dãy núi Trường Sơn cũng không ngại. » Lẽ ra kỷ niệm Mậu Thân phải tổ chức Tưởng niệm, Cầu Siêu và Sám hối, như Giáo sư đảng viên Đào Công Tiến, Hiệu trưởng Đại học Kinh tế Sài Gòn, đề nghị vào dịp kỷ niệm 30/4 năm ngoái, rất nên chuẩn bị thực hiện năm nay, nhân kỷ niệm 50 năm sự kiện Mậu thân 1968 và 30/4/2018.
Cuộc tấn công Mậu Thân 1968 trong hoàn cảnh chính trị lịch sử thế giớiChu Chi Nam và Vũ Văn Lâm (Danlambao) - Sau 50 năm tết Mậu Thân, một cái Tết ghi rõ tội ác của cộng sản vô thần Việt Nam, đánh dấu một vết nhơ trong lịch sử Việt với cả chục ngàn người chết, bắt đầu đúng vào đêm Giao Thừa, thời điểm linh thiêng mà mọi người dân Việt tưởng niệm công ơn các anh hùng, liệt sĩ, ơn đức sinh thành dưỡng dục của ông bà, cha mẹ, thì cộng sản xé bỏ hiệp định đình chiến vào 3 ngày Tết, khai hỏa và tạo ra những cuộc thảm sát khắp miền nam Việt Nam. Cao điểm là cuộc thảm sát dã man tại Huế.
Lịch sử cận đại Việt Nam, từ ngày Hồ Chí Minh, được Đệ Tam Quốc tế Cộng sản đưa về, rồi nổi lên cướp chính quyền ngày 19/08/1945, đặt Việt Nam vào gông cùm cộng sản, biến đất nước trở thành bãi chiến trường của cuộc tranh hùng tư bản - cộng sản mà dân tộc Việt là nạn nhân. Từ đó đến nay, không một biến cố chính trị lịch sử quan trọng nào của Việt Nam mà không có bàn tay quốc tế. Đúng hơn là của các siêu cường: Từ Hội nghị Genève 1954, qua Hội Nghị Paris 1973, tới Hội Nghị Thành đô 1990: Genève chia đôi nước Việt Nam, Paris làm mất miền Nam, Thành đô dâng đất, nhượng biển cho Tàu cộng. Tất nhiên trong đó có cuộc tấn công của cộng sản vào dịp Tết Mậu thân 1968, đưa đến cả chục ngàn người chết, máu chảy thành sông, xương chất thành núi.
Vậy chúng ta hãy nói sơ về hoàn cảnh chính trị và lịch sử thế giới của cuộc tấn công này.
Thật vậy, có người nói: "Hai tội đồ của dân tộc Việt Nam trong lịch sử cận đại là Hồ Chí Minh và De Gaulle". Điều này quả không sai.
Hồ Chí Minh, vì nghe lời Đệ Tam quốc tế Cộng sản, đã du nhập ý thức hệ Mác Lê, áp đặt lên đầu dân tộc Việt, chủ trương đấu tranh giai cấp, bạo động lịch sử, xúi con đấu bố, vợ tố chồng, anh em, bè bạn sát hại lẫn nhau, gây ra không biết bao đau thương, tang tóc cho dân tộc.
Thêm vào đó, De Gaulle, sau khi theo chân đoàn quân Đồng minh, trở về Paris, có được chính quyền, đã quyết định lập tức gửi quân sang Đông Dương tái lập lại nền thuộc địa Pháp, trái với tinh thần công pháp quốc tế của 2 Hội nghị Yalta và Potsdam. Chính vì vậy mà Việt Nam đã trở thành chiến trường của cuộc tranh hùng tư bản - cộng sản và dân Việt là nạn nhân.
Cuộc tấn công Tết Mậu Thân nhằm đúng vào cao điểm của cuộc tranh hùng này. Nói khác đi là cao điểm của Chiến Tranh Lạnh. Chiến tranh Lạnh bắt đầu ngay sau khi Đệ Nhị Thế Chiến (1939-1945) chấm dứt. Hai cường quốc dẫn đầu cuộc chiến tranh này: một bên là Liên Sô, bên kia là Hoa Kỳ.
Khi nói đến các cường quốc, chúng ta không thể không nói đến giới lãnh đạo của họ.
Phía cộng sản Liên Sô: Người lãnh đạo Liên Sô suốt trong thời gian Đệ Nhị thế chiến cho tới thời kỳ đầu của Chiến tranh Lạnh là Staline. Ông chủ trương đẩy mạnh Chiến tranh lạnh, như việc phong tỏa thành phố Berlin năm 1948, đứng đằng sau việc giúp đỡ Kim Nhật Thành, ông nội của Kim Chánh Vân hiện nay, xua quân xuống miền Nam Triều Tiên, với ý đồ tiêu diệt chế độ tự do, dân chủ của Lý Thừa Vãn, khiến Hoa Kỳ phải đổ bộ quân vào để giải cứu năm 1950.
Nhưng vào năm 1953, Staline bị 2 người tay em thân tín là Khrouschev và Béria đầu độc chết. Khrouschev lên thay và lãnh đạo Liên Sô từ năm 1953 tới năm 1964. Ông này chủ trương hòa hoãn với tư bản, đưa ra những khẩu hiệu như tư bản, cộng sản chung sống hòa bình, nguyên tử phục vụ hòa bình.
Người ta có thể nói Khrouschev là một trong những người lãnh đạo cộng sản đã nhìn ra sự sai lầm của chủ nghĩa này, qua câu nói: "Mục đích chính của kinh tế là làm sao để tăng trưởng sản xuất, chứ không phải là chia đều sản xuất" như Marx chủ trương.
Hơn thế nữa ông còn là nạn nhân của chủ nghĩa độc tài, độc đoán, tôn thờ cá nhân của Staline. Trong nhật ký của ông, ông đã viết rằng mỗi đêm, khi nghe điện thoại của Staline kêu đi họp, ông đều phải trăn trối với vợ con, vì không biết mình còn sống để trở về hay không. Staline trong thời gian cầm quyền đã thủ tiêu 9/10 Bộ Chính trị và 2/3 Trung Ương đảng.
Tuy nhiên thời gian cầm quyền của Khrouschev cũng không kéo dài, vì tình hình chính trị, lịch sử thế giới thay đổi nhiều. Như việc Hoa Kỳ bị sa lầy ở Việt Nam, cuộc đảo chính nền Đệ nhất Cộng hòa Việt Nam, tiếp theo là bất ổn chính trị với những cuộc đảo chính. Anh em Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị sát hại ngày 01/11/963. Chỉ 2 tuần sau thì Tổng thống Hoa Kỳ bị ám sát ở Dallas.
Chính vì lẽ đó mà phe bảo thủ, chủ trương trở về Chiến tranh lạnh, cầm đầu bởi Brejnev, trở nên mạnh, đã đảo chính Khrouschev, và lên thay thế ông vào năm 1964.
Brejnev đã thuyết phục được Trung ương đảng qua một chính sách gồm 2 kế sách, với một tiền đề: Đừng nghĩ tư bản mạnh hơn cộng sản, mà phải nghĩ cộng sản mạnh hơn tư bản. Chiến lược của cộng sản không thể là một chiến lược phòng thủ, mà phải là một chiến lược tấn công.
Chiến lược tấn công đó gồm 2 kế sách:
Thượng sách, đó là tấn công tư bản ở khắp nơi trên thế giới, ngay ở trong lòng những nước tư bản như Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Đức, Ý v.v..., để tư bản sụp đổ, để ngọn cờ cộng sản có thể cắm ở mọi nơi.
Trung sách, đó là, nếu không được, thì lấy trục Sài gòn, Pnomph Penh, Bangkok, Kaboul, Moscou làm giới tuyến. Bên phía đông thuộc về cộng sản, phía tây thuộc về tư bản. Chia đôi thế giới.
Ông đã dùng 3 quốc gia làm con chốt của mình để thực hiện chính sách này: Bên Nam Mỹ và châu Phi thì dùng Cuba của Fidel Castro, bên Âu châu thì dùng Đông Đức của Honnecker, bên Á châu thì dùng cộng sản Việt Nam của Lê Duẫn.
Lê Duẫn của Việt Nam gặp được Brejnev là như cá gặp nước, hết mình tuân theo ông này, sẵn sàng làm con chốt lót đường, dù hy sinh bao nhiêu sinh mạng dân Việt, nhất định đánh vào miền Nam.
Cuộc tấn công Tết Mậu Thân là nằm trong kế hoạch quốc tế của Liên Sô, và Lê Duẫn nhất nhất thi hành.
Cũng bắt chước cách lập luận của Brejnev, Lê Duẫn có viết một bài trong tạp chí Học Tập số 2.1964, nay là tạp chí Cộng sản, mang tựa đề "Một vài vấn đề trong nhiệm vụ quốc tế của đảng ta". Ông viết:
"...Nhìn tổng quát tình hình thế giới, phân tích những đặc điểm và những qui luật phát triển của ba vùng (ba vùng: các nước xã hội chủ nghĩa, các nước dân tộc chủ nghĩa và phong trào nhân dân lao động trong các quốc gia tư bản chủ nghĩa - chú thích của tác giả bài này), chúng ta thấy rằng, lực lượng của cách mạng, lực lượng của chủ nghĩa xã hội và của hòa bình hơn hẳn lực lượng của đế quốc phản động và chiến tranh. Chúng ta mạnh hơn địch. Vì vậy cách mạng không thể ở thế thủ, chiến lược cách mạng không nên là thế thủ; mà cách mạng đang ở thế tấn công; chiến lược cách mạng nên là chiến lược tấn công, phá từng chính sách chiến tranh một, đi đến phá toàn bộ kế hoạch gây chiến tranh của chủ nghĩa đế quốc do Mỹ cầm đầu, nhằm đánh lùi từng bước một và đánh đổ từng bộ phận chủ nghĩa đế quốc, đi đến thủ tiêu hoàn toàn chủ nghĩa đế quốc..."
Theo kế hoạch Thượng sách của Brejnev, vào đầu năm 1967, một phái đoàn quân sự Liên Sô đã lén lút qua Hà nội, rồi bay qua Căm Bốt, vào miền Nam Việt Nam. Sau một thời gian quan sát, họ đã đi đến kết luận là chiến lược "Nông thôn bao vây thành thị", chỉ đánh du kích của Mao Trạch Đông là hoàn toàn thất bại, phải nâng cao chiến lược lên hàng sư đoàn, và bắt đầu bằng cuộc tấn công Tết Mậu Thân 1968.
Brejnev không phải chỉ tấn công ở Việt Nam, mà tấn công ở trên toàn thế giới, từ Âu châu, với những cuộc khủng bố giết 2 người Chủ tịch nghiệp đoàn chủ nhân ông ở Đức và ở Ý, ở Pháp, do đảng Cộng sản Pháp đứng đằng sau, với sự hậu thuẫn của nghiệp đoàn thợ thuyền, sinh viên học sinh, đã bắt đầu cuộc đình công vô tiền khoáng hậu, bắt đầu vào tháng 5/1968. Ở Mỹ cũng vậy, những phong trào bị giới thiên tả trà trộn, cộng với phong trào sinh viên học sinh đòi hòa bình cũng đã biểu tình. Người ta có thể nói, chế độ gần như bị lung lay.
Tuy nhiên, chế độ tư bản bị lung lay, nhưng không bị sụp đổ như Brejnev và những người cộng sản mong đợi.
Brejnev đành bước sang Trung sách: chia đôi thế giới, lấy trục Sài Gòn, Pnomph Penh, Bangkok, Kaboul, Moscou làm giới tuyên, phía đông thuộc về cộng sản, phía tây thuộc về tư bản.
Tuy nhiên kế sách này bị một miếng xương mắc họng. Đó là Trung cộng. Cuộc tranh chấp đòi quyền lãnh đạo thế giới cộng sản giữa Trung cộng và Liên Sô trở nên gay gắt và cao điểm vào thập niên 70.
Và thế giới cộng sản hoàn toàn bị chia đôi, khi Nixon gặp Mao vào năm 1972, rồi Brejnev chết năm 1983 và Liên Sô sụp đổ vào năm 1990.
Trước khi chết, Brejnev thấy chính sách của mình gồm Thượng sách và Trung sách hoàn toàn thất bại, đã phải than lên: "Xã hội chủ nghĩa gì mà tham nhũng, hối lộ lan tràn khắp nơi, một phần ba xe chạy ngoài đường là ăn cắp xăng của công, một phần ba bằng cấp là bằng cấp giả, công chức đến sở làm việc là đến để có mặt, sau đó là làm việc tư hay đi xem hát."
Trở về phía Hoa Kỳ với cuộc tấn công Tết Mậu thân 1968.
Người Hoa Kỳ thay thế người Pháp ở Việt Nam sau Hiệp định Genève 1954.
Người Tổng thống gửi quân, theo đúng nghĩa lúc đầu là những cố vấn sang Việt Nam là ông Kennedy. Rồi ông này chết vì bị ám sát năm 1963. Người kế vị là ông Johnson. Johnson đã gửi quân ồ ạt sang Việt Nam từ năm 1965, đến cao điểm với cả nửa triệu quân vào thời điểm tấn công Tết Mậu Thân 1968.
Chính sách về Việt Nam của cả 2 đời tổng thống Kennedy và Johnson, là do ông Bộ trưởng Quốc phòng Robert Mac Namara đảm trách, bị mắc nhiều sai lầm.
Nhưng sai lầm lớn nhất, đó là Mac Namara nhìn chiến tranh Việt Nam dưới khía cạnh kỹ thuật, quân sự, không có chính trị, cho rằng cuộc chiến này có thể chiến thắng bằng vũ lực hùng hậu, với tiền bạc, vũ khí.
Chính vì vậy mà có cuộc đảo chính chế độ Đệ nhất Cộng Hòa miền Nam Việt, khi ông Ngô Đình Diệm đã có thể dựng lại ngọn cờ quốc gia, bị chao đảo dưới thời Pháp thuộc. Khi Đệ Nhất Cộng hòa không còn nữa, ngọn cờ quốc gia bị vùi dập, với những cuộc đảo chính liên tiếp và với sự có mặt của nửa triệu quân Mỹ.
Johnson gửi quân đến mức cao điểm nhất, nhưng vẫn không thể thắng cuộc chiến, đành phải nghĩ đến giải pháp chính trị, không gì hơn là thương thuyết, công nhận Mặt trận Giải phóng Miền Nam, được dựng lên bởi cộng sản Hà Nội năm 1960. Từ đó người ta đi đến Hiệp định Paris 1973. Mỹ rút quân khỏi miền Nam và miền Nam sụp đổ 1975.
Miền Nam thất bại bởi nhiều nguyên do, trong đó có sự sai lầm trong chiến lược rút quân của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu tạo ra khủng hoảng làm mất tinh thần dân quân, nhưng cũng có những nguyên do chính do các cường quốc quyết định đó là chính sách tấn công tư bản của Liên Sô cộng thêm với sai lầm chiến lược của Hoa Kỳ. Người Hoa Kỳ chỉ mong rút quân khỏi chiến trường Việt Nam đã công nhận Mặt trận Giải phóng Miền Nam, một cộng cụ xâm lăng của cộng sản Việt Nam, ép chính quyền miền Nam ký kết Hiệp Định Paris với đầy bất công và thiếu sót. Và sự thiếu sót và sai lầm lớn nhất là không bắt cộng sản phải rút toàn bộ quân chính quy khỏi miền Nam.
Nhìn lại cuộc tấn công Tết Mậu Thân chúng ta thấy cộng sản Việt Nam đã tạo ra một trang sử đẫm máu và đau thương nhất, là một sự lừa đảo, giết người lớn nhất trong lịch sử nhân loại. Ngày hôm nay, bắt đầu bởi sự mù quáng của Hồ Chí Minh, đã du nhập chủ nghĩa cộng sản vào Việt Nam đưa đến hậu quả là Việt Nam đang bị đô hộ bởi Tàu lần thứ 5. Cuộc đô hộ này kéo dài bao lâu là tùy ở tinh thần yêu nước, ý chí quật cường của cả người dân trong và ngoài nước, tùy theo những cá nhân còn tinh thần quốc gia dân tộc trong hàng ngũ quân cán chính ở trong đảng cộng sản, tùy theo những tổ chức quốc gia yêu nước. Ngẫm lại lịch sử, thời kỳ bị đô hộ nào cũng có những khó khăn của nó, thể mà ông cha ta vẫn kiên cường đứng lên đuổi quân xâm lăng về nước. Họ cũng không có một tấc sắt trong tay lúc ban đầu, họ cũng chẳng có chính quyền. Cái mà họ có chính là chính nghĩa và lòng dân. Ngày hôm nay, những người Việt quốc gia, yêu nước, cũng đang được lòng dân, có chính nghĩa, hơn nữa chúng ta còn có thuận lợi, đó là mọi người Việt Nam đều nhận ra và lên án chính sách bành trướng của Trung Cộng. Chúng ta phải tự lực cánh sinh, tự trông cậy vào mình trước. Nhưng chúng ta cũng phải biết cập nhật hóa cuộc đấu tranh của chúng ta, để cho nó theo kịp đà tiến bộ của nhân loại, đồng thời vận động sự hỗ trợ của quốc tế, không nhất thiết một vài nước, mà càng nhiều càng tốt, không nhất thiết là chính quyền, có thể là những tổ chức nhân quyền, đấu tranh cho tự do, dân chủ quốc tế, không nhất thiết là những tổng thống, thủ tướng, ngoại trưởng, mà có thể là những nghị sĩ, thượng nghị sĩ, những viện nghiên cứu, đại học, không cần đi sao chép tư tưởng, ý thức hệ ngoại bang, như cộng sản đã làm, mà cần dựa trên căn bản tư tưởng cổ truyền, được cập nhật hóa. Cuộc đấu tranh cho Độc lập Quốc gia, cho Tự do, Dân chủ, Nhân quyền còn có rất nhiều khó khăn, tuy nhiên, chắc chắn nó sẽ đi đến thành công khi mỗi người Việt Nam chúng ta chung vai sát cánh, biến ý thức thành hành động. (1)
Paris ngày 02/02/2018 
Ngày xuân nhớ lạiNguyễn Mạnh An Dân (Danlambao) - 2:45' chiều, ngày 29 tháng Chạp âm lịch, đầu năm 1975, Tiểu đoàn trưởng 2/46, Thiếu tá Nguyễn Hữu, không thông qua âm thoại viên, trực tiếp gặp các Đại đội trưởng thuộc quyền trên tần số nội bộ và gọi tất cả đến gặp ông tại Bộ Chỉ Huy Tiểu đoàn: “Các cậu đến gặp tôi ngay bây giờ”. Giọng “ông già” chậm và rõ, cách nói vẫn là một kiểu ra lệnh nhưng không phải là thứ lệnh khô cứng, lạnh lùng như vẫn thường có ở một cấp chỉ huy ngoài mặt trận. Đơn vị vừa được rút về mấy giờ trước từ Trà Cao sau hơn nửa tháng lặn lội suốt một tuyến dài qua các mật khu lầy lội Trà Cú, Phước Chỉ. Tiểu đoàn trừ bố trí phòng thủ căn cứ Trâm Vàng và hai đại đội tác chiến còn lại rải dọc theo mép rừng cao su, cách quốc lộ và xóm nhà một đoạn ngắn và cách gia đình lớn không quá nửa tầm súng cối 60. Ngày cuối năm, vị trí đóng quân nhẹ nhàng. Không ai nói với ai nhưng tất cả ngầm hiểu: dưỡng quân, ăn Tết. Trâm Vàng là Bộ Chỉ Huy tiền phương, là điểm tiếp liệu chung cho nhiều quân binh chủng trong chiến dịch hành quân Campuchia nhiều năm trước. Căn cứ rất rộng với một lô cốt vuông vức được xây âm dưới lòng đất bằng ximăng cốt sắt làm Trung Tâm Hành Quân và một vòng tuyến với bờ đất cao đủ chỗ rải quân cho một tiểu đoàn đầy đủ quân số. Căn cứ vẫn thường bị pháo và thỉnh thoảng đặc công vẫn bò vào quấy nhiễu nhưng đối với một đơn vị bộ binh, quanh năm hành quân lưu động thì về Trâm Vàng là nghỉ ngơi, hưởng phước.
Tết nhứt có khác, phòng hành quân có một chút gì vui vui, lạ lạ. Lố thùng đạn đại liên xếp vuông với tấm poncho phủ gọn ở trên như một cái bàn thấp cùng mấy hộp bánh mức Bảo Hiên và mấy chai rượu bọc giấy hoa như làm cho căn hầm sáng và đẹp hơn. “Phòng họp” lố nhố những người; các âm thoại viên đang lui cui kéo giây ráp nối máy móc vào trụ en-ten cao nhòng trên nóc; Chỉ Huy Trưởng Hậu Cứ, Sĩ Quan Ban Một, Sĩ Quan Tiếp Liệu và các Hạ Sĩ Quan chuyên môn gần như có mặt đầy đủ trong những bộ quần áo hồ cứng thẳng tưng đang tươi cười chảo hỏi những người mới đến. Ngày cuối năm, đơn vị được “ra hành quân” là một dịp lớn để mọi người vui với nhau một chút. Tiểu đoàn trưởng không cầm bản đồ, không hỏi han tình hình quân số và trang bị, không nhắc cái này, la điều kia như thường ngày, chỉ kêu lấy ra năm chai rượu, nhìn các Đại Đội Trưởng bằng ánh mắt trìu mến, nói “Mỗi cậu một chai, giao thừa lai rai một chút cho ấm bụng” và hất đầu ra dấu cho mấy anh em phục vụ “dọn tiệc”. Trà được bưng tới, bánh được mở ra. Mấy sĩ quan hậu cứ lễ nghĩa và bóng bẩy chúc Tết sớm, mấy sĩ quan tác chiến rổn rảng cười nói. Buổi tiệc tất niên bất ngờ, đạm bạc nhưng vui. Lính mà, vậy là tốt rồi, được ngồi thoải mái với nhau vài tiếng đồng hồ, nói năm điều bảy chuyện, uống hớp nước, ăn chút bánh mà không phải nơm nớp lo âu cho sự an nguy của chính mình và của đơn vị là tiên trên đời rồi, là số một rồi.
Giữa cuộc vui, Tiểu đoàn trưởng chậm rãi cho biết đã liên lạc với phòng ba chiến đoàn, không có kế hoạch gì đặc biệt, ông kết luận: “Chắc mình ăn Tết ở đây” và âu yếm nhìn các Đại đội trưởng trẻ, độc thân của mình, nói thêm, gọng ấm áp: “Cậu nào có bạn gái hay người quen biết gì nhắn hậu cứ mời lên chơi cho vui, không dễ gì được nằm gần lộ như thế này đâu!”. Các Đại đội trưởng mau mắn đáp lại: “45 làm gương trước đi, mời chị lên chơi”. Tiểu đoàn trưởng cười cười: “Có, chiều nay bà ấy và mấy cháu sẽ có mặt, mười sáu năm rồi tôi chưa bao giờ được ăn Tết ở nhà, cũng chưa bao giờ được ở trong một căn hầm nào đẹp như thế này, cả nhà ăn Tết ở đây cũng tốt, năm mới mấy cậu ghé chơi”. Giọng Tiểu đoàn trưởng đều đều, không có vẻ gì than vãn, trách oán nhưng có chút nao nao, buồn buồn. Lúc chia tay, ông đi với các Đại đội trưởng ra tận cửa hầm, dặn nhỏ: “Dưỡng quân ở đây, dặn em út lục soát, mở đường cẩn thận, nhưng cứ lờ cho anh em họ la cà ra xóm một chút, Tết nhứt chắc không đến nỗi nào đâu”. Ông nói với theo khi mọi người đã đi được một đoạn ngắn, giọng nghiêm lại: “Nhớ kiểm soát kỹ, tuyệt đối không được để em út say sưa, phá làng phá xóm”.
51 Tùng, Đại đội một, trở về vị trí đóng quân của mình. Lại hậu cứ, lại bánh, rượu và báo Xuân. Câu chuyện vui vẻ và thân mật; một ít giấy tờ phải ký, một ít tình hình quân số và tiếp liệu được trình báo, nhưng phần lớn là những lời thăm hỏi, chúc mừng. Hạ sĩ quan quân số, Trung sĩ nhất Thế, hỏi nhỏ khi Tùng đang lật lật mấy tờ báo Xuân: “51 cần tôi ghé Phú Nhuận không?”. Tùng suy nghĩ một chút rồi cười cười gật đầu: “Ờ, nhắn giùm cô ấy sáng mồng Một tôi đón ở Gò Dầu, quán Đồng Nội, chốc nữa tôi sẽ viết mấy chữ nhờ ông chuyển hộ”. Thường vụ đại đội, hạ sĩ quan tiếp tế, hạ sĩ quan chiến tranh chính trị bàn bạc rất lâu với nhau và cùng kéo đến gần Tùng: “Chắc mình nghỉ ở đây, có chút tiền phụ cấp Cây Mùa Xuân Chiến Sĩ, chúng tôi định chiều mai tăng khẩu phần ăn xôm xôm một chút, đại đội ăn chung với nhau một bữa, 51 nghĩ sao?”. Tùng gật đầu: “Được, nhưng nhớ đừng gom hết lại một chỗ, các trung đội quây quần bên phòng tuyến của mình, Ban Chỉ Huy, súng cối và BK tách riêng ra một chỗ khác, coi chừng bị pháo, tôi sẽ xuống từng chỗ với anh em.”
Buổi chiều cuối năm im ả, bên xóm vẳng tiếng trẻ đùa và xe cộ qua lại trên đường với dáng vẻ vội vàng, hối hả như đang chạy đuổi với thời gian. Các nhân viên hậu cứ lần lượt từ giã. Tùng đi suốt một vòng tuyến, từng lúc dừng lại chỗ này chỗ kia nói chuyện với những người lính đang ăn vội bữa cơm chiều, anh ngồi chơi với anh em một lúc lâu đợi cho các toán tiền đồn vào vị trí xong mới chậm rãi trở về hầm chỉ huy của mình. Kế hoạch đón Tết vừa riêng vừa chung đều làm Tùng thấy vui. Mấy năm liền, tuy mang tiếng là hòa bình, ngưng bắn nhưng chưa năm nào đơn vị được rời vùng hành quân và ngày đầu năm nào Tùng cũng chỉ có thể hút với anh em một điếu thuốc, nhắp với họ chút rượu chắt chiu trong những nắp bình đông sóng đổ ngay tuyến phòng thủ giữa mặt trận. Ý nghĩ về một bữa cơm đơn vị làm Tùng thấy ấm lòng, anh nghĩ đến lá thư viết vội cho Thiên Kim vừa gởi trung sĩ nhất Thế với lời tái bút vui vui: “Khi nào nghe lơ xe hô lớn Gò Dầu nghe bà con là em xuống xe, nhìn bên trái sẽ thấy anh đứng đón, nhớ đừng tìm ông có râu cao bồi, coi chừng lộn với ông nào khác. Tết nhứt anh sẽ làm đẹp để đón tiểu thư.”
Lần đầu Thiên Kim lên thăm Tùng ở đơn vị, nghe anh em nói với nhau “cô lên, cô lên” nàng đã thẹn đỏ mặt và chờ lúc không có ai mới phụng phịu cự nự người yêu: “Cô chắc là chữ mấy ông lính dùng gọi các bà vợ người chỉ huy của họ, em là gì của anh mà cũng cô cô trong này, kỳ cục”. Tùng đã cười ha hả trêu lại nàng: “Cô là tiếng ngắn gọn, dễ nghe và nhiều ý nghĩa nhất trong các tiếng, em không chịu cho gọi như vậy anh em họ sẽ kêu bằng bà người yêu của ông Trung úy nghe còn dễ sợ hơn nữa, tùy em quyết định đi” và Thiên Kim đã chịu thua, đã tiếp tục làm “cô lên” bất cứ lúc nào có thể. Ước mơ của người lính thật đơn giản, ông Tiểu đoàn trưởng muốn được đoàn tụ cả nhà trong hầm chỉ huy qua với nhau một cái Tết gia đình; ông Đại đội trưởng muốn những người lính có thể ngồi ăn chung với nhau một bữa cơm bên bờ tuyến có chút thịt cá phụ trội và những lời thăm hỏi chúc mừng năm mới. Chuyện như đã chắc trong tầm tay mà cũng không thực hiện được. Trong vòng hai mươi bốn tiếng đồng hồ tiếp đó, nhiều sự việc bất ngờ đã xảy ra. Kế hoạch không đến từ Chiến đoàn, Sư đoàn, nó đến từ một chỗ cao hơn.
Tám giờ tối ngày 29, Tiểu đoàn 2/46 nhận lệnh yểm trợ đơn vị bạn thi hành công tác. Đại đội công sự nặng thuộc Tiểu đoàn 25 công binh chiến đấu kéo đến, có Tiểu đoàn trưởng, Sĩ quan tham mưu quân đoàn, Sĩ quan chuyên môn Cục Công Binh đôn đốc và kiểm soát. Máy phát điện được mở lên, xe ũi, xe xúc, xe cẩu hụ tới hụ lui. Lệnh phải hoàn tất một ụ thuyết trình dã chiến kiên cố và gọn đẹp trước sáu giờ sáng.
Trong đêm, Trinh sát Sư đoàn, Trinh sát Trung đoàn, các Tiểu đoàn 1 và 3/46, một số Tiểu đoàn Địa Phương Quân thuộc hai Tiểu khu Tây Ninh và Hậu Nghĩa nhận được lệnh chuyển quân. Toàn bộ các điểm trọng yếu chung quanh khu vực Trâm Vàng đều có lực lượng lục soát và án ngữ. Chưa có tin tức chính xác nào được phổ biến nhưng căn cứ vào lệnh điều động, mọi người đều có thể tiên đoán một giới chức rất quan trọng sẽ đến thăm căn cứ Trâm Vàng.
Sáu giờ sáng ngày 30 tháng Chạp, Tiếp liệu Tiểu đoàn 2/46 với lệnh cấp phát đặc biệt từ Phòng 4 Sư đoàn và phương tiện chuyên chở của Tiểu đoàn 25 vận tải đã có mặt và trang bị bổ sung cho toàn đơn vị. Những đôi giày bố, nón sắt, giây ba chạc và khăn quàng cổ mới được cấp phát ngoài cấp số. Tiểu đoàn 2/46 nhận lệnh kiểm tra quân phục, quân số, trang bị và lục soát, lập các toán án ngữ bảo vệ toàn bộ khu vực trước khi tập trung tại tọa độ XT... trước 10 giờ sáng.
Những khẩu lệnh quân trường được hô to: “Bên trái làm chuẩn, cao trước thấp sau, Trung đội hàng dọc, Đại đội hàng ngang”, Tiểu đoàn được tập hợp thành một khối hình chữ U dưới sự điều động của Tiểu đoàn phó. Tiểu đoàn trưởng và Ban Tham Mưu đang chuẩn bị thuyết trình trước phái đoàn Trung ương tại Trung Tâm Hành Quân mới vừa hoàn tất trong đêm trước. Tin tức chính thức cho biết: Đại diện sư đoàn 25/BB, Tiểu đoàn 2/46 được vinh dự đón tiếp Nguyên thủ quốc gia và phái đoàn chính phủ thăm viếng và ủy lạo nhân dịp Tết dân tộc.
Băng đạn được tháo ra, sáu lần thao tác an toàn súng được lập lại. Đội hình sẵn sàng trong tư thế chờ đợi. Một chút kiêu hảnh, một chút xót xa. Máu của biết bao anh em đồng đội đã đổ ra ở Suối Đá, máu của biết bao anh em đồng đội khác đã đổ ra để dành lại từng tất đất, từng bụi cây trước khi cắm được ngọn cờ tổ quốc lên bờ đất đổ nát của căn cứ 82 và còn nhiều nữa ở Phú Thứ, ở Phước Tân, ở Cần Đăng, Trại Bí, Dầu Tiếng, Phú Hòa Đông, Chà Rầy, Hố Bò, Trung Lập... Tiểu đoàn 2/46 từng đổ máu, từng hy sinh nhưng chưa bao giờ lùi bước và cũng chưa bao giờ không chu toàn nhiệm vụ dù nhiều khi cái giá phải trả ra thật đáng đau lòng. Người lính 2/46 đã làm hết sức mình, họ không hiểu biết gì nhiều, không đại ngôn lớn lối tự khoát cho mình một lý tưởng, một mục đích gì to lớn, vĩ đại. Họ chỉ cố gắng chu toàn nhiệm vụ của những người lính nhỏ nhoi vì anh em đồng đội, vì đơn vị, vì quân đội và vì tổ quốc của mình. Họ không chờ đợi và cũng không hề biết sẽ có ngày hôm nay. Họ chỉ làm những gì phải làm, vậy thôi. 12 giờ 30, đợt khách đầu tiên ào tới. Những cận vệ vòng ngoài gườm gườm, M18 cặp nách, bố trí khắp nơi; những chuyên viên rà mìn, máy móc rè rè rà tìm từng gốc cây, bụi cỏ.
12 giờ 45 đợt khách thứ hai ào tới, máy vi âm được lắp ráp dù đã có sẵn, chuyên viên quay phim, chụp hình chạy tới chạy lui. 1 giờ chiều Nguyên thủ quốc gia tới. Quân cảnh, tùy tùng đông nghẹt. Kèn trống rộn ràng. 2/46 Hành Khúc vang lên “2/46 lừng vang chiến công, về đây chung sức đắp xây quê hương, một lòng vì dân đoàn ta chiến đấu, quyết đem thân mình bảo vệ quê hương. Long An giúp dân, giúp dân, giúp dân; Tây Ninh trấn biên, trấn biên, trấn biên, đây Campuchia xông pha bao lần...”
Những lời chào mừng bóng bẩy được đọc lên, những lời khen ngợi rườm rà được nói ra; những cái bắt tay, những lời thăm hỏi máy móc được lập lại. Người lính im phắt trong hàng, trong một giây phút, hình như lòng quặn lại, mắt mờ đi. Loáng thoáng đâu đó là hình ảnh mẹ già, vợ trẻ, con thơ, mái nhà tranh, khu xóm nghèo và những xôn xao ngày Tết không trọn vẹn; rồi đâu đó hình như có tiếng hô xung phong, những tiếng nổ, máu, những xác người, những anh em đồng đội nằm xuống, những người khác tràn lên, lại những người nằm xuống… Cứ như thế, nhập nhòa giữa những bóng bẩy hào quang là những hồi ức buồn thảm. Lại trống, lại kèn, những người lính thoáng vui rồi chợt buồn. Chiều ba mươi, giờ này đây, hàng ngàn anh em đồng đội, những người đã bất ngờ nhận lệnh, đã mò mẫm di chuyển, đã căng mắt bố phòng suốt đêm qua và đang ghìm súng bảo vệ ở đâu đó giữa hiểm địa, rừng sâu. Người lính không có giờ giấc, không biết tháng ngày, chiến đấu và hy sinh. Đằng sau mỗi vinh quang là những gian khó và thảm kịch. Người lính không hề có tròn nét môi cười, không biết thế nào là trọn vẹn niềm vui. Quân kỳ có thêm một giây biểu chương màu Bảo Quốc, người lính ưỡn ngực, ngẩn đầu nhưng trong lòng thoáng chút xót xa. Buổi lễ chấm dứt, những người khách lên xe, người lính ở lại. Ba lô lên vai và những ngày mới sẽ đến. Còn một đêm nữa là năm mới.
Đại đội 1 về tới truyến phòng thủ lúc 5 giờ 30. Bữa cơm chung dự định sẽ bắt đầu vào lúc 6 giờ. Poncho đã được trải ra, thịt quay, chả lụa đã đựng đầy nhiều nón sắt. Hình như có bánh chưng, dưa kiệu, mứt gừng, mứt bí và vài món linh tinh khác. Binh nhất Vinh, thằng em phục vụ thân thiết lăng xăng chạy tới chạy lui báo cho Tùng biết diễn tiến việc chuẩn bị ở từng trung đội. Tùng nói “kiếm cho tao cái ly, năm nay ăn Tết đàng hoàng một chút, cứ nắp bình đông hoài coi không được”. Vinh đáp lớn “Xong rồi 51, sáng nay em hỏi mua lại cái ly cà phê ngoài quán, định trả tiền nhưng bà chủ nói tặng ông sĩ quan uống rượu Tết cho vui” và cười cười, bước lại gần Tùng, nói nhỏ, giọng có vẻ ngượng:” “Chốc nữa em sẽ hát tặng Trung úy bài “Xuân Này Con Không Về”. Tùng nhìn người lính trẻ: “Cậu hát được à? Sao lâu nay không thấy nghêu ngao cho vui. Tốt lắm, nhưng đâu phải chỉ mình tao “không về”, hát tặng chung anh em đi”. Vinh dạ dạ và nói thêm, giọng nhỏ lại “Em cũng hát cho em nữa”. Tùng nói: “Đúng, hát tặng chung tất cả chúng ta”. Hai thầy trò đều cười vui, nhưng bài hát đó không bao giờ được hát .
5 giờ 45, súng cá nhân nổ rát hướng rừng cao su phía xa, cùng lúc, mưa pháo phủ ngập căn cứ Trâm Vàng. Chiến thuật mới: tấn công các đơn vị hành quân lưu động bằng bộ binh và khóa miệng các căn cứ hỏa lực, các đơn vị yểm trợ bằng pháo kích. Chưa có tin tức chính thức nào từ Chiến đoàn. Tiểu đoàn ra lệnh các đơn vị trực thuộc phân tán con cái bố trí dọc mép rừng cao su để tránh pháo và chờ lệnh. Bữa cơm tất niên của Đại đội 1 vừa được bày biện đã vung vãi vì sức nổ, mảnh đạn và sỏi cát của trận pháo kích. Những người lính bụng trống vượt bờ đất lao về phía trước giữa những tiếng nổ.
6 giờ chiều, Tiểu đoàn trưởng 2/46 gọi các Đại đội trưởng nhận lệnh hành quân tại bìa rừng cao su phía sau căn cứ Trâm Vàng. Sĩ quan Ban 3 đưa phóng đồ hành quân vỏn vẹn chỉ có một vòng tròn đỏ cách điểm xuất phát 2 cây số về phía Cầu Khởi. Tiểu đoàn trưởng ngắn gọn thông báo tình hình và ban hành những chỉ thị cần thiết. Theo đó, Tiểu đoàn X/49, đơn vị hành quân án ngữ bảo vệ an ninh cho buổi lễ đón tiếp thượng cấp đã bị tập kích trên đường rút lui sau khi hoàn tất nhiệm vụ. Liên lạc vô tuyến với X/49 đã hoàn toàn bị gián đoạn và khả năng có thể là đơn vị bạn đã bị tổn thất nặng và đang tản lạc trong khu vực hành quân. Nhiệm vụ của 2/46 là tiến về hướng được ghi nhận đã có giao tranh, giải tỏa áp lực địch, tìm đón những binh sĩ bị thất lạc, tải thương và gom nhặt xác những chiến sĩ đã hy sinh.
Tiểu đoàn trưởng dặn tới dặn lui: “Cẩn thận tối da. Chắc chắn có nhiều người của mình tản lạc trong khu vực, đừng ngộ nhận tác xạ lầm quân bạn nhưng cũng đừng lơ là để địch quân trà trộn tập kích”. Ông nói thêm trước khi các Đại đội trưởng trở về vị trí chuẩn bị điều động đơn vị di chuyển, giọng rất buồn: “Bảo em út cố gắng, rất nhiều anh em đang cần đến mình. Tết nhứt tôi biết, nhưng tình hình không thể trì hoãn được. Ráng lên.”
Trời tối dần, đơn vị di chuyển chậm chạp, từng lúc phải dừng lại bố trí, quan sát, nhận dạng và đón người. Những binh sĩ thất tán mừng rỡ gặp lại quân bạn nhưng trạng thái căn thẳng, hoảng hốt biến họ thành ngẩn ngơ, lơ lửng và những lời trình bày của họ lộn xộn, rối ren, trùng lập về diễn tiến của trận đánh và không ai chắc chắn được điều gì về số phận đơn vị của mình. Điều ghi nhận rõ nhất là trận đụng độ rất khốc liệt và phần thất lợi về phía quân bạn.
9 giờ 30 đêm, những đơn vị đầu tiên tiếp cận khu vực giao tranh. Trời tối đen, không khí lặng lờ, lạnh lẽo. Những ánh hỏa châu nhập nhoè, lung linh vội sáng vội tắt trên một khu vực tiêu điều, xác xơ vung vãi những cành cây đổ vì đạn pháo kích của cả hai phía. Những xác người đầu tiên được tìm thấy. Không ai có thể xác nhận được hình dạng và lý lịch của những chiến sĩ bất hạnh này.
9 giờ 40, Tiểu đoàn cho biết Chiến đoàn đã tái liên lạc vô tuyến được với Tiểu đoàn X/49. Đơn vị bạn bị đột kích, hai đại đội bọc hậu bị cắt đứt khỏi đội hình chung và bị thiệt hại nặng chưa liên lạc và kiểm kê được. Tiểu đoàn bị pháo kích và hệ thống liên lạc bị hư hại nhưng đã tái hoạt động trở lại. Đơn vị bạn đã về đến vị trí an toàn dù quân số không đầy đủ.
Lệnh dừng quân và phòng thủ đêm được ban hành. Những người lính lầm lũi đào hố, căng mìn. Những toán tiền đồn lặng lẽ tiến về phía những vị trí được chỉ định. Người lính mệt mỏi mở bao cơm sấy nguội lạnh mò mẫm dùng bữa cơm chiều. Không khí im ắng, nặng nề; người người lặng thầm, chịu đựng. Đêm cuối năm, vài tiếng đồng hồ nữa là giao thừa, năm mới. Rừng đêm, bất trắc và tử khí. Người lính uống vội hớp nước, nằm lăn ra đất nhìn lên trời cao tối tăm, cao thẳm cố quên những thực tế đau lòng, ráng dỗ giấc ngủ chờ đến phiên được kêu dậy, đổi gác.
10 giờ 30, Tiểu đoàn gọi các đại đội; đại đội gọi các trung đội để hỏi nhau cùng một câu hỏi: "Có nghe thấy gì không?”. Tiếng rên. Rất nhiều tiếng rên đau đớn và thê thiết, xa có, gần có. Các thương binh rải rác đâu đây có lẽ vừa qua cơn tê điếng lúc đầu cộng với khí lạnh trời đêm làm họ không còn chịu đựng được nữa. Tiểu đoàn trưởng gợi ý, không phải ra lệnh: “Ráng cho biệt kích dò theo tiếng kêu lên đón anh em về được không? Lạnh thế này, chờ đến sáng chắc chết hết”. “Không được, mìn cơ động đã gài cùng khắp, lạng quạng không giúp được ai mà hại thêm đến anh em mình”. Các Đại đội trưởng đồng loạt trả lời, trách nhiệm với đơn vị buộc phải từ chối nhưng lòng đau như cắt, đứng ngồi không yên. Tiếng rên như những viết đâm xé ruột những người hiện diện. 11 giờ 20, binh nhất Vinh mò tìm đến hầm chỉ huy, dúi vào tay Tùng chiếc bình động nặng nặng, thì thầm: “51 làm hớp rượu cho ấm”. Tùng mở nắp bình rượu, Vinh cười khẻ và nói tiếp: “51 dùng đỡ nắp bình đông, chiều nay có cái ly, lúc chạy qua bờ đất rớt lại nhưng pháo rát quá, em không dám quay lại lấy, 51 thông cảm”. Tùng cầm tay người lính trẻ bóp nhẹ: “Được rồi, không sao”. Vinh dục “51 uống đi”. Tùng cầm bình rượu định uống nhưng rồi ngừng lại, bảo Vình “Cậu ra gọi ông Thường vụ vào làm với tôi vài nắp, tôi không muốn uống một mình”.
Người Thượng sĩ già nhẹ nhàng đến ngồi bên Tùng, nói nhỏ, cố tỏ vẻ bình thản, dửng dưng nhưng giọng nói run run, xúc động: “Tôi mới đi một vòng tuyến, hết nghe tiếng rên rồi, chắc chịu hết nổi. Chết lảng xẹt, sao không rán một chút nữa cho biết năm mới với người ta!”. Tùng nói: “Thôi, mình không làm gì được, có đau lòng cũng vậy thôi. Phú cho trời đi. Ông làm với tôi chút rượu cho ấm. Tôi tưởng ở Trâm Vàng nên định sáng mai cho ông về hậu cứ chơi với bà ấy và mấy cháu một bữa cho vui không ngờ mình ở đây. Tôi rất tiếc.” Tùng uống một nắp rượu và chuyển cả bình và nắp cho người đối diện. Người Thượng sĩ già cầm bình rượu, run run kê miệng bình sát vào nắp, cẩn thận rót nhẹ cho rượu khỏi đổ ra ngoài, nói nhanh trước khi đưa nắp rượu lên ực một hơi: “Cảm ơn 51 đã nghĩ đến nhưng không sao đâu, quen rồi, mấy chục năm nay có bao giờ tôi được ăn Tết ở nhà đâu, mẹ cháu và sắp nhỏ cũng quen rồi, không chờ và cũng không hy vọng sẽ có tôi ở nhà. Thêm một năm nữa cũng đâu có sao!”. Tùng uống với người lính già phụ tá gần nửa bình rượu. Có tiếng bước chân khe khẽ và tiếng gọi thì thầm kêu nhau đổi gác. Tùng nói: “Thôi, ông về nghỉ đi, bảo khẩu trưởng súng cối thay ông đốc canh, tôi cũng còn thức đây, để tôi coi ngó anh em cho”. Người Thượng sĩ già đứng dậy, nói nhỏ “Mừng tuổi 51” rồi nói lớn hơn một chút “51 nghỉ đi, tôi không ngủ được, nói vậy chứ Tết nhứt mà, cũng nóng ruột. Tôi sẽ kiểm soát anh em canh gác cẩn thận”.
12 giờ 05 đêm, Tiểu đoàn trưởng gặp các Đại đội trưởng trên máy, nói gọn bốn chữ “Chúc mừng năm mới”. Các Đại đội trưởng cũng lập lại mấy chữ tương tự và hỏi thêm: “Chiều nay rồi chị và mấy cháu tính sao, 45?”. “Không biết, gấp quá tôi dặn bà ấy đưa mấy đứa nhỏ về Sài Gòn nhưng không biết giờ đó còn đón được xe cộ gì không? Không khéo mấy mẹ con đón giao thừa lêu bêu ngoài đường không chừng. Tôi đã gọi hậu cứ nhờ tìm mà chưa thấy ai báo gì, cũng kẹt.”
12 giờ 10 Tùng gọi các Trung đội trưởng chúc mừng năm mới, nhận lại lời chúc rồi sang tần số nói chuyện với Thắng, chàng Trung úy có người yêu là nữ sinh viên Chính Trị Kinh Doanh thời còn là lính mới tò te ở trường Chiến Tranh Chính Trị, hai người đã đính hôn và cũng giống như Thiên Kim, cô nàng thường lên đơn vị thăm Thắng bất cứ lúc nào có thể. Bạn chiến đấu và đồng cảnh, Tùng nói chuyện với Thắng tự nhiên, thoải mái: “Ông có hẹn cô ấy mai lên không?”. “Có”, Thắng đáp và nói thêm “10 giờ sáng, quán Đồng Nội, còn ông?”. “Cũng có, cũng quán Đồng Nội 10 giờ sáng”. Thắng cười cười và nói, giọng lo lắng: “Đã liên lạc được với thằng X/49 cũng nhẹ gánh. Không biết mai mình có ra sớm được không?”. “Hy vọng ra sớm”, Tùng nói nhưng thật tâm anh không nghĩ như vậy, và thực tế đã chứng minh không phải như vậy.
5 giờ 30 sáng ngày mồng Một tháng Giêng, Tiểu đoàn 2/46 cuốn mìn, lấp hố, rời vị trí đóng quân đêm, mở rộng đội hình án ngữ và lục soát toàn bộ khu vực. Mười chín thương binh nặng nhẹ, mười một tử thi được tìm thấy, hai mươi bốn binh sĩ thất lạc được đón về.
11 giờ sáng ngày mồng Một. Chiến đoàn cho biết đã kiểm kê đầy đủ quân số Tiểu đoàn X/49. Tiểu đoàn 2/46 chấm dứt nhiệm vụ tìm đón binh sĩ thất lạc, gom xác, tải thương và nhận nhiệm vụ mới: hành quân truy kích địch. Lệnh hành quân chỉ định 5 mục tiêu, lộ trình tổng cộng 11 cây số. Cuộc hành quân không chạm địch, không tổn thất nhưng kéo dài 5 ngày. Ngày mồng Năm tháng Giêng, Tiểu đoàn 2/46 được rút về làm lực lượng trừ bị cho Chiến đoàn tại căn cứ Đức Dũng, gần ngã ba Phước Hiệp.
Đại đội nhận tuyến phòng thủ, Thường vụ phân chia khu vực trách nhiệm cho các Trung đội rồi trở vào gặp Tùng ở hầm chỉ huy: “Mới mồng Năm, chưa hạ nêu, vẫn còn Tết, 51 muốn nói chuyện với anh em không tôi tập hợp?.
Tùng hỏi Vinh “Mấy chai rượu hậu cứ mang lên còn không?”. Vinh đáp “Còn, 51”. Tùng dặn Thường vụ tập họp đại đội rồi quay lại nói với Vinh: “Cậu đi mời mấy ông 50, 52, 53, 54 tới chơi và chuẩn bị hát “Xuân Này Con Không Về”. Vinh cười, đưa tay gãi gãi đầu và nói, vẻ bẽn lẽn: “Em sẽ đi mời mấy thẩm quyền kia ngay, còn vụ Xuân Này Con Không Về, 51 cho em đổi lại là Đồn Vắng Chiều Xuân. Bài kia buồn quá em sợ mới làm mấy câu đã khóc không hát được hết”. Tùng thấy nghèn nghẹn những vẫn gượng cười, vỗ nhè nhẹ lên vai người lính trẻ, dễ dãi: “Muốn đồn vắng thì đồn vắng.”
Hôm đó Tùng đã nói chuyện rất lâu với những anh em sinh tử của mình, chia xẻ với họ nỗi niềm về cả một thế hệ nhiều kiêu hãnh và cũng đầy bất hạnh, uống với họ những nắp rượu đắng cay và kết luận với hy vọng một cái Tết vui hơn, đầy đủ hơn. Hy vọng đó không bao giờ có, năm âm lịch chậm sau dương lịch hơn ba mươi ngày, đã đầu tháng 2 năm 1975, không đầy ba tháng sau là thảm kịch 30 tháng tư. Thời gian không dài nhưng tai biến và dâu bể đã liên tục xảy ra cho một đơn vị bộ binh tác chiến giữa giai đoạn khó khăn, sinh tử cuối cùng. Nhiều anh em đã không còn, Trung sĩ nhất Võ Siêng, quyền Trung đội trưởng Trung đội 3 đã hy sinh ngày 27 tháng tư; người khách, người bạn chiến đấu, Trung úy Nguyễn Đức Thắng đã vĩnh viễn lìa xa anh em đêm 28 tháng tư; Thiếu úy Nguyễn Trung Còn, Trung đội trưởng trung đội 1 nằm lại giữa cánh đồng bưng ba tiếng đồng hồ trước khi đơn vị không còn biết một nơi nào còn có quân bạn để tìm đến chiều ngày 29 tháng tư. Đại đôi 1, Tiểu đoàn 2/46 không bao giờ còn có dịp ăn với nhau một cái Tết, cho dẫu là chỉ để uống với nhau chút rượu đắng trong nắp bình đông bên bờ tuyến phòng thủ.
Báo Nga nói về cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân 1968(Hồ sơ) - Tờ Lenta vừa có bài viết về cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu thân 1968 của quân dân Việt Nam.Ngày 31/1/2018, nhân kỷ niệm 50 năm Cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân, một trong những tờ báo nhiều bạn đọc nhất tại Nga – tờ “Lenta” đã đăng bài và chùm ảnh về chiến dịch quân sự này. Chúng tôi xin dịch để bạn đọc tham khảo cách nhìn của “người ngoài cuộc” về sự kiện lịch sử này của quân và dân ta. Các số liệu có thể không chính xác, cách nhìn có thể chưa thật sự khách quan. Chúng tôi có sửa một số địa danh và tên gọi theo cách gọi quen thuộc cho dễ hiểu. Sau đây là nội dung bài báo và các bức ảnh của “Lenta.ru”: “Ngày 31/1/1968, bộ đội chủ lực Bắc Việt Nam cùng quân du kích Việt Cộng đã tiến hành một chiến dịch quân sự lớn nhất trong toàn bộ lịch sử nước này. Trong khi miền Nam đang chuẩn bị đón tết- tức năm mới theo âm lịch, miền Bắc đã tiến hành một cuộc tấn công quy mô lớn trước tết một ngày- chiến dịch này sau được gọi là cuộc Tổng tấn công Tết (Mậu Thân). Mặc dù xét từ góc độ quân sự thì quân Miền Nam (Việt Nam Cộng hòa) và đồng mình Mỹ cũng có gây tổn thất cho miền Bắc, nhưng cũng chính cuộc tấn công Tết này đã quyết định việc người Mỹ phải rút ra khỏi cuộc chiến và đặt nền móng cho khúc khải hoàn cộng sản mấy năm sau đó. (Nhân sự kiện này) “Lenta.ru” nhắc lại (một số nét chính) của lịch sử một trong những chiến dịch quân sự nổi bật nhất của thế kỷ XX này .  | | Đường phố Sài Gòn. Ảnh: Photo Quest / Getty Images |
Đến năm 1968 , mức độ ủng hộ của dân chúng (Mỹ) đối với các hoạt động quân sự của Mỹ tại Việt Nam giảm đáng kế. Nếu như năm 1965, số người cho rằng việc cử quân Mỹ tới một đất nước xa xôi là một sai lầm chỉ chiếm 25% tổng số công dân Mỹ, thì đến tháng 12/1967, tỷ lệ trên đã tăng lên 45%. Mặc dù vậy, vẫn còn hơn một nửa người Mỹ cho rằng: một khi đã đưa quân đến Việt Nam thì cần phải kết thúc những gì đã bắt đầu và trở về nước cùng chiến thắng. Để có được sự ủng hộ của xã hội, chính quyền Mỹ cung cấp cho báo chí toàn những thông tin về các thắng lợi, các con số thống kế về số lượng những làng làng đã được “bình định” và số lượng cái gọi là “những Việt Cộng tàn ác” bị tiêu diệt.  | | Cuộc chiến giành thành phố Huế. Ảnh: Bettmann / Getty Images |
Người Mỹ tin chắc rằng: nếu như họ giết được càng nhiều, bắt được tù bình càng nhiều những người đứng dậy cầm vũ khí trong tay, thì sớm hay muộn những người cộng sản cũng sẽ thua trong cuộc chiến tranh tiêu hao này.  | | Những thường dân phải cầm cờ trắng khi đến gặp các binh sỹ Mỹ. Ảnh: Tim Page / Corbis / Getty Images |
Nhưng miền Bắc có những kế hoạch riêng của mình: tháng 4/1967, các tướng lĩnh Việt Nam bắt đầu lên kế hoạch tiến hành một cuộc tấn công quy mô lớn.  | | Lính thủy đánh bộ Mỹ bị thương trong một trận đánh giành giật thành phố Huế. Ảnh: Bettmann / Getty Images |
Người miền Bắc cho rằng chính quyền Việt Nam Cộng hòa không được dân chúng ủng hộ, và bằng cách tiến hành một đòn tấn công quy mô lớn có thể phát động một cuộc nổi dậy của người dân. Theo kế hoạch, họ sẽ chiếm giữ hoặc phá hủy một số lượng lớn vũ khí và phương tiện chiến tranh của Quân Mỹ để làm Mỹ không còn khả năng hỗ trợ các đồng minh của mình (Quân đội Việt Nam Cộng hòa).  | | Những người lánh nạn chạy khỏi thành phố Huế. Ảnh: Tim Page / Corbis / Getty Images |
Cũng theo kế hoạch, cuộc tấn công sẽ chia làm 3 giai đoạn: đầu tiên sẽ là một số cuộc tấn công nghi binh, sau đó là tổng tấn công vào các thành phố lớn. Nếu như cuộc tấn công (vào các thành phố lớn) thất bại, vào mùa xuân sẽ phát động giai đoạn (đợt) hai, và mùa hè- giai đoạn (đợt) ba. Mục đích của chiến dịch- làm tiêu hao lực lượng đối phương và buộc đối phương phải ngồi vào bàn đàm phán.  | | Lính thủy đánh bộ Mỹ đang kiểm tra lại kho đạn sau khi căn cứ bị Việt Cộng tấn công bằng tên lửa và đạn cối. Ảnh: John T. Wheeler / AP |
Công tác chuẩn bị được khởi động từ mùa hè năm 1967, và đến đầu năm 1968, miền Bắc đã tập kết tại khu giới tuyến quân sự đến 200.000 bộ đội và 81.000 tấn đạn dược. Đến thời gian đó, quân du kích Việt Cộng cũng đã tiếp nhận súng AK-47 mới và súng phóng lựu RPG-2. Nhờ vậy, quân Bắc Việt và Việt Cộng có ưu thế về hỏa lực trước quân Việt Nam Cộng hòa.  | | Máy bay Mỹ thả dù cung cấp thức ăn, nước uống và đạn dược cho Lính thủy đánh bộ Mỹ . Ảnh: John Lengel / AP |
Tuy nhiên, người Mỹ không đánh giá đúng việc chuyển quân quy mô lớn (của Bắc Việt) xuống miền Nam. Họ (người Mỹ) cho rằng, Bắc Việt không đủ sức (lực lượng) để tấn công. “Nếu như chúng tôi có được biết toàn bộ kế hoạch của họ (Bắc Việt), thì chúng tôi cũng đã không tin. Chắc chúng tôi sẽ cho là đấy là tài liệu giả” - một nhà phân tích quân sự Việt Nam Cộng hòa sau này kể lại.  | | Lính thủy đánh bộ Mỹ trong cuộc Tổng tấn công Tết. Ảnh: Dang Van Phuoc / AP |
Quân đội Mỹ đã phần nào sa vào bẫy nghi binh của người Việt Nam: trước cuộc Tổng tấn công, Mỹ đã điều một lực lượng đáng kể đến biên giới với Căm pu chia để đánh trả các cuộc tấn công tại khu vực này.
Thảm sát Huế Tết Mậu Thân Đỗ Kim Thêm 
Tóm lược Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 là một đại bại quân sự của ĐCSVN, vì khả năng chiến đấu tinh nhuệ của QLVNCH chưa bị bị tiêu hao và toàn thể dân chúng miền Nam không một lòng ủng hộ, nhưng nó đã tạo ra các thắng lợi chính trị tại Hoa Kỳ vả công luận thế giới thành một bước ngoặt chiến lược trong chiến tranh Việt Nam. Với quyết định việc tấn công này, ĐCSVN đã lừa dối đồng bào miền Bắc về ý nghiã đấu tranh và thực trạng của miền Nam để buộc họ phải hy sinh xương máu cho Đảng. Vi phạm hưu chiến để gây bao đau thương tang tóc cho nhân dân miền Nam không phải là sự lựa chọn sáng suốt để ĐCSVN thực hiện sứ mệnh lịch sử do giai cấp công nhân và nhân dân lao động miền Bắc giao phó. 50 năm trước, MTGPMN tháo chạy nhưng hô hào là chiến thắng và nạn nhân chiến cuộc được trao tặng 8 chữ vàng “Tấn công, nổi dậy, anh dũng, kiên cường.“ 50 năm sau, bản chất không thay đổi, ĐCSVN lại tự tuyên dương chiến thắng, quên đi bao tổn thất nặng nề và những sai lầm gây tội ác thảm sát. Với những nghịch lý bi đát này, ngụy sử đã không được sáng tỏ mà còn làm trầm trọng hơn. Thảm sát Xuân Mậu thân là một vết nhơ trong lịch sử của đất nước: Đó là lý do chính đáng để chúng ta không tham gia mừng lễ kỷ niệm 50 năm chiến thắng Xuân Mậu Thân mà tưởng niệm cho những người quá cố của hai miền vì cái chết oan uổng là do các quyết định hiếu chiến, liều lĩnh, thiếu hiểu biết và vô nhân đạo của ĐCSVN trước lương tâm, công luận và lịch sử. *** Bối cảnh Trong tinh thần “Vui Xuân nhưng không quên nhiệm vụ“, Quân Dân Cán Chính miền Nam đón Tết Mậu Thân vào ngày 31 tháng Giêng 1968 và hy vọng có được những ngày hưu chiến an lành. Khi cả Sài Gòn còn say ngủ, không ai ngờ, hai chiếc xe hơi mang theo Đội Biệt Động 11 do Ngô Thanh Vân (Ba Đen) chỉ đạo gồm 17 người dừng trước của Toà Đại Sứ Hoa Kỳ lúc 2 giờ 45 khuya. Chỉ một giây sau họ làm nổ một lổ lớn của bức tường an ninh rồi đột nhập vào trong khuôn viên và thi nhau bắn xối xã trong không khí tinh sương vắng lạnh. Bị tấn công bất ngờ, đội canh phòng Mỹ-Việt chạy tán loạn. Thừa thế, các cảm tử quân chạy lên các tầng một, hai và ba của Toà Đại Sứ và lục soát tứ tung. 20 phút sau lực lượng quân cảnh Mỹ mới phản ứng kịp và kêu trực thăng tới tiếp viện. Sáu tiếng đồng hồ sau, cuộc đột kích chấm dứt và quân cảnh Mỹ làm chủ được tình thế với năm người thiệt mạng, gây cho tất cả các du kích quân tử trận trừ tên đội trưởng bị bắt. Một phần văn phòng của Toà Đại Sứ bị thiệt hại nặng. 
Không phải Toà Đại Sứ là địa điểm duy nhất, mà còn Dinh Độc Lập, Đài Phát thanh, Bộ Tổng Tham Mưu, Bộ Tư lệnh Hải quân, Phi trường Tân Sơn Nhất, các cơ quan dân sự cuả chính phủ Việt Nam Cộng Hoà (VNCH) và các cơ quan quân sự Việt Mỹ khác tại Sài Gòn cũng bị khoảng hơn 4000 binh sĩ khác thuộc Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (MTGPNM) và Quân Đội Nhân Dân Việt Nam (QĐNDVN) tấn công. Với một lực lượng 100 tiểu đoàn, ước khoảng 84.000 quân, họ tấn công năm trong số sáu thành phố lớn, 36 tỉnh lỵ trong số 44 tỉnh và các cứ điểm khác của VNCH cùng trong dịp này. Từ du kích chuyển sang toàn diện, chiến cuộc Tết Mậu Thân cực kỳ đẩm máu làm hoang mang giao động cho toàn dân miền Nam và nước Mỹ và trở thành một trang sử mới của chiến tranh. Nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày biến cố tang thương này, bài viết sau đây sẽ trình bày khái quát những diễn tiến trên chiến trường Việt Nam và các tác động chuyển biến cho chính trường và công luận Mỹ với hy vọng sẽ là một đóng góp khiêm tốn trong tinh thần giải ảo ngụy sử cho thế hệ hậu chiến. Giai đoạn chuẩn bị Tống tiến công, Tổng khởi nghĩa hay Tổng công kích là cách gọi chính thức của giới lãnh đạo MTGPMN từ khi thành lập vào năm 1960. Họ nghĩ đến một chiến lược đấu tranh du kích để giải phóng dân tộc theo binh pháp cổ điển của Mao Trạch Đông: từ rừng núi tiến về nông thôn rồi lấy nông thôn bao vây thành thị. Để đạt mục tiêu này, MTGPMN đã lập nhiều mạng lưới nội tuyến và các toán biệt động thành để tấn công lẻ tẻ vào các thành phố và thủ tiêu các viên chức của VNCH, mà thí dụ điển hình là họ ám sát tỉnh trưởng Vĩnh Long năm 1960 và bắt tỉnh trưởng Phước Thành đem ra đấu tố giữa chợ và treo cổ năm 1961 nhằm gây tiếng vang. Tình trạng an ninh nông thôn tại một vài nơi bắt đầu suy yếu trong khi chính quyền miền Nam đang xây dựng cơ cấu hành chính phôi thai. Sau khi một số tướng lãnh của VNCH đảo chính chính phủ Ngô Đình Diệm, Bộ Chính trị Đảng Lao Động Việt Nam có một cuộc họp vào Tháng Mười hai năm 1963 tại Hà Nội và nhận định là Cách Mạng 1963 và các xáo trộn nội chính liên tục sau đó là một thuận lợi to lớn và tổng khởi nghĩa sẽ là hướng phát triển tất yếu của cách mạng miền Nam để đạt tới toàn thắng. Đến tháng Chín năm 1964, họ chủ trương là phải tiếp tục mở rộng sự kiểm soát tại vùng nông thôn và chuẩn bị tổng khởi nghĩa mà các đô thị sẽ trở thành trọng điểm. Diễn biến chiến trường không thuận lợi như Hà Nội mong đợi. Từ năm 1965, khi các lực lượng của Quân đội Hoa Kỳ được trang bị tối tân và yểm trợ bằng bằng hỏa lực không quân và hải quân hùng hậu, trận địa chiến theo quy mô kiểu Mỹ khởi đầu lan rộng khắp miền Nam. Trong hai năm 1966 và 1967 các lực lượng Mỹ-Việt thành công trên khắp các chiến trường và kiểm soát được nhiều vùng nông thôn hơn. Vào cuối năm 1967, quân số Mỹ lên đến 486.000. Quân đội Mỹ và các lực lượng Đồng Minh khác sử dụng gần 500.000 quân đã bẻ gẩy các cuộc tấn công của Cộng Sản. Với chiến lược vừa truy tầm và tận diệt của Hoa Kỳ và QLVNCH làm cho MTGPMN tổn thất nặng nề. QLVNCH yểm trợ 54 tiểu đoàn cho 555 toán cán bộ Xây Dựng Nông Thôn (XDNT) bình định và cải tổ dần từng thôn ấp. Trong khi MTGPNM càng khó khăn chiêu dụ thêm các du kích quân tham gia, thì Mỹ không kích tại miền Bắc gây trở ngại cho việc tiếp tế vũ khí và đạn dược. Trước tình hình này, giới lãnh đạo MTGPMN không còn hy vọng về một cuộc tổng nổi dậy mà phải đối mặt với thất bại không thể tránh khỏi. Tháng 6 năm 1967, Tướng Nguyễn Chí Thanh, Bí thư Trung Ương Cục Miền Nam và Tư lệnh chiến trường miền Nam, được triệu tập ra Hà Nội để chung quyết về một binh pháp mới cho chiến trường để mong lật ngược tình thế. Theo Tướng Thanh, miền Nam không thể áp dụng sách lược của Mao Trạch Đông, vì các tỉnh miền duyên hải trù phú đông dân kéo dài đến tận miền Đông hiểm trở, chỉ có vùng châu thổ đồng bằng sông Cửu Long là có địa hình giống với Trung Quốc. Một cuộc tấn công vào các thành thị miền Nam chỉ khả thi khi dân chúng nội thành hưởng ứng nổi dậy làm cho chính quyền Tổng thống Thiệu sụp đổ; một chính phủ liên hiệp thành hình sau đó sẽ không còn làm người Mỹ có đủ lý do biện minh về sự cam kết của họ. Mỹ không thể mang ảo tưởng chiến thắng bằng quân sự và phải lo chuyện rút quân. Để đúc kết về một binh pháp cho năm 1968, Bí Thư thứ Nhất Lê Duẩn của Đảng Lao Động Việt Nam đi đến quyết định là “chuyển hướng tiến công vào Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng. Mỹ khôngcòn con đường nào khác, …Mỹ phải chấp nhận thất bại về quân sự, cô lập về chính trị … Mỹ sẽ phải rút khỏi miền Nam.“ Trong khi họp, tướng Thanh bị đột tử đầy bí ẩn tại Quân y viện 108 ngày 6 tháng Bảy năm 1967. Có nhiều suy đoán về cái chềt này là tướng Thanh bị không kích của B.52 ở vùng Mỏ Vẹt, hoặc bị thanh toán nội bộ vì những sai lầm về binh pháp gây tổn thất nặng nề trong các trận Đức Cơ, An Khê, Pleimei, Ia Drang, Sa Thầy, Tây Ninh trong hai năm 1965 và 1966 hoặc vì quá chén tiệc tùng mà bị suy máu cơ tim. Để thay cho tướng Thanh chuẩn bị tổng công kích, Hà Nội quyết định đưa Tướng Võ nguyên Giáp, người hùng của chiến thắng Điện Biên Phủ, Tổng Tư lệnh QĐNDVN, đảm nhiệm tư lệnh chiến trường miền Nam; phụ tá cho tướng Giáp là Hoàng Văn Thái nắm toàn bộ lực lượng vũ trang năm tỉnh phía Nam Trung bộ và toàn miền Nam và Vũ Nam Long nắm Đặc khu Trị-Thiên. Phạm Hùng làm Tân Bí thư cho Trung Ương Cục miền Nam. Giai đoạn thực hiện Công tác nội thành Ngay từ đầu muà Thu 1967, MTGPMN đã cho các toán nội tuyến chuyển vô số vũ khí và đạn dược vào các cơ sở nội thành tại miền Nam. Vì các cơ quan an ninh quân sự cũng như dân sự của VNCH đã không kiểm soát được các hoạt động nội tuyến này và tệ nạn móc ngoặc đã làm cho việc vận chuyển vào các thành phố rất an toàn. Trận Khe Sanh Diễn tiến Khe Sanh cách biên giới Lào 20 cây số, là một khu vực hiểm trở gần khu phi quân sự và đường mòn Hồ Chi Minh, có địa hình lòng chảo giống như Điện Biên Phủ. Từ năm 1962, Khe Sanh được Lực Lượng Đặc Biệt Mũ Xanh Hoa Kỳ sử dụng làm nơi xuất phát các phi vụ thám thính đất Làọ. Đến năm 1967, có hai Trung Đoàn Thủy quân Lục chiến Mỹ và Tiểu đoàn 37 Biệt Động Quân của VNCH đồn trú với khoảng 6.000 quân, họ có nhiệm vụ kiểm soát các hoạt động của QĐNDVN. Khi vây chặt Khe Sanh vào giữa năm 1967, QĐNDVN có một vài giao tranh nhỏ nhằm gây lạc hướng cho đối phương, đúng theo chiến thuật nghi binh của tướng Giáp. Ngày 21 tháng Giêng năm 1968, QĐNDVN cho di chuyển hai sư đoàn 304 và 325 chính quy, khoàng 17.500 quân, tấn công Khe Sanh bằng hoả lực pháo binh nặng nề làm cho kho đạn bị hoàn toàn thiêu hủy và gây thiệt hại trầm trọng các công sự phòng thủ của Mỹ. Trước nguy cơ thất thủ như Điện Biên Phủ, Tướng William C. Westmoreland huy động thêm 15.000 binh sĩ giải cứu và ra lệnh tăng cường kiểm soát các tuyến đường thâm nhập Khe Sanh. Sau đó, tổng số binh sĩ Mỹ-Việt phòng thủ lên đến 50.000. Trước hoả lực pháo binh dồn dập của đối phương, Tổng Thống Lyndon B. Johnson, từ Toà Bạch Ốc, cam đoan với các binh sĩ đang bị vây là sẽ yểm trợ tối đa và gia tăng các cuộc không kích các khu vực chung quanh Khe Sanh. Ông ra lệnh cho Tướng Earle G. Wheeler, Tổng Tham Mưu Trưởng Liên Quân, phải giử Khe Sanh bằng mọi giá vì ông không muốn thất bại như trận Điện Biên Phủ. Cho đến cuối tháng tư, Johnson đã ra lệnh ném trên 100.000 tấn bom xuống quanh Khe Sanh, một khối lượng bom lớn nhất lên trên một khu vực khỏ bé, gây tác hại lâu dài nhất về môi trường. Trước các phản pháo liên tục của Mỹ, các binh sĩ của QĐNDVN phải tuần tự rút khỏi Khe Sanh, nhưng từ cứ điểm bên kia biên giới Lào họ tiếp tục pháo kích. Từ tháng Sáu năm 1968, họ không còn khả năng uy hiếp như trước, sau khi toàn bộ đã bị đánh đuổi ra khỏi Khe Sanh. Cuối cùng, ngày 6 tháng Bảy năm 1968 lính Mỹ rời Khe Sanh mà chỉ còn hành quân lưu động và tiếp tục ném bom. Khe Sanh thành vùng oanh kích tự do vì không còn giá trị phòng thủ chiến lược. Đến năm 1971, căn cứ Khe Sanh mới được QLVNCH sử dụng lại. Tống kết thành tích Lần đầu tiên trong lịch sử chiến tranh Việt Nam, Khe Sanh là một trận giao chiến ác liệt với cấp số sư đoàn, hoả lực pháo binh hùng hậu, thiết giáp tối tân và không kích quy mô nhất. Nhưng cho đến nay, không ai có thể kiểm chứng được là ai thắng và ai thua, mà các giải mật về sau cũng không thể soi sáng. Sở dĩ có nhiều lý giải khác biệt là vì hai phe xem tuyên truyền chính trị vẫn là quan trọng hơn quân sự. Về ý nghiã chiến thắng được phe thắng cuộc ca ngợi trân Khe Sanh “mốc son chói ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng“ trong khi phía Mỹ cho tới nay cũng cho là “chiến thắng vang dội của quân đội Hoa Kỳ tại Nam Việt Nam“. Về chiến thuật, phe thắng cuộc cho rằng Tướng Giáp dồn lính Mỹ vào Khe Sanh để có thể tấn công các vùng khác, cùng lúc tạo một chiến thắng như Điện Biên và buộc Hoa Kỳ phải đầu hàng. Trong khi Tướng Westmoreland cho là đã tương kế tựu kế để tiêu diệt đối phương, vì Hoa Kỳ có đầy đủ phương tiện hơn Pháp để phòng thủ và tiếp tế cho Khe Sanh trong lâu dài làm cho đối phương đã không chiếm nổi mà còn bị tử vong nặng nề. Nhưng các con số thương vong của hai phiá là không chính xác. Phe thắng cuộc dựa vào ước tính sau 170 ngày chiến đấu, nên đã “loại khỏi vòng chiến đấu 11.900 tên địch, bắn rơi 480 máy bay, 120 xe quân sự, thu và phá hủy hàng trăm khẩu pháo” trong khi Hoa Kỳ nói là sau 77 ngày trực chiến đã đã giết tới 15 nghìn người. Chiến cuộc Mậu Thân Diễn tiến Tuân thủ truyền thống cao đẹp của những ngày hưu chiến, nên hơn phân nửa các binh sĩ QLVNCH được nghĩ phép về thăm gia đinh, có đơn vị chỉ còn 30% quân số đồn trú. Do đó, QLVNCH không tập trung phòng thủ, nhất là các thành phố. Tổng thống Johnson, Tướng Westmoreland và Tổng Thống Thiệu đều tin mục tiêu chính của CSBV là Khe Sanh và không còn tấn công vào nơi nào khác trong dịp Tết. Theo ước lượng chung, sác xuất tấn công, nếu có, là từ 40-60% trong những ngày trước hoặc sau tết. Đánh giá sai lầm này khởi đầu một trang sử mới cho chiến tranh Việt Nam: năm 1968 trở thành một năm kinh hoàng cho VNCH với ba đợt tấn công của MTGPMN: 30 tháng Giêng đến 28 tháng Ba, 5 tháng Năm đến 15 tháng Sáu và 17 tháng Tám đến 30 tháng Chín trên chiến trường tạo các biến cố dồn dập trong chính trường Việt – Mỹ. 
Tại Sài Gòn, MTGPMN thâm nhập tại nhiều địa điểm khác nhau trong thành phố. Dù thiếu chuẩn bị, nhưng ngay sau những hoảng loạn ban đầu, QLVNCH đã có những phản ứng quyết liệt chống trả. Gần 11.000 binh sĩ Hoa Kỳ và QLVNCH đã đẩy lui các cuộc tấn công khốc liệt; cả hai bên dành nhau từng con đường chật hẹp, nhất là khu vực Chợ Lớn. MTGPMN thất bại nặng nề vì không thông thạo địa hình và không có sự bao che của dân chúng như tại nông thôn. Sau một tuần giao tranh dữ dội, đặc biệt nhất là có trực thăng Mỹ yểm trợ đắc lực cho việc tiến chiếm này, MTGPMN bị đánh bật ra khỏi Sài Gòn. Theo một tài liệu chưa được kiểm chứng, kết quả là phía VNCH: 323 tử thương, 907 bị thương; phía CSVN: 5.289 tử thương và 415 bị bắt. Tại Huế, được nhiều sinh viên và Phật tử thân Cộng hỗ trợ, với lực lượng chính quy hơn 7500 binh sĩ, CSBV đã chiếm cứ lâu nhất, có nhiều giao tranh khốc liệt và thảm sát dân chúng đẩm máu nhất. Trong 25 ngày chiến đấu, cả hai bên đều chịu nhiều thiệt hại: VNCH có hơn 4.400 thương vong; phía Mỹ có 147 chết và 857 bị thương, còn Quân Giải phóng mất khoảng 4.000 người, các tài liệu của hai phe phổ biến khác nhau và không chính xác vì khó kiểm chứng. Hỏa lực pháo binh VNCH yểm trợ tái chiếm và các cuộc chạm súng trên từng đường phố làm các di tích lịch của cố đô bị thiệt hại đến 85 phần trăm. Số thường dân bị giết khi đi học tập, bị thanh toán theo từng nhà và từng con đường qua hình thức Toà án Nhân dân và bị chôn sống trên đường tháo chạy lên đến khoảng 6.000 người. Trong số nạn nhân còn có cả những hai linh mục người Pháp dòng Thiên Ân và bốn người giáo sư Đức ở Viện Đại học Huế. Trên 100.000 dân phải di tản. Đến ngày 24 tháng Hai thành phố Huế được QLVNCH tái chiếm trong hoang tàn đổ nát. Tại Bến Tre, hình ảnh giao chiến ít khốc liệt như Huế, nhưng cũng làm cho 451 VC, 60 VNCH, 35 Mỹ tử thương, nhiều thường dân thiệt mạng và bị thương và 50 phần trăm nhà cửa bị hư hỏng. Không có cảnh chôn sống như tại Huế, nhưng việc tái chiếm Bến Tre cũng bi thàm mà một câu nói của Thiếu tá Lục quân Phil Cannela, chỉ huy tái chiếm, đến nay vẫn còn được các phương tiện truyền thông Mỹ trích thuật một cách sai lạc gây tác hại về ngoại vận cho phe Mỹ:”Chúng ta phải phá hủy Bến Tre để giải cứu cho Bến Tre”. Thực ra toàn văn phải là: Việt Cộng đã phá huỷ thị xã và đó là điều đáng tiếc (“Vietcong had destroyed the town and that was a shame; It became necessary to destroy the town in order to save it” Tại các thành phố khác của miền Nam, các cuộc giao chiến cũng có hình ảnh tương tự; dù có địa hình khác biệt, nhưng tựu chung tiến trình là giống nhau. Sau khi bị phe MTGPMN tấn công bất ngờ, QLVNCH phản công mãnh liệt, toàn thể dân chúng không nỗi dậy mà cũng không yểm trợ tiếp liệu, nên cuối cùng, kháng chiến quân thất bại và tháo chạy. Tống kết thành tích Khác hẳn trận Khe Sanh, thành tích quân sự trong chiến cuộc Mậu Thân nghiêng rõ rệt về phiá VNCH mà cả hai phe đều xác nhận. Lần đầu tiên, QLVNCH đã tỏ khả năng chiến đấu tinh nhuệ trước một cuộc chiến tranh toàn diện. Tướng Earle G. Wheeler đã nhấn mạnh: “QLVNCH đã kháng cự cuộc tấn công ban đầu với một sức mạnh thần kỳ.” Yves Gras, một tướng lãnh Pháp, cũng đã viết: “QLVNCH giữ vai trò chủ yếu trong các trận đánh bẻ gãy cuộc tấn công Tết Mậu Thân.” Tướng Westmoreland nhận xét: “Trong số 149 tiểu đoàn tác chiến của VNCH có 42 tiểu đoàn cực kỳ xuất sắc và chỉ có 8 tiểu đoàn thuộc loại kém.“ Tổn thất của phiá VNCH thật là thảm khốc: 4.954 sĩ quan và binh sĩ, 14.300 thường dân chết và 25.000 bị thương. Hoa Kỳ chết 3.895 sĩ quan, binh sĩ và nhân viên, các đồng minh khác chết là 214. Trên 84.000 nhà cửa bị thiêu hủy vả 30.000 hư hại nhẹ làm thiệt hại lên tổng số khoảng 4, 5 tỷ tiền VNCH vào năm 1968. 84 xí nghiệp bị thiệt hại nặng khoảng 4 tỷ, trầm trọng nhất là ngành dệt. Khoảng 670.000 (tài liệu khác cho là 821.000) dân chạy tỵ nan, trên 200.000 người lâm vào cảnh vô gia cư, đa số không có thể hồi hương lập nghiệp mà sống bất định tại 117 trại tập trung cứu trợ trong thành phố. Số thiệt hại của lực lượng Cảnh sát là 447 người chết, 758 bị thương và 157 người mất tích. Tổn thất về phía MTGPMN nặng nề hơn, Tướng Trần Văn Trà đã thú nhận là “… ta không đánh giá đúng về tương quan lực lượng ta địch cụ thể lúc ấy, không thấy hết khả năng còn lớn của địch và điều kiện còn hạn chế của ta, đề ra yêu cầu quá cao sức thực tế ta có…” Sai lầm này cuả MTGPMN làm cho khoảng 32.000 thiệt mạng (có tài liệu khác cho là trên 44.000 hoặc dưới 58.000), 64.000 bị thương và 5.800 người khác bị bắt. Nguyên nhân chính của thảm hoạ này là vì dân thành phố không hướng ứng nổi dậy, phần lớn ủng hộ chính quyền VNCH, phần khác có thái độ trung dung, chỉ tìm cách tránh thiệt hại trong các cuôc giao tranh. Nhưng quan trọng nhất là sự chống trả anh dũng của QLVNCH và tệ hại nhất là vì các du kích quân không thông thạo địa hình thánh phố khi tháo chạy. Hậu quả là chẳng những tinh thần dân chúng nông thôn mà cả thành phố bắt đầu sa sút và ý thức về nguy cơ sống còn sau chiến cuộc. Tình hình kinh tế miền Nam tệ hại hơn: mưu sinh khó khăn, lạm phát làm cho các mặt hàng hóa lên giá không lường được và chính phủ cũng bất lực trong việc kiểm soát. Ngược lại, đại đa số thanh thiếu niên tại các thành phố có tinh thần chống Cộng hơn; họ tham gia các phong trào cứu trợ nạn nhân chiến tranh hay nhân dân tự vệ. Uy tín chính trị của MTGPMN xuống thảm hại vì không còn chiêu dụ kháng chiến quân ở nông thôn vì dân bỏ ra thành thị sinh sống; cán bộ cho cơ sở nội thành thưa thớt; các người thân Cộng bị lộ, nên họ phải rút ra bưng. Nguyễn Văn Linh thú nhận là các cơ sở nội thành bị tiêu diệt hay vỡ nhiều mảng. Cơ sở ngoại thành cũng bị quét sạch vì kế hoạch bình định cấp tốc. Bộ Chỉ huy Thành ủy phải trốn tránh và mất 1 năm 28 ngày mới tới được căn cứ. Dù lui về các căn cứ, nhưng MTGPMN cũng không còn đựợc yên thân vì bị lực lượng quân sự Mỹ Việt truy kích ráo riết, nên thiệt hại nặng nề. Cuối tháng 9 năm 1968, CSVN đã ngừng hoạt động quân sự vì bị tiêu hao và bổ sung không kịp. Tiếp tế khó khăn nhất là ở Tây nguyên, nên giữa năm 1969 lương thực chỉ đủ nuôi bộ đội trong khoảng một tuần. Do đó, CSBV đã phải điều động một sư đoàn và các đơn vị không tác chiến khác “tập kết lần thứ hai”ra Bắc. Thực lực quân sự của MTGPMN không còn và lệ thuộc hoàn toàn vào sự điều động của QĐNDVN. Dù đại bại về quân sự, nhưng chiến cuộc Tết Mậu Thân đã đem lại thành công chiến lựợc cho CSBV tạo nhiều phản ứng kinh hoàng trong chính trưòng và dân chúng Mỹ, đánh dấu một điểm chuyển biến mới làm bất lợi cho phiá VNCH trong mặt trận truyền thông quốc tế. 1968: Annus horribilis (Năm kinh hoàng) cho chính quyền và công luận Mỹ Sợ hải lan rộng Như thường lệ vào buổi cơm tối của gia đình, dân chúng Mỹ đang xem tin tức thế giới trong ngày 31 tháng Giêng năm 1968 trước màn kính truyền hình. Đột nhiên, các hình ảnh kinh hoàng hiện ra: Toà Đại Sứ Mỹ bị đột kích đẩm máu; thành phố Sài gòn với cảnh hai phe đánh cận chiến trên từng gốc phố, nhà cửa cháy rụi, dân chúng chạy tán loạn và người xác đầy trên đường phố. Kinh khiếp nhất là cảnh Tướng Nguyễn Ngọc Loan, Tư Lệnh Lực lượng Cảnh Sát, xử tử Nguyễn Văn Lém (Bảy Lốp), ngay tại ngả tư đường Ngô Gia Tự và Sư Vạn Hạnh, gần chùa Ấn Quang. Hình ảnh này được Eddie Addams, một phóng viên Mỹ, chụp đúng lúc và ký giả quốc tế đã đưa lên các phương tiện truyền thông; thế giới khinh bỉ lên án ông Loan là “vi phạm công ước Genève về tù binh” và “tội phạm chiến tranh”. Thực ra, các hình ảnh khác còn thương tâm hơn mà báo chí và công luận thế giới trước đó và sau này không biết đến, đó là Bảy Lốp, một hung thủ đã giết nhiều thường dân vô tội, đặc biệt nhất là toàn gia đình của Trung Tá Nguyễn Tuân, một sĩ quan tùy viên của tướng Loan, trong đó có một người mẹ 80 tuổi. Phản ứng trả thù của Tướng Loan làm cho dân chúng Mỹ phẩn nộ, gây tác động lâu dài trong tâm trí mọi người là phía VNCH quá tàn nhẫn. Nhưng quan trọng hơn, họ tự hỏi tại sao Toà Đại Sứ uy nghi và Sài Gòn hoa lệ không còn an ninh nửa, trong khi con em của họ đang đem sinh mạng ra để ngày đêm bảo vệ cho VNCH và luôn tin là ngày chiến thắng Cộng Sản đã gần kề. Ngạc nhiên trước biến cố này, Tổng thống Johnson tìm cách xoa dịu lòng căm phẩn của công luận khi tuyên bố là các phản công của các lực lượng Mỹ Việt đã có hiệu quả. Johnson càng trấn an thì càng vô hiệu, khi các phóng viên chiến trường gởi tới tấp các bài tường thuật sống động với tràn ngập các hình ảnh của Sài Gòn đẩm máu là khả tín hơn. Uy tín của Johnson xuống thấp từng ngày và đa số bắt đầu bất tín nhiệm ông trong vai trò Tổng Thống. Thăm dò dư luận cuối tháng Hai năm 1968 cho thấy chỉ còn 32 % dân chúng là ủng hộ Mỹ tiếp tục tham chiến. Suốt ba năm trước đó, Johnson luôn giải thích là VNCH đang kiểm soát được tình hình, loại CSBV ra khỏi vòng chiến, các biện pháp leo thang chiến tranh sẽ giúp cho Mỹ sớm kết thúc chiến tranh, mọi tiến triến không thể đảo ngược và kẻ thù sẽ bị đánh bại. Tướng Westmoreland cho là QLVNCH rất kiên cường và chính phủ VNCH có nhiều hiệu năng, nhưng cả hai cần kết hợp hơn để gia tăng kiểm soát các khu vực nông thôn, đây chính là phương sách buộc MTGPMN đang suy yếu phải đầu hàng. Vào mùa thu năm 1967, Tướng Westmoreland đã đề nghị tăng thêm quân số, nhưng không hề tiết lộ chi tiết. Tháng Hai năm 1968, ông yêu cầu mở thêm các cuộc hành quân phá vỡ các cứ điểm của CSBV dọc theo đường mòn Hồ chí Minh, song hành với việc không kích miền Bắc. Tài liệu giải mật về sau hé lộ là ngày 13 tháng Hai năm 1968, Bộ Quốc phòng Mỹ chấp thuận tăng 10.500 quân, con số quá ít so với yêu cầu. Tại Washington, Tướng Earle G. Wheeler, Tham Mưu Trưởng Liên Quân Bộ Quốc Phòng, chuẩn nhận mọi kế hoạch của Tướng Westmoreland, vì việc huy động các lực lưong trứ bị của Mỹ bị được đề ra từ năm 1967, nhưng còn chờ Johnson chấp thuận. Để thuyết phục Johnson về một binh pháp mới cho Việt Nam, ngày 21 tháng Hai năm 1968, Tướng Wheeler đến Sài gòn để tham khảo ý kiến với Tướng Westmoreland. Sau khi quan sát về thành quả của QLVNCH trong chiến cuộc Mậu Thân, cả hai đồng thuận là quân số phải tăng thêm 206.000 người, nhưng quan điểm của Tướng Wheeler không quá lạc quan như Tướng Westmoreland. Khi báo cáo với Tổng thống Johnson, Tướng Wheeler dè dặt cho là tương lai có nhiều triển vọng, nhưng cũng đầy nguy hiểm. Dù đối phương thất bại nặng nề, nhưng nếu khả năng hồi phục nhanh chóng và tinh thần chiến đấu còn cao, thì một cuộc tấn công mới là có thể xảy ra, dù là chuyện khan hiếm. Ông cảnh báo về một thái độ kiên quyết trong việc đòi thêm quân số. Tuy nhiên, Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng McNamara không chấp thuận và Tổng thống Johnson cũng không dứt khoát Trong dịp này, Bộ Quốc Phòng cũng thảo luận về triển vọng các cuộc không kích Hà Nội, Hải Phòng và các hệ thông đê điều của miền Bắc. Johnson bác bò các đòi hỏi này và nhất là việc huy động lực lượng trừ bị. Cuối cùng, Tướng Wheeler trình bày để cho Johnson chung quyết: Nếu Tổng thống không chấp thuận tăng 206.000 quân, thì cuộc chiến sẽ còn kéo dài và Mỹ sẽ có nguy cơ thảm bại; nếu chấp thuận tăng quân, thì Mỹ phải huy động lực lượng trừ bị và mở rộng chiến tranh. Báo cáo của Tướng Wheeler có tác dụng như một quả bom cho Toà Bạch Ốc. Từ 1 tháng Ba năm 1968, Clark M. Cliiford đảm nhiệm chức vụ Tổng trưởng Quốc Phòng thay cho Mac Namara. Ngay sau khi nhận được đề nghị của Tướng Westmorland, ông thấy có khó khăn khi duyệt xét, nhất là không thể biết được mức độ gia tăng quân số và khả năng phòng thủ của đối phương. Trong khi họp bàn, Bộ Quốc Phòng còn đề nghị một chiến lược mới: Để tìm một lối thoát danh dự, Mỹ sẽ trang bị thêm, giao trọn việc chiến đấu cho QLVNCH và chỉ bảo vệ các thành phố. Cùng lúc, Mỹ tuần tự rút quân và thúc đẩy cho VNCH chịu hoà đàm. Đó là các tiền đề mà sau này Richard Nixon và Henry Kissinger kế tục. Đứng trước một tình huống nan giải, Johnson cố giử cho Mỹ thiệt hại ở mức tối thiểu. Trong phiên họp hai ngày 4 và 5 tháng Ba năm 1968, Johnson chấp thuận là Bộ Quốc Phòng cần phải nghiên cứu chương trình Việt Nam Hoá chiến tranh, tạm thời tăng quân số với 22.000 và triển khai các sáng kiến về hoà đàm của Ngoại trưởng Dean Rush. Làm như vậy, Johnson cố tình kéo dài, nhưng Johnson lầm vì các chính biến dồn dập kinh hoàng cho nước Mỹ trong suốt năm 1968. Ngày 10 tháng Ba năm 1968, New York Times tung tin là “Tướng Westmoreland xin thêm 206.000 quân“, gây sôi nổi trong công luận và quốc hội. Để làm sáng tỏ vấn đề, Ngoại trưởng Dean Rush phải ra điều trần tại Thượng viện và công luận có dịp theo dõi nội dung qua trực tiếp truyền hình, tuy nhiên ông không thuyết phục được cả hai. Các dân biểu Quốc hội có một nghị quyết với một tỷ lệ 139 trong tổng số 400, nội dung đòi hòi là phải có một việc duyệt xét toàn diện chương trình tham chiến của Mỹ tại Việt Nam. Khi sợ hải lan rộng, mọi kế hoạch của chính quyền Mỹ luôn bị nghi ngờ, nhất là khó tìm ra ý nghĩa đích thực và quyền lợi sinh tử của Mỹ trong việc thực hiện kế hoạch này, trong khi ảnh hưởng kinh tế và tài chánh của chiến cuộc trở thành một đề tài sôi động. Biến động thị trường tiền tệ quốc tế Trước đây, theo Thoả uớc Breeton Woods từ tháng Sáu năm 1944, tất cả các nước châu Âu, ngoại trừ Pháp, có một nguyên tắc bảo đảm về dự trữ tiền tệ mà các Ngân hàng Trung ương đồng thuận là không sử dụng cách đổi tiền Đô là Mỹ thành vàng; tương thuận này không ảnh hưởng đến các giao hoán trong lĩnh vực tư nhân. Vào đầu năm 1968, chiến tranh Việt Nam tác động thị trường khi giá trị của đồng Đô la trên thị trường tài chính quốc tế giảm trong khi thị trường lãi xuất tăng cao. Tình thế đạt tới cao điểm vào ngày 14 tháng Ba năm 1968, khi các ngân hàng thương mại châu Âu bán ra 370 triệu Đô la để đổi lấy vàng, kể cả Banque de France cũng bị ảnh hưởng đến khối lượng ngoại tệ dự trử. Do áp lực của Qũy Dự trử Liên bang, Johnson không còn cách nào khác hơn là cho đình chỉ áp dụng nguyên tắc bảo đảm đổi Đô la thành vàng. Johnson phải báo động cho các Ngân hàng Trung ương châu Âu về viễn tượng sụp đổ cuả hệ thống tiền tệ thế giới, mà mức tác hại về chính trị còn trầm trọng hơn là khủng hoảng kinh tế thế giới vào năm 1929. Dù là một quyết định nhất thời, nhưng lại có giá trị biểu tượng là Mỹ không còn đủ khả năng đảm nhiệm các thanh toán quốc tế. Điều này có nghĩa là Mỹ không còn thống trị nền kinh tế thế giới mà khiếm hụt ngân sách do chiến tranh Việt Nam cũng góp phần. Khiếm hụt ngân sách tăng cao Nuôi quân Mỹ và kinh viện cho Việt Nam thành một áp lực nặng nề cho ngân sách. Riêng trong năm 1967 kinh phí quốc phòng đã lên đến mức kỷ lục là 20,3 tỷ Đô la và mức bội chi cho chương trình Great Society nhằm phục hồi kinh tế nội địa và phát triển cơ sở xã hội hạ tầng gây lo ngại nhiều hơn. Tình trạng khiếm hụt ngân sách của năm 1967 là 9 tỳ và dự đoán là sẽ lên đến khoảng 25 đến 28 tỷ trong năm 1968. Johnson buộc phải đề nghị tăng thu thuế 10% và kiểm soát gắt gao hơn các biện pháp chi ngân sách. Các chuyên gia kinh tế ý thức về tầm vóc tác hại của khủng hoảng vàng cho Mỹ trong trường kỳ. Đối với dân chúng, hiệu ứng trên thị trường vàng không quan trọng bằng khiếm hụt ngân sách, tình trạng sẽ làm cho chính quyền phải tăng thuế. Cuối cùng, một thoả hiệp với Quốc hội đạt đuợc là giảm chi cho chương trình Great Society là 6 tỷ Đô la và tăng thuế ít hơn. Không giải pháp cho Việt Nam Để tham khảo vấn đề chiến tranh Việt Nam, ngày 26 tháng Ba năm 1968, Johnson triệu tập một phiên họp Hội Đồng An Ninh Quốc Gia mở rộng; trong số khách mời tham dự này còn có Mc Georg Bundy, Georg Ball và Dean Acheson, ba khuôn mặt có uy tín nhất của Mỹ. Từ năm 1967, ba ông đã công khai ủng hộ Johnson không kích miền Bắc và viện trợ quân sự cho miền Nam. Qua lần triệu tập này, Johnson hy vọng được họ tiếp tục hỗ trợ. Acheson, nổi danh là người đề ra chương trình tái thiết hậu chiến với Kế hoạch Marshall và Hoc thuyết Truman nhằm củng cố vai trò của Mỹ tại châu Âu và Nhật Bản, ông cảm thấy các công trình của Mỹ đang bị de dọa trước tình hình mới. Đối với Việt Nam, Acheson là ngoại trưởng Mỹ công nhận chế độ Bảo Đại và khởi động cho việc tái thiết Việt Nam trong thời kỳ xây dựng quốc gia. Nhưng ông nhận thấy nay tình hình khác hẳn so với trước đây và các thử nghiệm tại Việt Nam về việc thành lập quốc gia hoàn toàn thất bại. Kể từ tháng Ba, cả ba đã nhận ra nhiều yếu tố ủng hộ cho Johnson không còn: sau chiến cuộc Mậu Thân thì áp lực của giới phản chiến lên cao, chia rẽ trong Đảng Dân Chủ nặng nề; Quốc hội và công luận chống đối chính quyền rõ rệt; Mỹ suy yếu trong việc lãnh đạo nền kinh tế thế giới và áp lực giới tài phiệt thuộc Wall Street mạnh hơn. Trước tình hình này, ngày 31 tháng Ba năm 1968, Johnson đọc một bài diễn văn bày tỏ thiện chí trước truyền hình với nội dung là sẽ chấp nhận hoà đàm không điều kiện: Mỹ sẽ ngưng oanh tạc miền Bắc từ vĩ tuyến 20. Nếu Hà Nội phản ứng tích cực, ông sẽ bỏ hẳn việc ném bom miền Bắc. Dù không đề cập đến vấn đề giảm quân số Mỹ đồn trú tại Việt Nam, nhưng ông không cho leo thang chiến tranh và sẽ không ra tranh cử. Ông tuyên bố: “Accordingly, I shall not seek and I will not accept the nomination of my party for another term as your President.” Nhin toàn diện, Johnson muốn rời khỏi chính trường và cũng không có giải pháp nào cho Việt Nam. Trong khi Johnson còn chờ đợi Hà Nội phản ứng, thì một loạt biến động kinh hoàng cho nước Mỹ trong năm 1968. Động loạn xã hội liên tục Ngày 16 tháng 3 năm 1968 thảm sát Mỹ Lai gây kinh động cho lương tâm dân chúng Mỹ: Trung uý William Calley hướng dẫn một toán lính Mỹ hành quân, lục soát và giết khoảng 200 dân làng tại khu vực thôn Mỹ Lai thuộc làng Sơn Mỹ, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi; tất cả nạn nhân là trẻ con, phụ nử và ngưòi già. Đây là một biểu tượng thương tâm nhất về tội ác cuả Mỹ tại Việt Nam, tạo thành một hình ảnh đối kháng rõ rệt giữa lính Mỹ và người Việt, không phân biệt chiến tuyến. CSBV cũng vi phạm luật thời chiến trong việc bảo vệ thường dân, nhưng truyền thông Mỹ ít quan tâm. Ngược lại, thảm sát Mỹ Lai, dù về sau mới được phát hiện và Mỹ có đem ra toà án, nhưng được truyền thông khai thác triệt để nên gây bất lợi cho chính quyền Mỹ trong việc phát huy chính nghĩa yểm trợ cho VNCH. Ngày 4 tháng Tư năm 1968, James Earl Ray ám sát Mục sư Martin Luther King jr. tại Memphis, Tennessee làm cho làn sóng sinh viên chống đối kỳ thị chủng tộc lan rộng, khởi đầu từ Đại học Berkely, sau đó đến New York và Columbia và Harvard. Cành đốt xe, đốt nhà và hôi của tại các cửa tiệm tại Washington và hàng trăm thành phố khác là hình ảnh tang thương rõ nét. Hai sinh viên da đen thuộc Đại học South Calorina đã bị cảnh sát bắn chết trong cuộc biểu tình. Tổ chức cực đoan Black Panther có nhiều trận giao tranh với cảnh sát tại các thành phố Oakland, California, Cleveland và Ohio. Tình hình trầm trọng hơn làm cho chính quyền phải ra lịnh giới nghiêm. Tổng số có 38 người chết, 3000 người bị bắt và thiệt hại vật chất là 14 triệu Đô la. Ngày 6 tháng Sáu 1968, Sirhan Sirhan, một người nhập cư gốc Palestine bịnh tâm thần, giết Nghị sĩ Robert F. Kennedy tại khách sạn Ambassador thuộc Los Angeles. Trước đó, trong các cuộc bầu cử sơ bộ của Đảng Dân chủ tại Indiana và Nebraska, Robert Kennedy thắng Eugene MacCarthy; tại California, Robert Kennedy thắng với tỳ lệ 46% so với MacCarthy là 42%, chỉ thua ở Oregon, kết qủa cho thấy là triển vọng thắng cử là thực tế, một hy vọng cho phe chống chiến tranh Việt Nam. Nội tình Đảng Dân chủ bất ổn sau cái chết đột ngột này và dân chúng biểu tình lan tràn trong cả nước. Ngày 28 tháng 8 năm 1968 trong cuộc vận động tranh cử của Đàng Dân chủ tại Chicago gây xung đột đẩm máu giửa cảnh sát với nhóm sinh viên phản chiến Youth International Party (Yippies), một lực lưọng thuộc Students for a Democratic Society (SDS) làm cho hàng trăm cảnh sát và hơn 800 người bị thương; gần 700 người vào tù trong đó có nhiều phóng viên. Nội tình nước Mỹ cưc kỳ rối rắm, nên truyền thông Mỹ không còn quan tâm nhiều đến hậu quả của chiến cuộc Mậu Thân như trước, mà chủ yếu là đòi Mỹ rút quân và ngưng viện trợ cho miền Nam, một bất lợi về ngoại vận cho phiá VNCH. New York Times, Boston Globe và Newsweek là ba biểu tượng truyền thông chính chống đối mãnh liệt chiến tranh Việt Nam trong thời gian này. Khi Johnson còn đang hoang mang với nhiều bế tắc, thì ông lại ngạc nhiên khi thấy Hà Nội phản ứng tích cực trước bài diễn văn ngày 31 tháng Ba năm 1968 khi tỏ ý tham gia hoà hội Paris; Hà Nội giúp ông tìm ra một chiến lược mới phù hợp hơn cho tình thế. Hoà hội Paris trì trệ: Vừa đánh vừa đàm Hai tháng sau, hoà đàm Paris bắt đầu trước sự quan tâm của báo chí và công luận thế giới. Ngay từ đầu, cả hai phe CSBV và Hoa Kỳ còn đang trông chờ tin vui chiến trựòng, mà họ cho là một giải pháp ưu tiên, nên không ai bị áp lực về thời gian và thung dung tiếp tục vừa đánh vừa đàm. Cả hai phe không đề ra một giải pháp cụ thể nào cho việc chấm dứt chiến tranh trong khi các vấn đề phụ thuộc lại chiếm nhiều thời gian trong nghị trình đàm phán. Đó là việc sắp bàn hội nghị theo hình tròn hay vuông hay song song, một vấn đề để công nhận cho VNCH và MTGPMN tham gia hội nghị, mà cả hai còn có nhiều quan điểm dị biệt. Trong giai đoạn này thì vừa đánh vừa đàm là một giải pháp thích hợp nhất cho Hà Nội. Thực ra, chiến lược này không mới lạ, vì từ đầu tháng Giêng năm 1967, Bộ Chính trị và Hội nghị lần thứ 13 đã chấp nhận lối vừa đánh vừa đàm để mở đường cho tuyên ngôn của Nguyễn Duy Trinh ngày 27 tháng Giêng năm 1967. Nhưng quyết định của Mỹ ngưng ném bom miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở lên là một thuận lợi tâm lý cho miền Bắc hơn trong khi họ tìm cách chỉnh đốn lại cho cơ sở hậu phương. Thảm bại Mậu Thân làm cho tinh thần binh sĩ xuống đến cực điểm. Với quân số còn lại khoảng 100.000 và với khối lượng viện trợ quân sự của Liên Xô còn tương đối hùng hậu, đó chính là lý do mà Hà Nội còn cho là may mắn, nên họ không nghĩ đến chuyện bỏ cuộc. Tâm lý của Johnson cũng tương tự. Johnson vẫn chưa nghĩ tới chuyện rút quân và còn hy vọng về một chiến thắng quân sự, nhất là không muốn ô danh lịch sử là một Tổng Thống bại trận. Thực ra, chấm dứt ném bom từ vĩ tuyến 20 trở lên cũng không có kết quả khả quan vì đang trong những tháng có gió mùa và đầy sương mù. Nhưng bù lại, ông tăng việc ném bom gấp ba lần ở các khu vực do MTGPMN kiểm soát. Việc truy tầm và diệt Cộng trong hai tháng Ba và Tư năm 1969 tại ngoại thành Sài gòn do các cuộc hành quân bằng bộ binh ở miền Nam cũng có trên 100.000 binh sĩ Mỹ tham gia. Johnson không chủ trương ném bom các căn cứ địa của MTGPMN ở Miên và Lào cũng như miền Bắc trong thời điểm này, về sau nhìn lại, đó là một sai lầm của Johnson. Trong khi Tướng Westmoreland còn đang thử nghiệm việc sử dụng nhiều đơn vị chiến đấu trong quy mô lớn hơn mà chiến cuộc Mậu Thân là một bài học, thì ngày 22 tháng Ba năm 1968, Johnson quyết định bổ nhiệm Tướng Creighton W. Abrams sẽ thay thế Tướng Westmoreland. Để chiến đấu hữu hiệu hơn, Abrams thay đổi triệt để chiến lược: đội hình quân lực Mỹ sẽ trở thành hình thức đơn vị nhỏ hơn; lập các đơn vị cơ động để đánh cận chiến trong các làng xã, đồng ruộng, núi đồi và vùng sình lầy. Chiến dịch Phượng Hoàng và Bình Định cấp tốc Song song với việc thay đổi binh pháp này, Mỹ bắt đầu huấn luyện cho phía VNCH cách tiêu diệt các cán bộ Cộng Sản nằm vùng qua chiến dịch Phượng Hoàng, một chương trình do William Colby và Robert Komer điều động, dù cực kỳ đẩm máu nhưng thành công vượt bực. VNCH mở rộng vùng kiểm soát làm cho tiềm lực của MTGPMN suy yếu hơn. Tình hình an ninh tại nông thôn cải thiện rõ rệt, nhất là từ khi có Chương trình Bình Định Nông thôn cấp tốc bổ sung. Thực ra, các Chương trình Ấp Tân Sinh và Chiến Lươc là một kế hoạch của Robert Bob Thompson, một chuyên viên chống du kích người Anh đề ra, đã có từ năm 1959 do Tổng thống Ngô Đình Diệm áp dụng, với mục tiêu chính là gia tăng kiểm soát dân chúng tại nông thôn, nhưng kết qủa không khả quan. Đến năm 1966, giới lãnh đạo Mỹ triển khai Chương trình Xây dựng Nông thôn (XDNT), một chiến lược và chiến thuật giống như của MTGPMN. Cụ thể là một toán cán bộ khoảng 59 người sẽ thâm nhập từng làng theo hình thức cùng ăn, cùng ở và cùng làm với dân chúng, để tìm cách đem lại an ninh cho xóm làng, một điều kiện đầu tiên cho phát triển kinh tế và thiện cảm chính trị cho chế độ VNCH. Thành quả của các Chương trình XDNT thật là dị biệt. Vì thời gian đào tạo quá ngắn và địa bàn công tác luôn bị thay đổi, các cán bộ XDNT còn có khó khăn trong đấu tranh chính trị với phía MTGPMN và họ luôn tìm cách tấn công liên tục. Nếu năm 1967 hoạt động của các toán XDNT tỏ ra hiệu năng thì chiến cuộc Mậu Thân làm cho 79 cán bộ bị tử thương, 111 bị thương, và 845 mất tích. Số thiệt hại này làm hỏng phần nào các thành quả. Vào cuối tháng 2 năm 1968, chỉ còn 278 toán XDNT hoạt động tại các xã ấp, và 245 toán khác phải rút về lo việc an ninh các thị trấn và thị xã. Từ đầu hè 1968, cả hai Chương trình Phượng Hoàng và Bình Định cấp tốc hoạt động khởi sắc làm cho MTGPMN tê liệt hoàn toàn. Hành vi tiêu diệt cán bộ Cộng sản nằm vùng quá đẩm máu, nên cũng gây tác động tuyên truyền có lợi cho phiá MTGPMN, nhất là trong số nạn nhân cũng có những thành phần thuần túy dân sự và đối lập chính trị với chính quyền của Tổng thống Thiệu. Đến năm 1971, 28000 du kích quân bị tử thương, 20.000 bị thương và 17.000 chiêu hồi. Trong những tháng cuối cùng của nhiệm kỳ Tổng thống, ngoài việc tăng cường không kích tại các căn cứ của MTGPMN tại miền Nam và mở rộng hoạt động của chương trình Phượng Hoàng, Johnson còn khởi động việc Việt Nam Hoá chiến tranh: Quân số của QLVNCH tăng từ 685.000 lên đến 800.000; các chương trình huấn luyện quân sự được cải thiện và trang bị nhiều vũ khí tối tân. Nếu QLVNCH gia tăng quân số thì việc đào ngủ cũng là vấn đề, vì trong năm 1968 con số lên đến trên 100.000 người. Lần đầu tiên Tướng Abrams đề nghị phối hợp hành quân Việt Mỹ để giúp cho QLVNCH làm quen với binh pháp mới và vũ khí tối tân. Phía Mỹ tỏ ra thất vọng về thiện chí hợp tác của QLVNCH vỉ tinh thần binh sĩ đang bắt đầu hoang mang về một chính sách tạm bợ của Washington. Tổng thống Thiệu không tin thiện chí của CSBV, tâm lý bị Đồng Minh phản bội càng làm cho ông không quan tâm giải pháp hoà giải, nhưng ông cũng không có một đối sách nào thích hợp, trong khi dân chúng ngóng chờ kết quả của cuộc bầu cử tổng thống Mỹ. Cuộc bầu cử tổng thống Mùa vận động sơ bộ để tranh cử tổng thống làm nội tình Đảng Dân chủ giao động. New Hampshire chọn Nghị sĩ Eugene McCarthy đạt tỷ lệ 42% số phiếu, một kết quả vang động ngạc nhiên dành cho một ứng viên chưa nổi tiếng, gây nhiều tranh luận trong Đảng. Mấy ngày sau, Nghị sĩ nổi danh là Robert Kennedy tuyên bố ra tranh cử. Quyết định của cả hai thuộc Đảng Dân chủ làm cho Johnson gặp khó khăn hơn. Vào giờ chót, Đảng Dân Chủ đề cử Hubert Humphrey ra tranh chức vụ Tổng thống. Ông tuyên bố sẽ kế tục chính sách của Johnson. Đảng Cộng Hoà đưa Richard Nixon ra tranh cử; Nixon nổi danh là thành phần chống cộng cực đoan trong những năm 1950 và cũng tiếp tục tuyên chiến với CSBV. Đối với cử tri chỉ có hai giải pháp là chủ hoà hay chủ chiến, nhưng Nixon gây ngạc nhiên cho công luận hơn khi ông tuyên bố là có mật kế để kết thúc chiến tranh. Khi bị ký giả hỏi về chi tiết, ông từ chối thổ lộ. Humphrey cũng lần lượt từ bỏ chính sách của Johnson. Thăm dò dư luận cho rằng Humphrey phải chứng minh kết quả cụ thể của các cuộc hoà đàm. Cả hai Nixon và Humphrey đều tỏ ra dịu dọng trước công luận trong vấn đề Việt Nam. Lần cuối cùng, Johnson muốn chứng minh thành quả của mình. Ngày 31 tháng Mười, Johnson tuyên bố sẽ có thương thuyết bốn bên và chấm dứt ném bom toàn miền Bắc. Sau khi bị Liên Xô đã tạo áp lực nặng nề, nên Hà Nội chịu thương thuyết nghiêm chỉnh. Kết qủa thăm dò dư luận nghiêng hẳn về phiá Nixon: Đa số theo Đảng Cộng Hoà đều đồng ý mở rộng chiến cuộc, trong khi 49% Đảng viên Dân chủ cũng đồng thuận cho việc gia tăng chiến tranh; 59 % giới trẻ cử tri từ 20 cho đến 29 tuổi đồng ý tiếp tục chiến cuộc. Dù thuận theo việc leo thang chiến tranh, nhưng 3/4 dân chúng muốn có hoà bình bằng thoả hiệp ngoại giao, mà không nhất thiết bắng thắng hay bại quân sự. Về sau, Seymour Hersch và Christopher Hitchens cáo giác rằng trong chuyến đi Paris ngày 18 đến 22 tháng 9 Henry Kissinger nhận được mật tin về cơ hội tái lập hoà bình cho Việt Nam mà Averell W. Harriman và Cyrus Vance đã dày công chuẩn bị và trao lại cho Nixon. Qua trung gian là Anna Chennault, Nixon cho Tổng Thống Thiệu biết là khi thắng cử sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho VNCH thương thuyết hơn là Đảng Dân chủ. Tông Thống Thiệu vốn dĩ không tin giải pháp hoà đàm, nhưng tin Nixon, nên ông không cử người tham dự hoà hội Paris. Theo Naill Ferguson, cáo giác là không có bằng chứng, vì lúc đó Kissinger không có điều kiện để thu thập nguồn tin về diễn tiến hoà đàm Paris và cũng chưa hợp tác với Nixon. Thái độ nghi ngờ của Tổng Thông Thiệu về thiện chí hoà đàm của CSBV là hợp lý và độc lập. Ngay trước khi bài diễn văn của Johnson được phát hình, Tổng Thống Thiệu đã phản ứng ngay với Đại Sứ Bunker về kế hoạch của Johnson; ngày 2 tháng Mười Một, ông đến Quốc hội VNCH để thông báo quyết định này và được nhiệt liệt ủng hộ. Kissinger và Nixon không hề can thiệp vào quyết định tẩy chay hòa hội của Tổng Thống Thiệu. Mọi tình toán của Johnson thành sai lạc, việc chấm dứt ném bom chỉ còn còn là một thủ thuật trong lúc vận động tranh cử. Nixon thắng với 43,4%, Humphrey thua với 42,7% và Wallace với 13,5%. Thực ra, đó là một kết quả khá khích khao khi Nixon không hề có mật kế nào để kết thúc chiến tranh. Kissinger cũng ngạc nhiên trước chiến thắng này của Nixon. Cả hai không thích gì nhau, nhưng cuối cùng cũng tìm cách hợp tác và một bi kịch mới cho Việt Nam bắt đầu: Mỹ ký kết Hiệp Định Paris để rút quân và phản bội VNCH. Giải ảo ngụy sừ Việt Nam Cho đến nay, chính biến Tết Mậu Thân còn để lại quá nhiều nghi vấn vì phe thắng cuộc tiếp tục tuyên truyền về thành quả chiến thắng và không công bố hết các tài liệu liên quan về tổn thất. Dù một số người trực tiếp tham chiến đã can đảm đưa ra một vài ánh sáng mới trong các bí ẩn củ, nhưng các tin tức đó không phải là tất cả sự thật. Do đó, trước sự đã rồi của lịch sử, giải ảo ngụy sử là một nhu cầu quan trọng. Với thời gian lắng động, hiện nay không phải là lúc để những người trong cuộc khơi động lại hận thù hay xí xoá khép lại quá khứ mà là cùng nhau soi sáng sự thật lịch sử giúp cho thế hệ hậu chiến tránh hiểm hoạ trong tương lai. Tác nhân chủ yếu Luận điểm thứ nhất được đặt ra là toàn Đảng hay toàn bộ Bộ Chính trị hay ai ra quyết định tấn công vào dip Tết Mậu Thân. Dù nội tình là bí sử, nhưng giới am tường chuyện thâm cung có nhận định chung là Bộ Chính trị không phải là một khối ý chí thuần nhất mà tranh chấp quyền lực nội bộ đưa đến việc thanh trừng nhau để gìành quyền quyết định mà kết quả là một thiểu số duy ý chí xâm lăng miền Nam nhất quyết tiến hành chiến cuộc Tết Mậu Thân. Thực tế cho thấy trong suôt một thời gian dài, Tướng Giáp luôn tỏ ra là một người biện hộ nhiệt thành cho một giải pháp hòa dịu đối với tình hình miền Nam. Cả hai ông Trường Chinh và Hồ Chí Minh cũng phần nào đồng tình theo luận điểm này, nhưng cả ba không tạo sức ép trong Bộ Chính Trị, trong khi Lê Duẩn có thanh thế hơn khi dựa vào Trung Quốc và luôn mang ý tưởng sử dụng bạo lực cách mạng để giải phóng miền Nam. Xung đột giữa Tướng Giáp với Lê Duẩn trong vấn đề một binh pháp cho miền Nam là cực kỳ gay gắt, nhưng cả hai vốn dĩ đã có nhiều bất hoà khác từ trước. Không như dư luận thổi phòng về vai trò của Tướng Giáp trong thời kỳ soạn thảo kế hoạch, các sử liệu ghi lại hoàn toàn trái ngược nhau. Có tác giả cho là tướng Giáp không hiện diện ở bất kỳ cuộc họp kế hoạch nào; theo tác giả khác thì ngay từ đầu tướng Giáp phản đối kế hoạch bởi vì không khả thi và phải làm cho lực lượng Mỹ-Việt tê liệt trước khi tổng tấn công. Có tài liệu khác cho là Tướng Giáp chỉ đứng bên lề của Bộ Chính trị CSVN từ tháng 11 năm 1960 cho tới tháng 2 năm 1975; Tướng Giáp có thể vẫn là Bí thư của Quân ủy Trung ương, nhưng trên thực tế đã trao quyền hạn cho tướng Văn Tiến Dũng, Tổng Tham mưu trưởng QĐNDVN, vì tướng Dũng nhận lệnh trực tiếp từ Lê Duẩn. Sau tang lễ của Tướng Thanh, Tướng Giáp đi nghỉ mát dài hạn tại Hungaria, một hình thức bị loại ra khỏi Bộ Chính trị. Mãi tới ngày 29 tháng Giêng năm 1968, tức là hai ngày trước khi trận Mậu Thân nổ ra, thì Lê Duẩn mới cho Tướng Giáp về và xuất hiện trước công luận. Còn Hồ Chí Minh ở Trung Quốc thường xuyên để trị bịnh vào lúc tuổi đời đã 75, không trưc tiếp tham gia kế hoạch. Khi thảo luận, ông Hồ đã phản bác là “kế hoạch của Bộ Chính Trị có thực tế không, phải chú ý đánh lâu dài và làm sao càng đánh càng mạnh, phải bảo đảm hậu cần, chú ý đến việc giữ sức dân, mở rộng chiến tranh du kích và tăng cường trang bị cho du kích quân.“ Vì thế, sau khi kế hoạch thành hình, báo cáo của Bộ Chính Trị cho ông Hồ chỉ là hình thức của sự đã rồi. Thư xuân của ông cho chiến sĩ cũng chuẩn bị từ trước. Lập luận bảo thủ lại hãnh diện giải thích tất cả các đồn đoán là đòn nghi binh thành công của miền Bắc dàn dựng để đánh lừa Mỹ và miền Nam. Dù nhất quyết khởi công, nhưng Lê Duẩn cũng không thể tiến hành vì sau đó có những luồng chống đồi mãnh liệt từ những thân tín của Hồ chí Minh, Võ Nguyên Giáp và các giới trí thức khác mà về sau sử gia gọi chung là một phong trào phản chiến của miền Bắc. Trong giới quân sự nổi bật nhất là Đại tá Lê Trọng Nghiã, ông bị bắt vào đầu năm 1968. Sau đó, có trên 30 sĩ quan theo quan điểm của ông Hồ, ông Giáp và ông Nghĩa đồng loạt bị Trần Quốc Hoàn, Bộ trưởng Công an, bắt. Giới trí thức như Vũ Đinh Hùynh, Hoàng Minh Chính và nhiều văn nghệ sĩ phản đối cũng bị bắt. Dù họ chống đối trong âm thầm, nhưng bị dập tắt trong tàn bạo. Các biện pháp thanh trừng cho thấy Lê Duẩn cương quyết đập tan mọi bất đồng mà ông quy kết họ là phá hoại chính sách đối ngoại và chống Mỹ cứu nước của Đảng, mà thực ra là về ý chí xâm lăng miền Nam của ông. Nếu so chiếu mức độ khả tín của các tài liệu này thì có thể suy luận là Hồ Chí Minh, Tướng Giáp và Tướng Thanh không phải là tác giả của chiến dịch. Nếu phản bác của Tướng Giáp có sở thuyết phục; Hồ chí Minh còn sức khoẻ và đủ bản lĩnh lãnh đạo, thì Lê Duẩn không thể đi đến quyết định Tổng tấn công. Toàn bộ kế hoạch không phải là của toàn Đảng hay toàn Bộ Chính trị mà là một thỏa thuận ngầm giữa tướng Văn Tiến Dũng và Lê Duẩn và trực tiếp điều động toàn bộ về sau còn có thêm Lê Đức Thọ. Cơ sở quyết định Luận điểm thứ hai là Lê Duẩn đã quyết định trên cơ sở nào và đâu là thực tế của các lập luận này, mà cả một bộ máy tuyên truyền miền Bắc luôn sùng bái ông là sáng tạo và mưu trí như thần thánh. Khi bắt đầu tổng tấn công, với lực lượng cơ hữu ước khoảng 147.200 quân, ông huy động đến 84.000 cho chiến dịch mà đa số dưới 18 tuổi. Lê Duẩn lập luận là “Sài Gòn có vài ba vạn đảng viên đang nằm im; quần chúng đã chín muồi muốn nắm chính quyền; hy vọng là sẽ có 300.000 người Sài Gòn cầm súng đánh Mỹ và tất cả các lực lượng phản chiến sẽ theo phe Cách mạng.“ Mục tiêu của cuộc Tổng tiến công là “tiêu diệt 150.000 lính Mỹ, 300.000 quân VNCH, giải phóng 8 triệu dân miền Nam và giải phóng các thành phố Đông Hà và Quảng Trị, tiêu diệt các căn cứ địch tại Ban Mê Thuột và Kon Tum, và tiến hành các đợt tấn công vào Huế, Sài Gòn, cũng như thủ phủ của nhiều tỉnh. Chiến thằng quân sự này sẽ trở thành các “yếu tố chính trị tác động cho các cuộc bầu cử tổng thống Mỹ vào tháng 11 năm 1968.“ Đó là một nhận định quá mức lạc quan. Vào đầu năm 1966, từ khi có các cuộc biến động của Phật Giáo miền Trung và các phong trào dân chúng chống Mỹ Thiệu, tình hình xã hội miền Nam phân hoá ngày càng gay gắt. Chủ trương của Phật Giáo là dùng tự thiêu làm suy yếu nền tảng của chính quyền VNCH, nhưng bị dẹp tan. Để lấp khoảng trống trong đấu tranh tại các đô thị, Lê Duẩn tin rằng bạo lực cách mạng sẽ có khả năng thay thế Phật Giáo và thực hiện được nguyện vọng của dân thành phố. Lê Duẩn thể hiện ý chí thôn tính miền Nam: “làm sập chính quyền của nó; phải phá hết, phá rất dữ hậu cứ của nó; phải chuyển qua tổng công kích, tổng khởi nghĩa“. Nhưng tình trạng xã hội miền Nam bất ổn không có nghĩa khả năng chiến đấu của QLVNCH hoàn toàn bị tiêu hao và toàn dân miền Nam nhất lòng theo phe Cộng Sản. Đó là một nhận định sai lầm về nhân tâm, khả năng của đối phương và binh pháp. Binh pháp cổ điển của Carl von Clausewitz có phân biệt các lợi thế của phòng thủ và tấn công. Tấn công là một mục tiêu chiến lược yếu cho các cứu cánh trước mắt trong khi phòng thủ bao giờ cũng là mạnh hơn cho những cứu cánh lâu dài. Muốn dùng tấn công quân sự để đạt cứu cánh chính trị thì cần phải xác định mục tiêu tấn công trong không gian và thời gian cụ thể để tránh tổn hao về nhân lực và hoả lực, một tiềm lực phải tiết kiệm cho cứu cánh trường kỳ. Lê Duẩn không tiên liệu được tương quan lực lượng và thành quả chiến trường mà đánh liều xem mục tiêu tỗng diễn tập trở thành một yếu tố phiêu lưu quân sự để đạt mục tiêu chính trị, đó là nhằm gây phân hoá trên chính trường Mỹ và suy yếu tiềm lực chống Cộng của miền Nam. “Những cuộc nổi dậy tại các đô thị gặp khó khăn và chúng ta buộc phải rút lui lực lượng, thì cũng không vấn đề gì. Đó sẽ chỉ là một dịp cho chúng ta diễn tập và rút ra các bài học kinh nghiệm nhằm chuẩn bị cho sau này. Lực lượng của đồng chí Fidel Castro đã tấn công các đô thị ba lần mới thành công.“ Dùng tấn công để phô diễn quân sự trong khi suy yếu là một sai lầm chiến luợc mà bất cứ ai học tập binh pháp cổ điển đều biết đến, nhưng Lê Duẩn không có cơ hội học tập này. Với trình độ tiểu học và kinh nghiệm công nhân Sở Hoả Xa, nên sai lầm của Lê Duẩn gây tác hại cho bao thế hệ. Thay vì phản đối,Tướng Văn Tiến Dũng đồng ý ngay với Lê Duẩn. Đó cũng là một sai lầm. Sau này, Tướng Dũng mới can đảm thú nhận: “Các mục tiêu và các chiến thuật, phương pháp đánh trận, đều vẫn giống như những gì chúng ta đã thực hiện năm trước đó, nhưng thực tế mặt trận cho thấy chúng ta sẽ không thể đạt được các mục tiêu ấy.“ Tại sao Tướng Dũng không phản bác đúng lúc với Lê Duẩn mà lại đồng tình không điều kiện? Vì ông muốn tranh giành chức vụ với Tướng Giáp và tạo thanh thế với Lê Duẩn, đó cũng là một quyết định phù hợp với trình độ lớp sáu và kinh nghiệm công nhân hảng dệt của Tướng Dũng. Kết luận ở đây là Lê Duẩn nhận tin tức tình báo sai lạc, không có khả năng kiểm chứng, không am tường binh pháp, tỗng diễn tập để tìm một cứu cánh chính trị trong một tương lai bất định mà bất chấp hậu quả sát quân khi quyết định ba lần tấn công trong năm 1968. Duy trì ý chí xâm lăng, Lê Duẩn lừa dối đồng bào miền Bắc về thực trạng của miền Nam và đi ngược lại nguyện vọng hiếu hoà của nhân dân miền Nam. Vì không có lợi ích nào của giai cấp công nhân và nhân dân lao động miền Bắc và mơ ước nỗi dậy của người dân miền Nam trong binh biến này, do đó, việc tấn công vào dịp Tết Mậu Thân không phải là sự lựa chọn sáng suốt để ĐCSVN thực hiện sứ mệnh lịch sử. Địch vận thành công Luận điểm thứ ba là tại sao phiá VNCH lại để cho chiến cuộc xảy ra toàn diện như vậy, mà cụ thể là tại sao một số lượng vũ khí khổng lồ được vận chuyển vào các thành phố một cách an toàn để cho các du kích quân sử dụng; nếu không xảy ra hoặc ít trầm trọng hơn, thì mọi chuyển biến kế tiếp có thể sẽ khác hẳn cho định mệnh của VNCH. Khái niệm đấu tranh địch vận, một thành tố trong công cuộc giải phóng dân tộc manh nha từ năm 1960 khi thành lập MTGPMN. Từ năm 1965, khi lính Mỹ tràn ngập miền Nam, cảnh ném bom và truy kích của Mỹ là thực tế thương đau làm cho lập luận chống Mỹ cứu nước bắt đầu thu hút cảm tình của người dân hơn. Dù nhân danh thế giới tự do bảo vệ chính nghĩa, nhưng chính phủ Mỹ không đủ biện minh cho vai trò tăng cường an ninh để tái thiết nông thôn. Từ đó, công tác địch vận của MTGPMN bắt đầu thâm nhập được vào trong tất cả sinh hoạt hàng ngày của người dân trong nông thôn cũng như tại thành thị và nhiều cơ quan công quyền VNCH. Thực ra, nông dân miền Nam không bị bóc lột như trong các xã hội của các nước phương Tây, nhưng họ cũng không thể quá nghèo như nông dân trong chế độ Hợp tác xã của Miền Bắc, nên hình thái đói nghèo, dù có ít nhiều trong mức độ, họ không thể lập luận là muốn tham gia cách mạng để đấu tranh giai cấp. Lý do khác khả tín hơn là đa số nông dân không phải lúc nào cũng ủng hộ cho cách mạng, mà vì họ không có một cách chọn lựa nào khác một cách tự do và có ý nghiã hơn trước các biện pháp cực kỳ tàn bạo của MTGPMN. Dân thành phố cũng không dành nhiều thiện cảm, vì đời sống tương đối sung túc, có trình độ và nhiều an ninh hơn. Thái độ hỗ trợ thường là bao che cho thân nhân tập kết theo Cộng sản hoặc muốn yên thân mà thờ ơ trước các biến chuyển của thời cuộc: Họ không ý thức là mình đang làm suy yếu miền Nam trước hiểm hoạ xâm lăng của Cộng Sản. Dù có thuận lợi là được trang bị vũ khí tối tân, nhưng phiá VNCH dần dà thất bại trong việc thu phục nhân tâm với nhiều lý do khác. Trong khi cấu trúc của chính quyền còn phôi thai và cần nhiều thời gian và nỗ lực để xây dựng, nhưng giới lãnh đạo lại không tìm ra một khái niệm phù hợp để có thể đấu tranh chính trị với đối phương. Ý thức về một thể chế cộng hoà và dân chủ cũng chưa được phổ biến qua chương trình giáo dục công dân. Sau cuộc đảo chính 1963, tình trạng chung của miền Nam là bất ổn chính trị liên tục, các chính phủ không đoàn kết và hiệu năng; bộ máy hành chánh quá nặng nề, sinh hoạt công quyền đều lệ thuộc vào tham nhũng, đặc điểm chính của sự phân hoá chính trị là vì tinh thần kỳ thị địa phương và dị biệt tôn giáo đã có từ lâu đời; tất cả các yếu tố này làm xã hội ung thối và gây thuận lợi cho Cộng sàn nẩy mầm, đặc biệt nhất là ở những tỉnh mà Cộng Sản đã có sở từ trước như Thừa Thiên, Binh Định, Quảng Ngãi, Tây Ninh, Kiên Giang, Bến Tre và Cà Mau. Ngoài những người thờ ơ với thời cuộc và bao che cho thân nhân theo phe Cộng Sản, MTGPMN còn móc nối được một thành phần mới hoạt động tích cực hơn trong công tác tình báo, được dân miền Nam gọi chung là ăn cơm Quốc Gia thờ ma Cộng Sản. Họ là các giới trí thức, nắm những chức vụ cao cấp trong chế độ VNCH mà lại trưc tiếp hay gián tiếp làm việc cho MTGPMN trong tinh thần chống Mỹ cứu nước. Nhờ có một mạng lưới nội gián dày đặt tại các cơ quan đầu nảo như Phủ Tổng Thống (Vũ Ngọc Nha, Huỳnh văn Trọng), Bộ Quốc Phòng (Nguyễn Hữu Hạnh), Toà Đại Sứ Mỹ (Phạm Xuân Ẩn) và Quốc Hội (Đinh văn Đệ) mà MTGPMN theo dõi và nhận được trực tiếp các kế hoạch tuyệt mật của VNCH. Làm việc gián tiếp khi họ tạo ra những người tổ chức cho các phong trào quần chúng đòi hỏi công bình xã hội, kêu gọi hoà bình, tự do tôn giáo, báo chí và dân chủ. Cả hai thành phần này đã làm vô hiệu hoá phần nào các nỗ lực chống Cộng của miền Nam. Một thiểu số sinh viên miền Nam đi du học cũng vì các lý do khác nhau mà trở cờ góp phần cho tiếng nói phản chiên ở các nước phương Tây. Tất cả diễn biến trong giai đoạn này cho thấy là chế độ VNCH quá yếu về dân vận, tình báo và phòng vệ. Cụ thể là trường hợp chính quyền tỉnh Thừa Thiên không báo cáo hết sự thực về tình trạng an ninh trong tỉnh. Khi chính quyền tỉnh Bình Định bắt được những tài liệu tổng khởi nghĩa trong đó có cả máy ghi âm sẵn lời phát thanh kêu gọi dân chúng và báo cáo lên Tướng Vĩnh Lộc, thượng cấp của Bộ Tư lệnh Vùng II Chiến thuật, nhưng không quan tâm. Dù hô hào tinh thần “Vui Xuân nhưng không quên nhiệm vụ“, nhưng đa số đơn vị ứng chiến không đầy đủ. Thí dụ như tại Quảng Ngãi, quân số một Tiểu đoàn thuộc Sư Đoàn II Bộ Binh ứng trực vào ngày mồng Một Tết chỉ vỏn vẹn 50 người, tức chưa đầy hai trung đội, riêng ở Cần Thơ hay Bến Tre quân số ứng trực chỉ khoảng 30 phần trăm. Nếu phá vỡ được các mạng nội tuyến và ứng chiến cao độ, thì phe VNCH có thể tránh được tình trạng khốc liệt bất ngờ của chiến cuộc, nhưng cuối cùng là chuyện sai phạm cực kỳ nghiêm trọng đã đến và tạo cho chiến cuộc xảy ra với bao hệ lụy từ trong nước cho đến quốc tế. Thảm sát tại Huế Luận đề cuối cùng là tại sao lại có khoảng 6.000 nạn nhân, (có tàì liệu khác cho là 8.000) bị thảm sát tại Huế. Họ là những nhà tu hành, sinh viên, học sinh, thường dân, quân nhân và công chức đã chấp hành lệnh trình diện để học tập về chủ trương chính sách của MTGPMN. Ai chịu trách nhiệm cho những cái chết này? Dĩ nhiên, không một ai, vì những người có trách nhiệm đều cho là mình vô tội. Vô tội nhất là Tướng Giáp, không phải vì ông nghĩ dài hạn ở Hungaria, mà ông cho rằng: “Chúng tôi không dính gì tới chuyện đó, mà do MTGPMN thực hiện“, khi ông được hỏi trong một cuộc phỏng vấn vào năm 1969 là ai tổ chức tổng tấn công Tết Mậu Thân tại Huế. Nhất định cũng không phải là do MTGPMN, vì nhiệm vụ của họ là cao cả khi chiếm đóng; họ tuyên bố là Ủy Ban Nhân Dân Cách Mạng Thừa Thiên Huế ra đời để đảm nhận trách nhiệm vinh quang của chính quyền nhân dân và thành phố. Vào ngày 3 tháng 3 năm 1968 họ tuyên dương thành tích là không có thường dân vô tội mà là đã giết nhiêu tên địch, diệt sạch những kẻ ác ôn, đặc biệt giải phóng toàn đất nước, thiết lập chính quyền cách mạng và mở rộng sự đoàn kết dân tộc để chống Mỹ và bảo vệ tổ quốc. 
Sau khi chính quyền VNCH khám phá hàng loạt các mồ chôn tập thể, thì trong bảng tuyên bố vào ngày 27 tháng Tư năm 1969 MTGPMN cũng cho là chính phủ bù nhìn tại Huế đang đóng trò khôi hài dựng lên cái gọi là uỷ ban để tìm kiêm và mai táng cho những tai sai côn đồ, những ngươì mang nợ máu với đồng bào và những kẻ bị quân đội và người dân miền Nam thủ tiêu vào đầu Muà Xuân Mậu Thân. Cho đến nay, MTGPMN luôn phủ nhận trách nhiệm về cuộc thảm sát, đó là sản phẩm tưởng tượng khuyếch đại của một cuộc tâm lý chiến Mỹ Ngụy.Số thường dân bị giết là do hỏa lực trong nỗ lực tái chiếm địa bàn của Mỹ cùng sự trả thù của phía VNCH lên những người theo MTGPMN. Có phải Mỹ Ngụy là đao phủ thủ cho các nạn nhân trong các hố sâu, tay bị trói bằng giây điện, giây tre, bị đâm bằng lưỡi lê, bị đánh bằng cán cuốc, bị bắn bằng súng hoặc bị chôn sống? Hung thủ là ai? Một bi kịch cho Huế. Chính một số người Huế như Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân và các đồng chí của họ đã tạo ra một bi kịch cho họ và cho Huế. Họ nhân danh là Phật tử quyết tử chống Mỹ cứu nước lại giết người Huế mà họ cho là tay sai Mỹ-Ngụy. Trước đây, họ là trí thức, sinh viên và học sinh tham gia trong những cuộc biểu tình chống chính phủ, bị an ninh đàn áp quá mức và không còn đất sống, nên họ đành phải thoát ly, nay trở về vì tư thù giết người quen mà họ cho là có tội ác với nhân dân. Sau này, dù bị tố cáo đích danh với các bằng chứng, nhưng họ phủ nhận là không có mặt ở Huế và giết người. Dù sắt máu để chứng tỏ lòng trung thành, nhưng họ không được Cộng Sản trọng dụng, một bi kịch mà 50 năm sau họ vẫn chưa sám hối, nhưng bia miệng ngàn đời của thế gian sẽ không bao giờ tha thứ cho họ với những ô danh. Còn ai có can đảm giải oan cho họ? Không một ai. Việc sử dụng vũ khí hạng nặng của Mỹ và VNCH tại Huế chỉ hủy hoại hầu hết các di tích lịch sử và giết người từ xa, không thể chôn sống hay thanh toán những người quen biết trong từng khu vực. Thực ra, không chỉ là một chuyện tư thù, vì mục tiêu CSBV là cướp chính quyền, nên khủng bố và thảm sát tập thể là phương tiện bạo lực cách mạng để phá hủy bộ máy của chính quyền VNCH. Theo một tài liệu, có hơn 3.000 người trong chính quyền bị giết. Thảm sát với quy mô “790 hội viên các Hội đồng tỉnh, 1892 nhân viên hành chánh và 38 cảnh sát” thì bộ máy chính quyền Huế không thể tồn tại, vì tái lập cơ cấu hành chánh có hiệu năng không thể dể dàng với những thành phần nhân sự tân tuyển thiếu kinh nghiệm. Theo một tài liệu khác, MTGPMN đã có sẳn một danh sách 22 trang đánh máy liệt kê các mục tiêu cần tiêu diệt và nhờ côn đồ địa phương tiếp tay thưc hiện. Ai gây nên các mồ chôn tập thể? Một sản phẩm tưởng tượng do Mỹ Ngụy khuyếch đại? Không, đó là một sự thực thương đau dành cho những người có tai còn nghe và có mắt còn thấy. Trong 25 ngày chiếm đóng, MTGPMN có đủ điều kiện để bắt nguời trình diện học tập, giết một cách tùy tiện khi tỏ ra chống đối và còn bắt người làm phu khuân vác hoặc bia đỡ đạn. Khi bị đối phương truy kích, họ phải rút lui và không thể mang theo tất cà, nên họ phải thủ tiêu để tự vệ bằng cách buộc nạn nhân đào hố, sau đó là trói thúc ké tay chân, quăng xuống hố rồi lấp đất lại. Chôn sống người là thượng sách vì không làm lộ mục tiêu, không còn gánh nặng, tiết kiệm đạn dược và bảo vệ cho cơ sờ: khi cán bộ nằm vùng địa phương đã lộ mặt, thì việc tàn sát dân chúng là một cách bịt miệng hay nhất để tránh tố giác về sau cho VNCH. Ai ra các quyết định này? Lê Minh, người lãnh đạo tấn công Huế, chạy tội. Ông cho là một tình huống ngoài tầm kiểm soát, các đơn vị đã đơn phương hành động để thoát thân, không ai ra một lệnh nào cho bất cứ ai và cũng chỉ lấy làm tiếc trong muộn màng. Giống như Lê Duẩn, Lê Minh tin là khi chiếm Huế, người dân sẽ nổi dậy chạy theo phe của MTGPMN, chuyện đã không xãy ra. Khi tháo chạy, họ gây thảm sát bao thường dân vô tội, chuyện họ không thể quyết định và kiểm soát. Không minh xác những sai lầm này, họ đã xúc phạm về nỗi đau của các nạn nhân; nhưng trớ trêu nhất là sau này, nhiều nạn nhân được phong làm liệt sĩ, vì có công đóng góp xương máu cho cách mạng thành công. Đó là các ngụy tạo lịch sử của người phiêu lưu quân sự, thiếu sáng suốt, đạo đức giả và vô nhân đạo. Lịch sử của Huế vẫn tiếp diễn với những nghịch lý bi đát: Khi xưa, CSBV đại bại và tháo chaỵ bằng thảm sát, nhưng hô hào là chiến thắng và nhân dân Trị Thiên Huế bị chôn sống lại được Đảng trao tặng 8 chữ vàng “Tấn công, nổi dậy, anh dũng, kiên cường.“ Do bản chất không thay đổi, rồi 50 năm sau, chính quyền cho tổ chức Hội thảo khoa học cấp quốc gia “Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968 bước ngoặt quyết định và bài học lịch sử” vào ngày 29-12-2017, nhưng không soi sáng sự thật lịch sử, chỉ là tuyên dương chiến thắng và hoàn toàn quên đi các tổn thất và thảm sát, nên ngụy sử đã không được làm sáng tỏ mà còn làm trầm trọng hơn. Kết luận Dù những vinh quang chiến thắng của QLVNCH và những đoạn trường tháo chạy của MTGPMN trong binh biến Mậu Thân đã thuộc về quá khứ, nhưng chúng ta nên nhìn lại bài học lịch sử này và cần tỉnh thức: Một là, Đảng đã không có và sẽ không thể đào tạo được những nhà Sử học chân chính có tầm vóc quốc gia và quốc tế. Đảng tiếp tục dành độc quyền tuyên truyền thành tích và ban phát chân lý lịch sử. Do đó, ngụy sử không hề thay đổi nội dung. Hai là, dù không còn miệt thị ngụy quân và ngụy quyền, nhưng Đảng vẫn không theo một khảo hướng khách quan để đánh giá về bản chất chiến tranh và thành tích của hai phe: Đảng khinh thường QLVNCH là lính đánh thuê và chính quyền miền Nam là tay sai cho Mỹ trong khi ca ngợi QĐNDVN và MTGPMN đấu tranh cách mạng là hy sinh xương máu thay cho Liên Xô và Trung Quốc; 500.000 lính Mỹ hiện diện tại miền Nam là xâm lược, trong khi hơn 100.000 lính Trung Quốc (có tàì liệu khác cho là dưới 300.000) đồn trú tại miền Bắc cần ém nhẹm. Hơn 1 triệu 1 binh sĩ miền Bắc hy sinh để Đảng hãnh diện vì chiến thắng và 330 ngàn binh sĩ miền Nam nằm xuống mà Đảng thoá mạ vì đánh thuê. Không. Đảng nên tỉnh thức là xương máu của người dân hai miền qúy giá như nhau và họ chỉ là nạn nhân trong bối cảnh xung đột của Chiến tranh Lạnh. 74 chiến sĩ Hải Quân QLVNCH không là lính Ngụy đánh thuê cho Mỹ, khi họ hy sinh anh dũng để bảo vệ chủ quyền Hoàng Sa. Đó là một sự thật của 44 năm trước Tuy nhiên, nay thay vì làm lể tri ân, Đảng lại can đảm cho huy động an ninh, dân phòng quấy phá và thản nhiên cho phép Trung Quốc mang đoàn ca nhạc sang trình diển trong dịp tưởng niệm. Ba là, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đã không đi vào chính sử dân tộc như một bản hùng ca sáng chói mà là một cuộc diễn tập phiêu lưu để mưu tìm ảnh hưởng chính trị tại Washington trong khi khả năng chiến đấu của QLVNCH chưa bị bị tiêu hao và toàn thể dân chúng miền Nam không một lòng ủng hộ. Quyết định này không phải là sự lựa chọn sáng suốt để thực hiện công cuộc cách mạng giải phóng dân tộc mà giai cấp công nhân và nhân dân lao động miền Bắc giao phó như một sứ mệnh lịch sử. Nhân dân hai miền không ai có thắng lợi cụ thể nào trong binh biến này mà chỉ có Đảng lừa dối đồng bào miền Bắc về ý nghiã đấu tranh, thực trạng của miền Nam và gây bao tang tóc cho nhân dân miền Nam bằng cách vi phạm hưu chiến. 
Bốn là, dù có chiến đấu oanh liệt, nhưng chiến thắng của QLVNCH trong Xuân Mậu Thân 1968 không thể bảo vệ được miền Nam, vì tương lai của chiến trường Việt Nam hoàn toàn do chính trường Mỹ định đoạt. Suy yếu về dân vận và ngoại vận nên VNCH không phát huy chính nghiã; tham nhũng và độc tài làm cho nền tảng xã hội miền Nam lung lay; Hiệp định Paris cho phép QĐNDVN ở lại miền Nam tiếp tục chiến đấu trong khi Mỹ rút quân, Mỹ cắt giảm quân viện nên QLVNCH không còn phương tiện và tinh thần chiến đấu, hậu quả của Watergate làm Nixon từ chức: Tất cả các chuyển biến dồn dập sau năm 1968 làm cho CSBV không mạnh hơn nhưng may mắn hơn, trong khi VNCH suy yếu và bất hạnh hơn. Cuối cùng, một kết cuộc bi thảm không thể tránh: toàn dân đại bại vào năm 1975. Năm là, thảm sát Mậu Thân là vết nhơ trước lương tâm, công luận và lịch sử cho ĐCSVN vì quyết định hiếu chiến, liều lĩnh, thiêu hiểu biết và vô nhân đạo. Đó là một tang chung cho toàn dân tộc, một lý do chính đáng để chúng ta không tham gia mừng lễ kỷ niệm 50 năm chiến thắng Xuân Mậu Thân mà tưởng niệm cho các những người của hai miền đã nằm xuống; họ phải chết oan uổng và không còn cơ hội để nhận ra ý nghiã đích thực của sự hy sinh xương máu và thảm hoạ diệt vong của đất nước Cuối cùng, chúng ta tin là bia miệng thế gian còn truyền tụng và lương tâm xã hội còn vang động với thời gian về cuộc thảm sát này. Hy vọng là sự thật của lịch sử sẽ làm cho thế hệ hậu chiến tránh hiểm hoạ này trong tương lai. Nhờ toàn dân tỉnh thức, may ra, tất cả sẽ làm nên một trang sử mới cho dân tộc. *** Dr. Đỗ Kim Thêm L.L.M; M. A: Non Governmental Advisor, International Competition Network (ICN); Research Associate International Competition Law and Policy, United Nations Conference on Trade and Development (UNCTAD). Bài viết không phải là quan điểm của ICN và UNCTAD mà là ý kiến cá nhân; những số liệu còn đang kiểm chứng; các chú thích, trích dẩn và thư mục tham khảo sẽ được bổ sung khi bài viết này in thành sách. Sách mới xuất bản của tác giả tại Amazon ´ Global Governance of Competition Law and Policy: Key Issues Hòa Bình Theo Quan Điểm Của Immanuel Kant Và Phật Giáo Quan Điểm Của Phật Giáo Trước Các Vấn Đề Hiện Đại Nhà Nước Pháp Quyền: Kinh Nghiệm Quốc Tế về Lý Thuyết và Thực Tế https://vietbao.com/p112a277049/31-1-1968-31-1-2018-ky-niem-50-nam-chien-cuoc-tet-mau-than-nhin-lai-buoc-ngoat-chien-tranh-de-giai-ao-nguy-su
Oan Hoàn tất Đài Tưởng Niệm Tháng Tư Đen 1975Ghi ơn các chiến sĩ VNCH đã chọn cái chết uy dũng để đáp đền nợ nước Bài THANH PHONG
WESTMINSTER - Trưa Thứ Ba, ngày 30 tháng 1, 2018, Ủy Ban Xây Dựng Công Trình Đài Tưởng Niệm Tháng Tư Đen 1975 đã tụ tập tại Tượng Đài nằm trong khuôn viên Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ tại Westminster để nói lời tri ân đến Thị Trưởng Tạ Đức Trí, Nghị viên Dr. Kimberly Hồ là hai người đề xướng, và cám ơn Liên Hội Cựu Chiến Sĩ là đơn vị thực hiện tượng đài, cũng đồng thời tri ân các cá nhân cũng như đơn vị, tổ chức, hội đoàn đã đóng góp tài chánh và công sức xây dựng Tượng Đài đến nay công trình đã hoàn tất tốt đẹp. Tượng đài gồm hai mặt, mặt trước có chân dung của Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, Chuẩn Tướng Trần Văn Hai, Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ, Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn và Trung Tá CSQG Nguyễn Văn Long. Ngoài ra có tên họ của khoảng 40 chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và Cảnh Sát Quốc Gia đã tuẫn tiết trong ngày 30 tháng Tư, 1975 nhưng không có ảnh như bảy vị kia. Mặt sau có danh sách các các nhân và hội đoàn đã đóng góp để thực hiện tượng đài. Ông Bùi Trọng Nghĩa phát biểu, “Trong lịch sử chiến tranh thế giới chưa có một nước nào khi thua trận mà có đến năm, sáu vị tướng lãnh tuẫn tiết như các chiến sĩ QL/VNCH.”
 Các vị có mặt trước bia Tưởng Niệm trong buổi mừng công trình hoàn thành tốt đẹp. (Thanh Phong/ Viễn Đông)
Ông đặt câu hỏi: Giả dụ phía VNCH thắng thì liệu có tên tướng lãnh nào của bộ đội Bắc Việt dám tuẫn tiết như tướng lãnh VNCH hay không?
Ông Bùi Trọng Nghĩa đã hỏi một số người tại miền Nam cũng như miền Bắc hiện ở trong nước, tất cả đều trả lời dứt khoát “Chắc chắn không có.”
 Mặt sau Bia Tưởng Niệm với đầy đủ tên các cá nhân và tổ chức đónbg góp tài chánh để thực hiện Bia Tưởng Niệm (Thanh Phong/ Viễn Đông)
Một vị khác nói, “Chính giữa là Tượng Đài Tưởng Niệm các Chiến Sĩ Việt Mỹ; bên phải là Phòng Sử Liệu, bên trái là Bia Tưởng Niệm các anh hùng tuẫn tiết trong Tháng Tư Đen; như vậy là quá đẹp, quá đủ rồi; từ nay trở đi chúng ta không còn xây dựng một công trình nào khác trong khuôn viên Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ nữa.” Danh sách thường dân bị cộng sản thảm sát trong dịp Tết Mậu Thân tại tỉnh Thừa Thiên và thành phố HuếTrần Giao Thuỷ Dưới đây là tài liệu của chính phủ Việt Nam Cộng hoà ghi lại danh sách của 4.062 nạn nhân bị cộng sản thảm sát và bắt đi mất tích trong dịp Tết Mậu Thân 1968 ở 13 quận trong thành phố Huế và tỉnh Thừa Thiên. Cộng sản Việt Nam giết hại từ trẻ thơ đến phụ lão, nam nữ, đủ mọi thành phần trong xã hội.
 Thảm sát Tết Mậu Thân — Huế, 1968. Nguồn: DCVOnline tổng hợp Cuộc thảm sát Tết Mậu Thân, theo tác giả Paul Schmehl, đã xẩy ra dựa trên với những sự kiện sau đây: - Quân cộng sản Việt Nam, trước khi khai chiến, đã nhận lệnh chi tiết trong đó có lệnh phải thủ tiêu những người ủng hộ chính phủ VNCH. Cộng quân đã được cung cấp đầy đủ danh sách chi tiết những người phải bị thủ tiêu.
- Nhiều bản báo cáo của quân cộng sản tịch thu được sau chiến trận liệt kê số lượng người đã bị thủ tiêu, trong một số trường hợp xác định cả họ là ai và vai trò của họ trong chính quyền và cho biết rằng lệnh thủ tiêu đã được chấp hành một cách nghiêm chỉnh.
- Nhiều nhân chứng ở cả hai phía, người dân địa phương và các nhà báo, xác nhận rằng nhiều người đã bị hành quyết. Cách họ chết tương ứng với dấu vết tìm thấy trên xác nạn nhân. Nhiều người trong số những nạn nhân cũng trùng hợp với những phúc trình của quân cộng sản cho biết ai là những người đã bị thủ tiêu.
- Cuối cùng, những phúc trình chi tiết về những ngôi mộ tập thể đã được phát giác và số nạn nhân ở những nơi đó, được chứng thực bằng phúc trình của Douglas Pike, của US News release, phúc trình của Chính phủ Việt Nam và tài liệu của Alje Vennema xác nhận rằng cuộc thảm sát đã xảy ra và đã cung cấp bằng chứng về kích cỡ kinh hoàng của nó.
Theo bảng thống kê, gồm nhiều nguồn khác nhau, cho thấy cách nạn nhân chết tương ứng với dấu vết tìm thấy trên xác người chết: bị trói tay, trói chân, bị bắn vào đầu, bị chôn sống, bị đập vỡ sọ, bị ngộp nước, bị giết bằng lựu đạn, bị chém đầu, v.v. Nạn nhân thuộc nhiều thành phần khác nhau như người buôn bán, sinh viên, cảnh sát, quân nhân, thợ may, nhà thầu, công chức, nhân viên sứ quán Mỹ, nhân viên USAID, thầy giáo, xã trưởng và vợ, học sinh, linh mục (Urbain và Guy), nhân dân tự vệ, thợ máy, thợ hồ, phụ nữ, bác sĩ (người Đức), chủng sinh, thượng nghị sĩ (Trần Điền), người Đại Hàn, người Tầu, lãnh đạo VNQDĐ, v.v. Trong phân tích sau cùng, có thể nói rằng đã có khoảng 5.000 người đã bị thảm sát và bị bắt đi mất tích; đã tìm được khoảng 3.000 xác người và có khoảng 2.000 nạn nhân đã được xác định nhân thân. Số nạn nhân còn lại chưa bao giờ được tìm được. Sau cùng 4.062 nạn nhân — bị giết và bị bắt đi mất tích — đã được xác định, và còn khoảng 1.000 người biến mất vào lịch sử không để lại một dấu vết nào. Dưới đây là tài liệu của chính phủ Việt Nam Cộng hoà ghi lại danh sách của 4.062 nạn nhân (thường dân) bị cộng sản thảm sát và bắt đi mất tích trong dịp Tết Mậu Thân 1968 ở 13 quận trong thành phố Huế và tỉnh Thừa Thiên. Cộng sản Việt Nam giết hại từ trẻ thơ đến phụ lão, nam nữ, đủ mọi thành phần trong xã hội. Đầu tháng Hai, 2017 Đọc thêm “Tết Mậu Thân – Bốn mươi năm sau (1968-2008)”, p1, p2, kết © 2017 DCVOnline Nếu đăng lại, xin ghi nguồn và đọc “Thể lệ trích đăng lại bài từ DCVOnline.net” Thảm Sát Mậu Thân: Tội Ác Việt Cộng Muôn Đời Không Quên  |
Biến cố Tết Mậu Thân xẩy ra đã đúng 50 năm (1968 – 2018) nhưng đối với dân miền Nam Việt Nam, đặc biệt là xứ Huế, nỗi đau vẫn còn đó, vết thương lở loét chẳng bao giờ lành. Ngoài cố đô bị tàn phá tang tành, niềm đau mất mát người thân kéo dài đến bây giờ bởi sự ngang ngược của chế độ cộng sản. Cho đến nay họ vẫn chà đạp lên nỗi thống khổ của người dân, coi đó là “chiến thắng lịch sử”. |
Viết bài nầy, tôi không có mục đích tường thuật biến cố đau thương nầy. Chuyện nầy đã có hằng chục, hằng trăm người viết rồi. Hơn nữa, Tết Mậu Thân tôi đang thụ huấn tại Sài Gòn, và hứng trận trực tiếp biến cố nầy ở đó. Riêng Huế, quê tôi, nơi chịu trận nặng nề nhất, tôi chỉ chứng kiến những hậu quả tang thương bởi bàn tay tội ác của VC.
Vào khuya Mồng Một Tết Mậu Thân, tôi cùng người anh con ông bác ruột (đang thụ huấn tại Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung) được ra phép Tết và ở lại nhà một người chị bà con ớ Phú Nhận. Đang ngủ, chừng 1-2 giờ sáng gì đó, bỗng nghe súng nổ tứ phía và liên tục, có khi đạn xéo đâu gần nhà. Chúng tôi biết có chuyện nhưng chẳng biết đích xác chuyện gì. Sáng ra vẫn chưa biết điều gì đã xẩy ra, cho đến gần trưa nghe thông báo từ trực thăng mới biết VC đang tấn công Bộ Tổng Tham Mưu và phi trường Tân Sơn Nhất (nhà chị tôi ở gần đó). Cũng theo kêu gọi từ trực thăng, chúng tôi cùng đồng bào phải nhanh chân di tản ra khỏi khu vực. Hai anh em tôi đang chạy trên đường Võ Di Nghi thì bị trực thắng nhà ta quạt cho một loạt đạn. Tôi suýt chết vì một viên viên đạn bay như gió, vèo qua tai, chạm phải cửa sắt nhà người ta. Tôi nhặt viên đạn còn nóng bỏ túi, đem về làm kỷ niệm. Nếu viên đạn ấy nhích qua nhích về một tí thì tôi đã xong đời rồi. Có lẽ mấy ông trực thăng tưởng hai anh em tôi là VC vì anh tôi mặc áo lính còn tôi thì mặc sắc phục cảnh sát, khác với đám thường dân chạy loạn bên cạnh. Chiều hôm đó, anh tôi trình diện Tiểu Khu Gia Định, tôi lần mò về Học Viện, không dám tự ý đi đâu, nếu không được điều động làm công tác.
Cuối năm 1968, tôi tốt nghiệp và được về Huế làm việc. Thành phố Huế trước ngày tôi đi và bây giờ khác nhau một trời một vực. Tất cả đã đổ nát. Sự đổ nát của Cố đô Huế thật khủng khiếp. Hoàng Thành tang hoang, cầu Trường Tiền gãy gục xuống sông Hương, phố xá phần lớn sập đổ, đường sá loang lổ vết đạn…Am thờ các vong linh tử nạn (bất kể phe nào) hình như nhà nào cũng có, nơi nào cũng có. Nhà anh chị tôi ở đường Trần Hưng Đạo cũng có một cái am thờ một người lính VC! Khi yên ổn, anh chị tôi từ chỗ tản cư về nhà thì thấy người lính nầy chết nằm vắt vẻo nơi cầu thang lên lầu. Anh chị tôi phải thuê người đem chôn đâu đó. Chị dâu tôi sợ quá, lập am thờ, rằm mồng một có hương hoa trái cây “tiếp tế” cho anh VC nầy!
Cùng số phận với dân Huế, đại gia đình tôi dường như nhà nào cũng có người mất tích hoặc bị VC giết, gần nhất là chú em rể của tôi. Sau Mậu Thân, khi đang làm việc tại Huế, tôi cùng em gái tôi đi tìm xác chồng nó là CSDC Quảng Ngãi về quê ăn Tết, bị VC bắt đi vào ngày Mồng Hai Tết khi đang ngồi với vợ con trong nhà. Và em tôi đã tìm được xác chồng nhờ cái răng bạc và cái quần cụt nó mặc khi bị bắt.
Với dân Huế, qua biến cố Mậu Thân, VC đã tự phơi bày sự dã man tàn độc, phi dân tộc nhất của csVN trong lịch sử đất nước. Trong một ngàn năm bắc thuộc không hiểu người Tàu đã lần nào tàn sát dân Việt kiểu ghê gớm như thế không? Trong một trăm năm đô hộ của giặc Tây, không biết người Pháp có lần nào chôn sống tập thể người Việt Nam một cách khủng khiếp như thế không? Dù Tàu, Tây chẳng thương chi dân mình nhưng tôi tin là họ không làm như thế, nhưng nếu có làm thật thì cũng có thể hiểu được vì họ là người ngoại chủng. Đằng nầy, cùng là người Việt Nam nhưng csVN đã làm như thế, họ chủ trương “giết lầm hơn bỏ sót” lùa tất cả những người mà họ nghi là quân nhân, cán bộ công nhân viên VNCH, các đảng phái quốc gia…đi, bắt những nạn nhân nầy tự đào hố, sau đó những nạn nhân nầy bị trói tay tập thể để rồi bị bọn cán binh VC tống xuống hố, chôn sống!!! VC tàn bạo và dã man đối với người đồng chủng/đồng bào hơn cả người ngoại quốc.
Có chứng kiến tận mắt những hố chôn tập thể mới thấy được bản chất khát máu của những con người cộng sản. Em gái tôi và tôi đi từ địa phương nầy đến địa phương khác, từ hố mộ tập thể nầy đến hố mộ tập thể khác để tìm người thân. Khi lớp đất/cát cuối cùng được đào lên, hằng chục, hằng trăm xác chết trong các tư thế nằm, ngồi, đứng chết sát nhau, chồng lên nhau, và tất cả đang bị trói trông thật khiếp đảm… Xác người nằm dưới lòng đất gần như còn “tươi”. Sau khi đem lên mặt đất mới đổi qua màu đen và bắt đầu phân rã. Máu người trào ra…và mùi thối xông lên nồng nặc. Tội nghiệp mấy người có nhiệm vụ bốc mộ, họ bất chấp mọi sự kinh tởm và mùi xú uế, đào và đem từng xác người đặt trên mặt đất để thân nhân đến nhận diện…Em gái tôi nhận ra chồng nó trong hằng trăm xác chết nầy tại quận Phú Thứ.
Cứ thế, từ hố nầy đến hố khác, người dân Huế đã tìm được vào khoảng hơn năm ngàn người. Những xác chết có thân nhân nhận diện, được gia đình đem về chôn cất. Những xác chết không còn nguyên vẹn, hoặc không có thân nhân nhận lãnh, chính quyền tự lo liệu chôn cất đàng hoàng tại những vùng đất quanh thành phố Huế, nơi được chôn nhiều nhất là Đàn Nam Giao. Chưa bao giờ xứ Huế có một đám tang tập thể “lớn” như vậy. Chưa bao giờ kinh đô Huế phủ trắng một màu tang kinh khiếp từ nội thành đến các vùng phụ cận như vậy. Khắp các trường học, màu khăn sô trên đầu các em học sinh cũng nhan nhãn trong lớp học và giữa sân trường. Đó là hình ảnh trung thực, rất trung thực của Huế sau Tết Mậu Thân năm 1968 mà tôi là người tận mắt trông thấy. Năm mươi năm, hình ảnh nầy chưa phai nhạt trong lòng người dân Huế. Thế mà, nhà cầm quyền hiện nay tại Việt Nam cho đó là một “chiến thắng”!
Chiến thắng là chiến thắng nào, thành quách đổ nát người đào hố chôn!
Nếu đó là “chiến thắng” thì là chiến thắng của chủ nghĩa cộng sản đối với dân tộc Việt Nam mà kẻ thực hiện không ai khác là VC, những con người Việt Nam mất gốc, tôn thờ một chủ nghĩa ngoại lai. Kể từ khi xuất hiện trên trái đất, cộng sản đã giết hại trên dưới 100 triệu sinh linh. Nga và Trung cộng mỗi nước cũng đã tàn sát hàng chục triệu dân mình. Từ Cải Cách Ruộng Đất tại đất Bắc đến Thảm Sát Mậu Thân ở Huế, VC giết dân Việt không gớm tay chẳng qua đó cũng là “truyền thống” khát máu chung của cộng sản quốc tế! Đó là cái nhục mà đảng csVN phải gánh trước Tổ Quốc và Dân Tộc Việt Nam.
Cho đến nay, hằng năm họ vẫn ăn mừng chiến thắng, một “chiến thắng” trên máu xương và nước mắt của chục hàng ngàn người dân trong 25 này đêm họ chiếm Huế. Để tô vẽ cho “chiến thắng” nầy và chạy tội trước lương tâm và lịch sử dân tộc, họ từng tuyên bố, đại ý “những người bị giết trong biến cố Mậu Thân là do bom đạn Mỹ Nguỵ tàn sát, cách mạng không giết họ”!
Đúng là luận điệu trơ tráo. Biết rằng chiến tranh nào cũng chết chóc, bom đạn nào cũng vô tình, nhưng “bom đạn Mỹ Nguỵ” không giết đồng đội và đồng bào mình một cách tán tận lương tâm như thế. Mỹ và VNCH không hề thù hận với người nhà mình, không có lý do để trói tay, chôn sống tập thể đồng đội và người dân của mình như thế. Hành động man rợ đó chỉ được kích động bằng hận thù, một chủ trương đặc thù của chủ nghĩa cộng sản mà những kẻ cuồng tín csVN đã hấp thụ và thực hành triệt để. Con người ai cũng thế, chín người mười ý, khác chính kiến là chuyện bình thường. Chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới chủ trương “đồng phục tư tưởng”, coi những người khác chính kiến là thành phần “đáng tội chết”. Đó là lý do csVN đã coi đồng bào mình, những người không ở trong hàng ngũ của họ như kẻ thù. Họ không ngần ngại giết sạch, giết hết để nhuộm đỏ đất nước Việt Nam. Bất cứ một chính thể nào, dù độc tài sắt máu đến đâu, nếu có chút lương tri dân tộc, không ai tàn ác với dân tộc mình như csVN.
Thử hỏi, ai lật lọng lợi dụng ba ngày hưu chiến trong dịp Tết để tấn công đối thủ? Và khi đã tràn ngập được lãnh thổ của đối phương, ai bắt những người nghi là người của đối phương đem đi thủ tiêu? VNCH không làm chuyện đó. VNCH không tráo trở, lợi dụng dịp hưu chiến để tấn công Bắc Việt hoặc các vùng VC tạm kiểm soát tại miền Nam trong ba ngày Tết thiêng liêng của dân tộc. VNCH là nạn nhân của sự gian dối, là kẻ bị tấn công bất ngờ trong khi cho phép một số quân nhân và công chức được phép về ăn Tết với gia đình. Trong khi chật vật chống kẻ thù xâm lăng, không có thể chế nào, kể cả VNCH lại có chủ trương ngược đời là bắt con dân của mình đi thủ tiêu. Trong khi mọi binh sỹ, mọi khẩu súng đều hướng về kẻ thù trước mắt, VNCH làm sao có thể có chủ trương đi gom tóm để tàn sát tập thể quân dân của mình đang vui Tết ở mọi địa phương?
Nếu trên đường VC dẫn các “tội nhân” về núi bị Mỹ oanh tạc giết chết thì xác các nạn nhân sẽ nằm phơi trên mặt đất. Đằng nầy, các nạn nhân bị trói chùm với nhau, nằm chết chồng chất lên nhau trong các hố chôn tập thể! Ai trói họ? Ai chôn họ trong các hầm chôn tập thể đó? “Mỹ Nguỵ” sau khi oanh tạc, bắn đại bác giết họ rồi liền nhảy dù xuống trói từng người lại với nhau, chôn tất cả họ vào những hố chôn như thế? Không ai có thể tin những luận điệu ngang ngược như thế của csVN. Họ nói lấy được để chạy tội. Nhóm Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân…đúng là những kẻ “ăn cơm quốc gia, thờ ma cộng sản”. Họ sinh ra, lớn lên, được giáo dục tại miền Nam, ra đời phục vụ dưới các chính thể VNCH thế mà họ hoạt động cho VC, ít nhiều bàn tay họ đã dính máu dân Huế trong biến cố Thảm Sát Mậu Thân. Ông HPNT, (thầy dạy Văn của tôi năm Đệ Nhị, trường Quốc Học) khi được phỏng vấn về vấn đề Mậu Thân đã trả lời tiên hậu bất nhất. Tôi bất mãn nhất là phát biểu sau đây của ông: “Năm 75, 76, 77 khi đi làm thuỷ lợi tại Khe Đá Mài chúng tôi đào lên một hầm chôn tập thể toàn là người lính đội mũ tai bèo và mặc đồ quân giải phóng, chứng tỏ cái gọi là “Thảm sát Mậu Thân” chỉ là trò bịp của thực dân”! Tôi không biết điều nầy có thật hay không vì chưa hề nghe ai nói, ngoài “phát hiện” nầy của ông HPNT. Có hai trường hợp. Một, ông HPNT bịa chuyện nầy để bao che cho VC. Hai, ông HPNT nói thật, nghĩa là có hầm chôn tập thể lính VC.
Nếu trường hợp một đúng, nghĩa là ông HPNT bịa chuyện thì thật đáng khinh con người trí thức của ông. Nếu không bịa chuyện thì trí óc ông cũng có vấn đề. Sau Mậu Thân chiến tranh, súng đạn, chết choc…vẫn xẩy ra từng ngày nơi các vùng rừng núi xa xôi của tỉnh Thừa Thiên (kể cả Khe Đá Mài). Từ Mậu Thân đến thời điểm ông “phát hiện” hố chôn tập thể lính VC là 8 năm (nếu chỉ tính tới năm 1975). Với khoảng thời gian dài như thế, với thực trạng chiến tranh ngày càng khốc liệt như thế, tại sao ông dám quả quyết là mồ chôn các lính VC là do VNCH và Mỹ thực hiện trong dịp Tết Mậu Thân? Chỉ với một “phát hiện” mơ hồ như thế, chỉ với một hố chôn tập thể lính VC không biết có từ bao giờ, ông đã đánh đồng tất cả những hố chôn tập thể khác do VC thực hiện trong dịp Tế Mậu Thân đều do Mỹ và VNCH làm!? Và do đó, theo ông, chuyện “Thảm sát Mậu Thân” do VC ra tay là hoàn toàn bịa đặt? Tôi luôn tôn sư trọng đạo, nhưng trong trường hợp nầy, ông thầy của tôi không còn đáng kính nữa. Khi mới ra tù, tôi được bà xã dẫn đi xem buổi trình chiếu phim tài liệu “A Television of History” do PBS thực hiện, tại trường Nguyễn Chí Diễu. Tới nơi, tôi thấy ông HPNT ngồi đó, chủ trì buổi trình chiếu. Ông nhìn tôi không mấy thiện cảm và với vẻ mặc dương dương tự đắc của người “bên thắng cuộc”. Cái gọi là “Chiến thắng Mậu Thân” đang được PBS bình luận và quảng bá đã đánh trúng tim đen ông! Không còn dáng vẻ nghệ sỹ như ngày xưa đứng lớp, ông ngồi đó với một khuôn mặt thù hận và sắt máu! Tôi thật sự chán ngán cho người trí thức nầy. Ông quá cuồng cộng đến độ quên cả lý trí và lương tri con người.
Nếu trường hợp hai đúng, nghĩa là ông HPNT đã phát hiện hố chôn tập thể lính VC thật thì, ai là thủ phạm? Như đã trình bày ở phần trên, tôi hoàn toàn không tin Mỹ và VNCH làm chuyện ấy trong biến cố Mậu Thân. Khi VC đang tổng tấn công vào tỉnh Thừa Thiên và cố đô Huế, họ đang bận tay, quá bận tay để giữ vững phòng tuyến vốn đang quá mỏng (vì bất ngờ và binh sỹ nghĩ phép), làm sao họ có thể thực hiện chuyện vô lý đó. Có thể hố chôn lính VC nầy đã có từ trước rất lâu hoặc sau Mậu Thân do Mỹ trải bom hoặc đụng trận được quân đội VNCH đào hố chôn tập thể. Nếu đúng như thế thì ngôi mộ tập thể lính VC nầy không liên quan gì đến “Thảm sát Mậu Thân” do VC gây ra cả, thưa ông thầy. Trường hợp hố chôn lính VC nầy có trong dịp Tết Mậu Thân thì khả năng đó là trò “gắp lửa bỏ tay người” của VC. Có thể những người lính VC nầy bị giết trong khi tấn công Huế, đồng đội của họ đem về chôn ở đó để vừa trọn tình trọn nghĩa với đồng đội, vừa để vu oan giáng hoạ cho Mỹ và VNCH trong tội ác tàn sát và chôn sống người dân Huế. Hơn nữa VC cũng có thể “trang bị” nón tai bèo, áo quần quân giải phóng cho các nạn nhân xấu số trước hoặc sau khi ra tay tàn sát họ, tạo một chứng cứ giả để đổ thừa việc chôn sống người đồng loạt trong biến cố Mậu Thân là do Mỹ và VNCH chủ mưu.
Trò lưu manh, ném đá dấu tay là ngón “nghề chuyên nghiệp” của csVN, bọn người mà thầy tôn thờ, không lý ông thầy không biết?!
Trường hợp của những hố chôn tập thể tại các quận ngoại ô, phát hiện một vài tháng sau khi VNCH và đồng minh đã đánh bại VC, chiếm lại thành phố Huế và tỉnh Thừa Thiên có thể nguỵ tạo, tung hoả mù để đổ thừa. Thế còn các hầm chôn tập thể trong nội thành Huế như tại Chùa Áo Vàng, Trường Tiểu Học Gia Hội, Bãi Dâu và rải rác nhiều nơi khác được phát hiệnngay sau khi VNCH chiếm lại Huế thì sao, do ai thực hiện? Ai đào hố chôn sống bốn giáo sư người Đúc, dạy tại Đại Học Y Khoa Huế trong khuôn viên chùa Tường Vân? Không lý cũng do “Mỹ Nguỵ” thực hiện trong thời gian VC tạm chiếm, làm chủ thành phố Huế? Chỉ có những người mất trí mới tin như thế. Chỉ có những kẻ vô lương mới tuyên truyền lếu láo như thế để chạy tội cho VC.
Cái gì cũng thế, dù đau thương đến đâu rồi cũng được thời gian hoá giải. Nhưng riêng biến cố Tết Mậu Thân là trường hợp ngoại lệ, không bao giờ phai nhạt đối với người dân Huế nói riêng, dân miền Nam Việt Nam nói chung. Tại sao? Tại vì hằng năm những kẻ tội đồ phi dân tộc ấy, chế độ csVN tàn bạo ấy vẫn kỷ niệm “chiến thắng Mậu Thân”. Đó là một hành động cào vào vết thương đang mưng mủ nên vết thương chẳng bao giờ lành da liền thịt được. Đã tàn sát đồng bào không nương tay, đáng tội diệt chủng, bây giờ dựa vào sức mạnh bất chính, họ vẫn huyênh hoang “chiến thắng”. CSVN đã và đang thách thức lương tri dân tộc, xấc láo với tiền nhân, ngồi xổm trên hồn thiêng sông núi. Do đó, không thể thứ.
Đó là một tội ác tày trời ngàn đời không thể quên được.
ĐỊNH NGUYÊN Viết để nhớ 50 năm biến cố Mậu Thân (1968 – 2018)
Chiến dịch Mậu Thân 1968 và sự thật về nhà thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường Minh Anh  Chủ Nhật, ngày 21/01/2018 09:33 AM (GMT+7) (Dân Việt, báo VC) Theo dòng lịch sử, vào đêm 30, rạng sáng 31.1.1968, quân và dân đồng loạt nổi dậy khắp muôn nơi. Nửa thế kỷ trôi qua, song ký ức về chiến dịch Mậu Thân 1968 vẫn còn nguyên vẹn trong tâm khảm bao người, đặc biệt là người dân Huế.
Chiến dịch Mậu Thân và lòng tự tôn dân tộc Nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân cho rằng: “Mậu Thân là chiến thắng quan trọng nhất, buộc Mỹ không thể thực hiện chiến lược giải quyết chiến tranh Việt Nam bằng quân đội, mà phải ngồi vào bàn hội nghị Paris và rút quân khỏi Việt Nam. Nếu như năm 1968 là quyết định quan trọng thì chiến thắng 1975 là tất yếu xẩy ra. Điều quan trọng Huế đã làm được, mà không nơi nào có thể làm được - đó chính là vai trò đóng góp của người dân Huế, làm nên chiến thắng. Nói đến chiến dịch Mậu Thân là vấn đề lịch sử lớn. Trong cuộc chiến tranh, mặc dù chúng ta đã chiến thắng nhưng cũng không thể tránh được sai lầm, nên hãy thẳng thắn nhìn nhận vào sai lầm đó. Đã 50 năm rồi, theo tôi nên tổ chức kỷ niệm, tri ân những người dân Huế đã hy sinh cho thành công của chiến thắng Mậu Thân”. Lật dở những trang sử cho thấy, ngày ấy, Huế là một trong ba chiến trường trọng điểm để thực hiện cuộc tổng tiến công Tết Mậu Thân. Vũ khí được bí mật đưa vào nội thành bằng nhiều hướng và được ngụy trang cẩn thận. Đêm 30 Tết, bộ đội từ khắp nơi đồng loạt tiến vào thành phố Huế, bất ngờ tấn công địch, nhanh chóng chiếm giữ các mục tiêu quan trọng. Cuộc tổng tiến công đúng dịp Tết Nguyên Đán là thời điểm quyết định vận mệnh của đất nước. Và chỉ một ngày đêm, quân và dân ta đã làm chủ thành phố Huế. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1968 ở Huế đi vào lịch sử dân tộc như bản hùng ca của lòng kiêu hãnh “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Đừng vì hận thù mà xuyên tạc lịch sử Chúng ta không quên quá khứ, nhưng vì sự hòa hợp, hòa giải dân tộc và hội nhập quốc tế, chúng ta khép lại quá khứ, hướng tới tương lai. Chiến dịch Mậu Thân 1968 cũng đã tròn nửa thế kỷ, vậy mà cứ mỗi dịp Tết đến Xuân về, thậm chí bất cứ lúc nào có cơ hội là lại có những ý kiến bị đặt để bôi nhọ chế độ, xuyên tạc về sự thật lịch sử cũng như làm giảm uy tín của những người có tiếng nói trong xã hội.  
Nhà thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường Sự kiện 1968 ở Huế với nhà thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường như một “bi kịch” cuộc đời, đeo bám ông trong suốt chừng ấy năm trời. Những câu hỏi nghi vấn được đặt ra sau những lời “vu khống, xuyên tạc” rằng: Hoàng Phủ Ngọc Tường ở đâu khi chiến dịch Mậu Thân vào thời điểm quan trọng? Thật nhẫn tâm khi còn có ý kiến cho rằng ông đã có mặt và trực tiếp tham gia vào vụ thảm sát ở Huế năm 1968. Song sự thật hiển nhiên không phải vậy. Nhà văn Nguyễn Quang Hà ghi theo lời kể của nguyên Phó Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế - Nguyễn Trung Chính, nguyên thành ủy viên, Bí thư quận 1- Huế thì: “Cách một tuần trước khi nổ súng phát hỏa tấn công trong chiến dịch Mậu Thân. Để làm cho tư tưởng quân địch tan tác, cần có một cuộc binh vận bất ngờ. Hai người được lãnh đạo chọn cho cuộc ra quân quyết liệt này là anh Hà Lề và anh Nguyễn Xuân... Tin bộ đội giải phóng vác cờ xanh đỏ đi giữa đất Cố đô từ người nọ truyền tai người kia như một làn sóng. Phát huy thắng lợi binh vận, kế hoạch lần 2 vùng hoạt động ngắn hơn và lãnh đạo quyết định chọn: Hoàng Kim Thắng, Dương Thi Tho, Hoàng Kim Cuộc, Nguyễn Quốc Tròn”. Như vậy, trong suốt chiến dịch, Hoàng Phủ Ngọc Tường không được giao nhiệm vụ để trở lại Huế. Vậy mà trong nhiều năm ròng, một số cây bút ở hải ngoại đã kết tội cho Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Lê Văn Hảo, Nguyễn Đắc Xuân với những lời lẽ xúc phạm. Họ gọi các nhà văn, nhà thơ này là "đồ tể", "thủ phạm chính của cuộc tàn sát", "các hung thần can dự tới bữa tiệc máu". Nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân cho biết: “Tôi và 2 anh em Hoàng Phủ Ngọc Tường - Hoàng Phủ Ngọc Phan đều bị vu khống với những lời lẽ rất nặng nề, nhưng Hoàng Phủ Ngọc Tường “dính” nặng nhất. Có lẽ bởi sau này, vì muốn nêu thành tích nên ông ấy đã mắc sai lầm khi trả lời báo chí về tác phẩm của mình, mà thực tế khi viết, ông ấy có dùng tư liệu của tôi, chứ còn trong chiến dịch Mậu Thân, Hoàng Phủ Ngọc Tường không về Huế, vì ông ấy là Tổng thư ký mặt trận liên minh”. Vậy căn cứ vào đâu để họ xuyên tạc, bịa đặt trắng trợn để làm giảm uy tín và phương hại đến thanh danh một nhà văn nổi tiếng và có uy tín ở Việt Nam. Theo nhà văn Ngô Minh: “Sự hiểu nhầm, hiểu sai rất oan ức này là do "Lời hiệu triệu" với giọng đọc của Hoàng Phủ Ngọc Tường được thu thanh từ trước, phát đi khắp các nẻo đường Huế sau chiến dịch, làm cho ai cũng tưởng anh đang ở Huế. Thứ nữa là tập ký sự Ngôi sao trên đỉnh Phu Văn Lâu mang tên tác giả là Hoàng Phủ Ngọc Tường viết về những người giữ cờ trên Phu Văn Lâu Huế. Không tham gia đánh trận trực tiếp làm sao mà viết về cuộc chiến với những chi tiết cụ thể như thế? Sự thật thì không phải vậy. Hoàng Phủ Ngọc Tường bảo rằng đây là một tập sách "viết chưa đạt". Theo lời kể của Hoàng Phủ Ngọc Tường mà nhà văn Ngô Minh ghi thì: "Đây là cuốn sách tôi viết từ một tư liệu ghi chép thực tế “những người giữ cờ ở Huế” của Nguyễn Đắc Xuân. Tôi nhớ bản thảo ấy cũng chỉ độ 5 đến 7 trang. Tôi đã hư cấu thêm theo sự cho phép của thể loại ký và theo suy nghĩ của tôi - chứ tôi đâu có mặt ở Huế vào thời điểm ấy. Viết xong gửi đi tôi ghi tên cả hai người cùng viết. Không hiểu vì sao khi in thành sách tên tác giả lại chỉ có mình tôi. Tôi trở thành thằng “hớt tay trên” của bạn. Tôi đã viết thư gửi ra Hà Nội phản ứng với Giám đốc NXB Giải Phóng, lúc đó là anh Khương Minh Ngọc. Nhưng sau đó tôi được anh Bảo Định Giang đang phụ trách Tiểu ban Văn nghệ miền Nam can ngăn; bảo rằng làm như thế sẽ ‘có lợi cho cách mạng hơn! Không biết có lợi là lợi gì? Lúc đó tôi đã kể cho anh Nguyễn Đắc Xuân nghe tất cả chuyện oái oăm này..." Đời tri thức cũng có cái giá phải trả Chiến dịch Mậu Thân là sự thật khốc liệt và đau lòng cho cả 2 bên, khi chiến trường đầy bom, đạn, mà bom, pháo, súng, đạn có loại trừ binh lính hay dân thường đâu bởi tất cả đều chìm trong khói lửa. Quá khứ đã lùi xa, nhưng những vết thương để vẫn hằn in những nỗi đau mà những người trong cuộc và cả người thân, gia đình của họ phải mang theo. Hoàng Phủ Ngọc Tường đã từng thốt lên: "Không hiểu sao đến giờ vẫn có những kẻ xấu miệng cứ tìm cách buộc chặt tôi vào ‘vụ Mậu Thân Huế. Tôi đành xem họ như những kẻ vu khống bẩn thỉu thế thôi!" 
Nhà thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường. ảnh: Hoàng Tuấn Chỉ mới đây thôi, trong một status nhiều comment ác ý với những lời cay độc đã đổ dồn vào facebook của con gái nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường, khiến cho cuộc sống của chị tự nhiên bị xáo trộn. Tuy nhiên, cũng rất nhiều comment của các nhà văn, nhà thơ, bạn đọc, những người cùng thời, những người bạn vong niên của Hoàng Phủ Ngọc Tường và cả gia đình ông cũng đã chia sẻ động viên, khích kệ tinh thần. Võ sư Nguyễn Văn Dũng viết: “Hoàng Dạ Thư thương quí của thầy. Đọc bài “ Xin được nói một lần rồi thôi”, thầy hiểu nỗi lòng của con. Không phải bây giờ đâu mà suốt 50 năm qua, cứ mỗi dịp Tết đến, lại có người cố đào bới nỗi đau Tết Mậu Thân, cùng với luận điệu Hoàng Phủ Ngọc Tường là tên đồ tể giết người hàng loạt. Không biết họ nhân danh sự thật, nhân danh hận thù, hay là một cách chứng tỏ ta là?! Bài con viết, rất minh bạch và thẳng thắn. Rằng, ba con có thể mắc sai lầm, đặc biệt khi trả lời phỏng vấn của đài Mỹ. Rằng, ba con có thể “háo danh” khi lấy tư liệu của người khác để viết “Ngôi sao trên đỉnh Phu Văn Lâu” và kể lại như thể mình là người trong cuộc. Nhưng, thực tế ba con không có mặt ở Huế trong Tết Mậu Thân. Con cần biết thêm điều này, sự thật đó đã được những người bạn ở cùng ba con trên rừng suốt thời gian Tết Mậu Thân khẳng định; được những người bạn của ba con có mặt ở Huế trong Tết Mậu Thân khẳng định; và sự thật đó đã được những người chỉ huy chiến dịch Tết Mậu Thân khẳng định. Cái tâm con người cũng như tấm gương soi; khi bị bụi bặm che phủ, nó không soi chiếu được gì, nhưng khi lau sạch, nó phản ảnh trung thành mọi sự. Chuyện này cũng thế, khi hận thù không còn, khi ngã mạn mất đi, sự thật sẽ hiện ra”. Về chuyện nhà văn Hoàng Dạ Thư sẽ đóng cửa ngôi nhà facebook vì không muốn tiếp tục nghe những lời lẽ hằn học, thù hận. Võ Sư Nguyễn Văn Dũng viết: “Con ạ, dù con không muốn nghe họ thì vẫn không cấm được họ. Dù con đôi co với họ thì vẫn không thay đổi được họ. Chi bằng con cứ để họ nói, cứ nghe họ nói - nghe với cái tâm rỗn rang và độ lượng. Oan ức không cần biện bạch; và, hãy đón nhận nó với một cái tâm rỗn rang và độ lượng. Bởi vì, chỉ với cái tâm rỗn rang và độ lượng, con người ta mới có thể sống an lành giữa cái cõi thế quá đa đoan này.” Bi kịch với Hoàng Phủ Ngọc Tường đến từ nhiều phía, song kể cả khi nằm trên giường bệnh ông cũng vẫn cặm cụi viết. Hoàng Phủ Ngọc Tường quan niệm: “Sống ở đời một người tri thức cũng có một cái giá phải trả cho việc mà người khác cứ tưởng là mình được tín nhiệm. Là người sống bằng nội tâm, nên những vấn đề thời cuộc đất nước ám ảnh tôi nhiều hơn." Nhà văn Ngô Minh từng viết: “Văn chương Hoàng Phủ thấm đẫm tình thương yêu, và được người đọc nhiều thế hệ mến mộ vì đó không phải là thứ văn chương "phải đạo" (chữ của Hoàng Ngọc Hiến) xưng tụng một chiều "ta thắng địch thua" mà đó là thứ văn chương thật có chính kiến rạch ròi mạnh mẽ là sự dấn thân để xây dựng một nền dân chủ và nhân văn cao cả. Không giống một số nhà văn xu thời nghĩ khác viết khác sống khác viết khác luôn đeo mặt nạ ngăn cách mình với xã hội, Hoàng Phủ Ngọc Tường sống như viết nói như viết nghĩ như viết”. Quá khứ đã lùi xa, hận thù xin khép lại. Hãy để tâm mình được rộng mở hướng về phía trước để thấy cuộc đời thật an vui! Hội đồng Liên tôn Việt Nam và Nhóm Linh mục Nguyễn Kim Điền: Tâm thư nhân 50 năm cuộc thảm sát Mậu Thân (1968-2018)A- Nhận định
1- Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam đang rầm rộ tổ chức kỷ niệm 50 năm biến cố Mậu Thân (1968-2018) với chủ đề“Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 - Bước ngoặt quyết định và bài học lịch sử”, qua một lễ nghi cấp nhà nước (31-01-2018), những cuộc hội thảo khoa học cấp quốc gia, những buổi giao lưu gặp gỡ cựu chiến binh mặt trận, những bài viết của một số lãnh đạo chính trị cao cấp và nhiều người khác, những buổi biểu diễn văn nghệ, những biểu ngữ tuyên truyền trong học đường… Họ trình bày đó như là cuộc nổi dậy của nhân dân miền Nam chống lại chế độ Việt Nam Cộng Hòa và là thắng lợi của nghệ thuật quân sự Cộng sản, biết nắm bắt thời cơ chiến lược để chủ động tiến công địch bằng các phương thức tác chiến mới giành thế bất ngờ…(theo chủ tịch nước Trần Đại Quang và bộ trưởng quốc phòng Ngô Xuân Lịch).
2- Phản bội cam kết hưu chiến mà họ đã đưa ra trước (27-01 đến 03-02-1968, tức 28 tháng Chạp đến 05 tháng Giêng Mậu Thân) và chà đạp ngày Tết thiêng liêng của Dân tộc, nhà cầm quyền Hà Nội thời Hồ Chí Minh -trong đêm Giao thừa và đêm mồng một Tết- đã đánh úp vào 41 thành phố, thị xã, 72 quận lỵ, kể cả cố đô Huế và thủ đô Sài Gòn -nghĩa là các khu dân cư- nhằm kiểm soát chiếm giữ các cứ điểm quan trọng và lãnh đạo quần chúng nổi dậy cướp chính quyền. Tiếng pháo đã chen lẫn tiếng súng! Rượu hồng đã hòa vào máu đỏ! Bánh tét đã trộn lẫn với thịt người ! Thế nhưng, cả hai mục tiêu quân sự và chính trị ấy đều đã không đạt được, vì quân chính quy từ miền Bắc và quân du kích tại miền Nam đã bị đẩy lui ở tất cả mọi trận địa, tổn thất lên đến cả trăm ngàn người (gấp 10 lần quân VNCH và đồng minh Mỹ). Dân chúng cũng đã không nổi dậy mà trái lại còn bỏ chạy về phiá quốc gia.
3- Thật ra, đó là cuộc thảm sát 14.300 dân lành vô tội, mà một nửa trong số đó là tại tỉnh Thừa Thiên và thành phố Huế, nơi đã bị Cộng sản chiếm đóng 26 ngày trời. Số nạn nhân này gồm có viên chức hành chính, bác sĩ kỹ sư, tu sĩ linh mục, giáo sư nghệ sĩ, tiểu thương lao động, quân nhân về hưu, sinh viên học sinh, thường dân trẻ nhỏ… Họ đã bị giết bằng những hình thức man rợ như dùng báng súng, cuốc xẻng bửa đầu, đóng cọc xuyên thân hình, đâm lưỡi lê vào bụng, cột thành chùm chôn sống, xả súng liên thanh và ném lựu đạn vào đoàn người bị trói chặt… Sau cuộc chiến, người ta đã tìm thấy nhiều mồ chôn tập thể hàng trăm con người tại chùa Theravada, trường Gia Hội, phường Phú Cát, vùng Phú Vang, quận Phú Thứ, khe Đá Mài v.v... (Nguồn: Viện Nghiên cứu Á châu, Đại học Texas, Hoa Kỳ). Chứng tích còn sờ sờ là ngôi mộ tập thể ở núi Ba Tầng, phía nam thành phố Huế, nơi đang chôn cất hơn 400 hài cốt tìm thấy ở khe Đá Mài, thuộc vùng núi Đình Môn, Kim Ngọc, quận Nam Hòa, tỉnh Thừa Thiên (nay là xã Dương Hòa, huyện Hương Thủy). Ngay sau tháng 4-1975, Cộng sản đã dùng mìn phá hủy trụ bia và 2 bàn thờ ở ngôi mộ tập thể này, khiến nhiều hài cốt cũng nổ tung lên. Mộ nay đang tình trạng hoang phế. Cộng sản cũng đặt tên “Xuân 68” cho một con đường trong Thành Nội.
4- Cuộc thảm sát Mậu Thân được xếp vào bao cuộc thảm sát tập thể đồng bào mà đảng Cộng sản Việt Nam đã gây ra từ ngày họ nắm được quyền lực trên đất nước. Nào là cuộc Cải cách Ruộng đất giết trực tiếp lẫn gián tiếp nửa triệu nông dân miền Bắc; nào là cuộc xâm lăng Việt Nam Cộng Hòa làm vong mạng gần 4 triệu sinh linh hai vùng Tổ quốc; nào là việc thủ tiêu hơn 100 ngàn quân nhân cán chính VNCH trong các trại tập trung cải tạo; nào là việc đẩy hàng triệu Đồng bào ra biển khơi hay vào rừng thẳm để chạy trốn chế độ mà một nửa đã bỏ thây… Rõ ràng là sự cai trị và sự trường tồn của đảng Cộng sản được xây trên xương máu dân lành Việt Nam.
B- Tuyên bố:
Với vai trò lãnh đạo tinh thần, có nhiệm vụ loan truyền sự thật, bảo vệ công lý và giáo dục lương tâm, Hội đồng Liên tôn Việt Nam -vốn quy tụ nhiều chức sắc của 5 tôn giáo: Cao Đài, Công Giáo, Phật Giáo Thống Nhất, Phật Giáo Hòa Hảo, Tin Lành-và Nhóm Linh mục Nguyễn Kim Điền tuyên bố như sau:
1- Đòi hỏi nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam hãy biết thừa nhận sự thật, lãnh nhận trách nhiệm, công nhận tội ác tầy trời mà chính họ đã gây ra cho Dân tộc và Đồng bào trong những ngày xuân năm 1968; phải giải oan cho các nạn nhân bằng cách chính thức tạ tội và để tự do cho bất cứ cá nhân hay tập thể nào tưởng nhớ đến họ; phải tôn tạo ít nhất hai ngôi mộ tập thể chôn cất di hài của họ là Ba Tầng và Ba Đồn gần núi Ngự Bình, phía Nam thành phố Huế. Yêu cầu chấm dứt ngay việc trình bày và ghi dấu cuộc tấn công nhân Tết cổ truyền đó như một chiến thắng oai hùng, vì chứng tích và chứng nhân vẫn còn đầy dẫy. Bằng không, danh xưng “Mậu Thân 1968” sẽ mãi in hằn vào lịch sử nhân loại và cứa vào da thịt dân tộc như một lưỡi dao sắc không bao giờ cùn và một thỏi sắt nung đỏ chẳng bao giờ nguội.
2- Kêu gọi toàn thể Đồng bào trong và ngoài nước cũng như mọi Tôn giáo của người Việt tưởng niệm, cầu nguyện, minh oan cho các nạn nhân biến cố Mậu Thân, để linh hồn họ được giải thoát, gia đình họ được an ủi. Ngoài ra cũng xin nhớ đến các chiến binh hai miền đã ngã xuống trong cuộc tương tàn huynh đệ này. Đó là căn cốt trong truyền thống của mọi tôn giáo cũng nhưtrong văn hóa của Dân tộc. Đây cũng là cơ hội để các đao phủ thảm sát đồng bào bày tỏ thành tâm thiện chí, thống hối lỗi lầm, dọn đường cho việc hòa giải Dân tộc cách đích thực. Xin Quý Chức sắc tôn giáo trong nước can đảm đặt ra một ngày tạm gọi là “Ngày nhớ Mậu Thân” và tổ chức lễ cầu hồn, cầu siêu khắp các thánh thất, giáo đường, chùa chiền cho các nạn nhân vô tội.
Làm tại VN ngày 10 tháng 02 năm 2018, trong bầu khí áp Tết Mậu Tuất
Hội đồng Liên tôn Việt Nam đồng ký tên:
Cao đài :
- Chánh trị sự Hứa Phi (điện thoại: 0163.3273.240) - Chánh trị sự Nguyễn Kim Lân (điện thoại: 0988.971.117) - Chánh trị sự Nguyễn Bạch Phụng (điện thoại: 0988.477.719). - Thông sự Đoàn Công Danh (điện thoại: 0977.961.750)
Công giáo :
- Linh mục Ta-đê-ô Nguyễn Văn Lý (điện thoại: 0932211438) - Linh mục Phê-rô Phan Văn Lợi (điện thoại: 0984.236.371) - Linh mục Giu-se Đinh Hữu Thoại (điện thoại: 0935.569.205) - Linh mục Phao-lô Lê Xuân Lộc (điện thoại: 0122.596.9335) - Linh mục Giu-se Nguyễn Công Bình (điện thoại: 01692498463)
Phật giáo :
- Hòa thượng Thích Không Tánh (điện thoại: 0165.6789.881) - Thượng tọa Thích Từ Giáo (điên thoại: 0912.717.819) - Thượng tọa Thích Đồng Minh (điện thoại: 0933.738.591) - Thượng tọa Thích Vĩnh Phước (điện thoại: 0969.992.087) - Thượng tọa Thích Đức Minh (điện thoại: 0165.348.2276)
Phật giáo Hoà hảo :
- Ông Nguyễn Văn Điền (điện thoại: 0122.870.7160) - Ông Lê Quang Hiển (điện thoại: 0167.292.1234) - Ông Lê Văn Sóc (điện thoại: 096.4199.039) - Ông Phan Tấn Hòa (điện thoại: 0162.6301.082) - Ông Bùi Văn Luốc (điện thoại: 0169.612.9094) - Ông Hà Văn Duy Hồ (điện thoại 012.33.77.29.29). - Ông Trần Văn Quang (điện thoại 0169.303.22.77)
Tin lành :
- Mục sư Nguyễn Hoàng Hoa (điện thoại: 0121.9460.045) - Mục sư Nguyễn Mạnh Hùng (điện thoại: 0906.342.908) - Mục sư Đoàn Văn Diên (điện thoại: 01676923013 ) - Với sự hiệp thông của Mục sư Nguyễn Trung Tôn đang ở trong lao tù cộng sản.
Nhóm Linh mục Nguyễn Kim Điền đồng ký tên (đại diện):
- Linh mục Phê-rô Nguyễn Hữu Giải, Tổng Giáo phận Huế - Linh mục Ta-đê-ô Nguyễn Văn Lý, Tổng Giáo phận Huế. - Linh mục Phê-rô Phan Văn Lợi, Giáo phận Bắc Ninh. - Linh mục Giu-se Nguyễn Công Bình, Giáo phận Vinh.
Cùng hiệp thông:
Liên hiệp Hội thánh Em và Tín đồ Cao đài Tòa thánh Tây Ninh Hải ngoại:
- Cựu Chánh trị sự Bùi Văn Y, Trưởng ban Giám sát - Phạm Văn Đức, Trưởng ban Nội vụ - Sinh Cẩm Minh, Trưởng ban Ngoại vụ - Phó trị sự Trần Viết Hùng, Tổng thư ký
Ủy ban chống văn hóa Tôn giáo vận Cộng sản.
- Mục sư Nguyễn Công Chính, Chủ tịch - Nhân sĩ. Nguyễn Văn Tánh, Hội đồng giám sát. - Nhân sĩ Phan Kỳ Nhơn, Hội đồng giám sát. Oan hồn Mậu Thân trong thơ đao phủ Hoàng Phủ Ngọc Tường |
|
Những nội dung khác:
|
|